LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập tại trường, được sự phân công của khoa Quản lý
đất đai - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, dưới sự hướng dẫn
của cô giáo Th. s Thái Thị Lan Anh tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “Đánh
giá thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn xã Thụy Liên, huyện Thái
Thụy, tỉnh Thái Bình”.
Đến nay tôi đã hoàn thành đề tài, để có được kết quả này ngoài sự nỗ lực
của bản thân, sự động viên giúp đỡ của gia đình, bè bạn còn có sự giúp đỡ nhiệt
tình của các thầy cô trong khoa Quản lý đất đai – Đại học Tài nguyên và Môi
trường Hà Nội và tập thể cán bộ ban địa chính thuộc Ủy ban nhân dân xã Thụy
Liên đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
Với tấm lòng biết ơn vô hạn cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhất
tới các thầy cô trong khoa Quản lý đất đai – Đại học Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội, các bác, các anh, các chị cán bộ địa chính xã Thụy Liên, và nhất là cô
giáo Thái Thị Lan Anh đã góp ý kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt quá trình thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi
trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày … tháng … năm
2016
Sinh viên
Vũ Hải Yến
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11
12
13.
14
15
16
17.
3
Ký hiệu
TT
QH
CP
KTXH
ĐKĐĐ
ĐKQSD đất
GCN
GCNQSD đất
HĐND
NĐ - CP
TN&MT
TW
UBND
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là nơi dân cư tập trung
sinh sống và phát triển. Đất đai còn là nguồn sống của người dân, nó không
giống bất cứ tư liệu sản xuất nào nó cung cấp khoáng sản, cung cấp nguồn nước,
là không gian của sự sống và bảo tồn sự sống.
Luật đất đai năm 2013 tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và
do nhà nước thống nhất quản lý. Để đảm bảo tính thống nhất trong công tác
quản lý đất đai và bất động sản trên đất thì công tác đăng ký và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
(sau đây gọi tắt là GCN) phải được thực hiện nghiêm túc. Công tác này đảm
bảo sự thống nhất giúp cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư, sản xuất, xây
dựng các công trình, là cơ sở pháp lý để Nhà nước quản lý chặt chẽ nguồn tài
nguyên đất đai, từ đó khai thác tốt tiềm năng đất đai đem lại hiệu quả kinh tế
cao. Trên thực tế, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật quy định,
hướng dẫn việc cấp GCN. Tuy nhiên, công tác tổ chức cấp GCN chưa được thiết
lập chặt chẽ và còn tồn tại nhiều bất cập.
Xã Thụy Liên là một xã nằm cách trung tâm huyện Thái Thụy 4 km. Với vị trí
địa lý nằm trong khu vực gần trung tâm nên điều kiện phát triển những năm gần
đây xã đã có nhiều chuyển biến tích cực về mọi mặt như: kinh tế, giáo dục, y tế,
xã hội… Có nhiều dự án đã được nhà nước và các tổ chức đầu tư xây dựng để
nâng cao đời sống của nhân dân trong xã. Sự phát triển của nền kinh tế xã hội
kéo theo nhu cầu về nhà ở, về đất đai cũng tăng theo. Một trong những công cụ
quan trọng để quản lý và sử dụng quỹ đất một cách tiết kiệm và có hiệu quả, góp
phần hình thành và phát triển thị trường bất động sản đó là quản lý nhà nước về
cấp GCN nhằm quản lý đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất. Công tác này
có ý nghĩa thiết thực trong quản lý, đáp ứng được nguyện vọng của các chủ sử
dụng đất là được Nhà nước bảo hộ tài sản hợp pháp và thuận tiện trong các giao
5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐẾ NGHIÊN CỨU
1.1.Cơ sở khoa học
1.1.1. Các khái niệm
* Đăng ký đất đai là thủ tục hành chính bắt buộc do cơ quan nhà nước
thực hiện và được thực hiện với tất cả các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng
đất. Đăng ký đất đai là việc để thiết lập nên hệ thống hồ sơ địa chính đầy đủ nhất
cho tất cả các loại đất trong phạm vi địa giới hành chính để thực hiện cấp GCN
cho các đối tượng đủ điều kiện làm cơ sở để nhà nước quản chặt, nắm chắc đến
từng thửa đất và từng chủ sử dụng đất.
* GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý chứng nhận quyền sử dụng đất hợp
pháp của người sử dụng đất để họ yên tâm đầu tư, cải tạo và nâng cao hiệu quả
sử dụng đất.
1.1.2. Đặc điểm của công tác kê khai, đăng kí, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
Công tác kê khai, đăng ký, cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất có 3 đặc
điểm chính sau:
Đăng ký đất đai là một nội dung mang tính đặc thù của quản lý nhà nước về
đất đai:
Tính đặc thù được thể hiện qua các mặt sau:
Thứ nhất đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính bắt buộc đối với mọi
người sử dụng đất nhằm thiết lập mối quan hệ ràng buộc về pháp lý giữa nhà nước
và những người sử dụng đất cùng thi hành luật đất đai. Mặc dù mọi quốc gia, mọi
chế độ xã hội khác nhau trên thế giới có những hình thức sở hữu đất đai khác nhau
nhưng đều quy định bắt buộc người có đất sử dụng sử dụng phải đăng ký để chịu sự
quản lý thống nhất của nhà nước theo pháp luật.
Thứ hai đăng ký đất đai là công việc của bộ máy nhà nước của các cấp, do hệ
thống tổ chức ngành địa chính thực hiện, đây là công việc của bộ máy nhà nước đại
diện là ngành tài nguyên môi trường. Hội đồng nhân dân các cấp giám sát UBND
các cấp cùng thực hiện quản lý đất đai tại địa các địa phương. Chỉ có ngành địa chính
xã, phường, thị trấn.
Ở Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức thành bốn cấp: Trung ương,
tỉnh, huyện, xã. Trong đó cấp xã là đầu mối quan hệ tiếp xúc giữa nhà nước với nhân
8
dân, trực tiếp quản lý toàn bộ đất đai trong địa giới hành chính xã. Việc tổ chức đăng
ký đất theo phạm vi từng xã sẽ đảm bảo:
- Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người sử dụng đất thực hiện đăng ký đất đầy
đủ, thể hiện đúng bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa: “Nhà nước của dân, do
dân, vì dân”.
- Phát huy vai trò và sự hiểu biết về lịch sử, thực trạng tình hình sử dụng đất ở
địa phương của đội ngũ cán bộ xã, làm chỗ dựa tin cậy để các cấp có thẩm quyền xét
duyệt, đăng ký, cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
- Góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, nhận thức pháp luật đất đai cho cán
bộ xã.
- Giúp cán bộ địa chính xã nắm vững và khai thác có hiệu quả hệ thống hồ sơ
địa chính.
1.1.3.Vai trò của công tác kê khai, đăng kí, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất là công cụ bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất
đai.
- Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý.
Người sử dụng đất phải thực hiện việc đăng ký diện tích mình sử dụng với nhà
nước để nhà nước quản lý và bảo vệ khi bị tranh chấp, khiếu nại. Đồng thời
ngăn cấm các hành vi lấn chiếm, sử dụng đất kém hiệu quả. Giấy chứng nhận
quyền sử dụng là căn cứ pháp lý xác lập và bảo hộ quyền lợi hợp pháp của
người sử dụng đất như chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, tặng cho, cho thuê
quyền sử dụng đất, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Nhà nước bảo vệ
Đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nội dung quan trọng có
quan hệ hữu cơ với các nội dung quản lý nhà nước khác. Đăng ký cấp giấy
chứng nhận về đất đai sẽ thiết lập nên hồ sơ địa chính với đầy đủ các thông tin
cần thiết, các nội dung trong hồ sơ địa chính có quan hệ mật thiết với các nội
dung quản lý nhà nước về đất đai như:
- Xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng đất
đai.
- Công tác điều tra đo đạc.
- Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
10
- Công tác giao đất cho thuê đất.
- Công tác phân hạng và định giá đất.
- Công tác thanh tra và giải quyết các tranh chấp khiếu nại trong đất đai.
Ngoài ra hệ thống thông tin đất đai được xây dựng từ kết quả cấp giấy
chứng nhận sẽ được kết nối với hệ thống các cơ quan nhà nước có liên quan, với
hệ thống tổ chức tài chính, tín dụng, được đưa lên mạng thông tin điện tử để tổ
chức, cá nhân, doanh nghiệp có thể tìm hiểu thông tin đất đai một cách thuận lợi,
nhanh chóng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của xã hội. Hoàn thiện
công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không chỉ tạo tiền đề mà còn là
cơ sở để nhà nước triển khai và thực hiện tốt các nội dung của quản lý nhà nước
về đất đai. Hai công tác này cùng đồng thời thực hiện để đảm bảo cho việc quản
lý nhà nước về đất đai có hiệu quả và chính xác.
Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở bảo đảm cho thị
trường bất động sản phát triển bền vững. Với sự phát triển nền kinh tế như hiện
nay, đất đai trở thành một loại hàng hoá đặc biệt tham gia vào thị trường. Trước
đây nhà nước không cho phép việc chuyển nhượng trao đổi đất đai nhưng thực
tế các hoạt động này vẫn diễn ra dưới hình thức không công khai, hình thức mua
bán là trao tay quyền sử dụng đất, thiếu các yếu tố pháp lý. Từ đó đã hình thành
* Văn bản quy phạm pháp luật trước Luật đất đai 2003:
Tại điều 19 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1980 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên
trong lòng đất, ở vùng biển, thềm lục địa, các xí nghiệp,… cùng các tài sản khác
mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”. Công tác
đăng ký đất đai, cấp GCN, lập hồ sơ địa chính được Đảng và Nhà nước ta quan
tâm chỉ đạo thông qua hệ thống các văn bản Pháp luật sau:
- Ngày 01/07/1980, Chính phủ ra Quyết định số 201/QĐ-CP về việc thống
nhất quản lý ruộng đất theo quy hoạch và kế hoạch chung của cả nước.
- Ngày 05/11/1981, Tổng cụ quản lý ruộng đất ban hành Quyết định số
56/QĐ-ĐKTK quy định về trình tự cấp GCNQSDĐ.
- Ngày 08/01/1988, Luật đất đai đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ra đời. Tại điều 9 nêu rõ: “ Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ
địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất thống kê, kiểm kê cấp GCNQSDĐ”
đây là một trong 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Cùng ngày, Hội đồng
Bộ Trưởng ( nay là Chính Phủ) ra chỉ thị số 67/CT về một số việc cần triển khai
để thi hành Luật đất đai năm 1988. Trong khoản 2, điều 6 nêu rõ: “Chỉ đạo hoàn
12
thành việc đo đạc, phân hạng và đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nận quyền sử dụng đất, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”.
- Ngày 23/03/1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 30/HD về
việc thi hành Luật đất đai, tại điều 4 chương I có nêu rõ: “ Người đang sử dụng
đất hợp pháp là người được cấp GCNQSDĐ”.
Để phù hợp với nền kinh tế - xã hội trong hoàn cảnh mới, Hiến pháp năm
1992 được ban hành và trong đó một lần nữa khảng định: “ Đất đai, rừng núi,
sông, hồ, nguồn nước,… cùng các tài sản khác mà Pháp luật quy định là của
Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”. Trên cơ sở đó, Luật đất đai năm 1993 đã
được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 17/07/1993. Trong đó khẳng định công
- Quyết định số 24/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về GCNQSDĐ.
- Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn về lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu
tiền sử dụng đất, trong đó quy định cụ thể hóa Luật Đất đai, về thu tiền sử dụng
đất khi cấp giấy chứng nhận.
- Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính
phủ về thu tiền sử dụng đất.
- Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV ngày 31/12/2004 của
Bộ tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ
quyền hạn và tổ chức của VPĐKQSDĐ và tổ chức phát triển quỹ đất.
- Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/04/2005 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định sô 181/2004/NĐCP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai.
- Thông tư số 30/2005/TT-BTC-BTNMT ngày 18/04/2005 của lien Bộ Tài
chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về việc luân chuyển hồ sơ của
người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính.
- Thông tư số 04/2005/TT-BTNMT ngày 18/07/2005 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện các biện pháp quản lý, sử dụng đất sau khi
sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông, lâm trường quốc doanh. Trong đó có
14
hướng dẫn rà soát, cấp GCNQSDĐ cho các nông, lâm trường quốc doanh sau
khi sắp xếp lại.
- Thông tư số 95/2005/TT-BTC ngày 26/10/2005 của Bộ Tài chính hướng
dẫn các quy định của pháp luật về lệ phí trước bạ.
- Chỉ thị số 05/2006/CT-TTg ngày 22/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc khắc phục những yếu kém, sai phạm, tiếp tục đẩy mạnh tổ chức thi hành
và Môi trường về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường bổ sung về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
* Văn bản quy phạm pháp luật theo Luật đất đai 2013:
Bên cạnh tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; quy định cụ thể hóa các quyền nghĩa
vụ của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất, bổ
sung các quy định về điều tra, đánh giá đất đai để Nhà nước nắm chắc qũy đất cả
về số lượng, chất lượng để sử dụng hợp lý, hiệu quả . Luật Đất đai năm 2013 đã
bổ sung những nội dung cơ bản trong việc điều tra, đánh giá về tài nguyên đất
đai, nhằm khắc phục bất cập hiện nay mà Luật Đất đai năm 2003 chưa có quy
định cụ thể; bổ sung những quy định quan trọng trong nguyên tắc lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất, nhằm khắc phục khó khăn khi lập quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất; bổ sung và quy định rõ quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của người dân
trong vùng quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt,
nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của Luật đất đai;
- Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về hồ sơ địa chính;
16
- Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT về bản đồ địa chính (Có hiệu lực từ
05/07/2014).
về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
- Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
- Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu kinh tế;
- Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
- Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua
nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
- Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các
thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất
quyền sử dụng đất hiện có;
- Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.”
1.2.3. Điều kiện và thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Tại điều 100 – Luật đất đai 2013 về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình,
cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất :
* Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được UBND xã,
phường, thị trấn xác nhận không có tranh chập mà có một trong các loại giấy tờ
sau đây thì được cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
+ Những giấy tờ về quyền sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do
cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền
Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
+ GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tạm thời
do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng
đất, sổ địa chính.
+ Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn
liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
+ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất
ở trước ngày 15 tháng10 năm 1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác
pháp luật.
* Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1 trên đây nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm
1993 đến trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, nay được
19
UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là không có tranh chấp, phù hợp với
QHSDĐ đã được xét duyệt với nơi đã có QHSDĐ thì được cấp GCN QSDĐ,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và phải nộp tiền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật.
* Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được nhà nước giao đất, cho
thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày luật này có hiệu lực thi
hành mà chưa được cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tà sản khác gắn
liền với đất thì được cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo
quy định của pháp luật.
* Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền,
miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất khi có các điều kiện sau đây:
+ Có đơn đề nghị xin cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất;
+ Được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận là đất dùng chung
cho cộng đồng và không có tranh chấp.
- Cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho
các tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất.
Tại điều 102 Luật đất đai 2013: [ không căn chỉnh được cho đều dòng]
* Tổ chức đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
ưquyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích đất
sử dụng đúng mục đích.
“Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho
người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn
liền với đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.
Giấy chứng nhận là kết quả của quá trình tổ chức đăng ký đất đai lần dầu.
Giấy chứng nhận hiện nay đang tồn tại 4 loại:
- Loại thứ nhất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo luật
đất đai 1988 do Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phát
21
hành theo mẫu quy định tại Quyết định 201/QĐ/ĐK ngày 14/07/1989 của Tổng
cục quản lý ruộng đất để cấp cho đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở nông thôn.
- Loại thứ hai: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng
đất ở tại đo thu được cấp theo Luật Đất đai 1993, do Bộ Xây dựng phát hành
theo mẫu quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05/07/1994.Giấy chứng nhận có
2 loại màu: Giấy chứng nhận có màu hồng giao cho chủ sử dụng đất và giấy
chứng nhận màu xanh lưu tại Sở địa chính (nay là Sở Tài Nguyên và Môi
Trường) trực thuộc.
- Loại thứ ba: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo Luật
Đất đai 2003, mẫu giấy theo Quyết Định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày
01/11/2004 và Quyết Định số 08/QĐ-BTNMT ngày 02/08/2007 sửa đổi Quyết
Định số 24/2004/QĐ-BTNMT. Giấy chứng nhận có hai loại màu: giấy chứng
nhận có màu đỏ cấp cho chủ sử dụng đất và giấy chứng nhận màu trắng lưu tại
Phòng Tài Nguyên và Môi Trường.
- Loại thứ tư: Giấy chứng nhận được cấp theo Nghị định số 88/2009/NĐCP ngày 19/10/2009 và Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009
được gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất. Giấy chứng nhận do Bộ Tài Nguyên và Môi Trường phát
hành theo một mẫu thống nhất và được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với
mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với
đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên
và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ.
1.3.
Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Tình hình công tác cấp GCN ở Việt Nam từ khi thực hiện Luật đất
đai năm 2013
Để công tác quản lý đất đai phù hợp với tình hình mới, Luật đất đai năm 2013
đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá XI , kỳ họp
thứ 4 thông qua, có hiệu lực từ ngày 1/7/2014 thay thế cho Luật đất đai năm
1988, 2001, 2003. Luật đất đai 2013 cũng khẳng định rõ: "Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu", Luật đất đai 2013 cũng quy định rõ
13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Từ khi Luật đất đai năm 2013 ra đời, cùng với việc hoàn thiện tổ chức bộ Nhà
máy quản lý tài nguyên - môi trường tới cấp xã, các cấp địa phương trong cả
nước đã có tổ chức các VPĐKQSDĐ, trung tâm phát triển quỹ đất nên các
nguồn thu từ đất tăng lên rõ rệt giúp địa phương tháo gỡ những khó khăn và phát
24
hiện những điều chưa hoàn thiện trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Tuy nhiên vẫn có một số sai phạm cần khắc phục và sửa chữa như: Sai
phạm về trình tự thủ tục cấp giấy, về đối tượng cấp giấy, sai về diện tích, sai về
nguồn gốc đất...
1.3.2. Tình hình đăng ký cấp giấy chứng nhận quyến sử dụng đất trên địa
bàn tỉnh Thái Bình.
Cùng với cả nước, tỉnh Thái Bình đã và đang quan tâm nhiều tới lĩnh vực