DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
UBND
BTNMT
GCN
CT
CP
CV
QĐ
NĐ
TT
TTg
TW
VPĐKQSDĐ
QSDĐ
ĐKDĐ
CHXHCN
Uỷ ban nhân dân
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
Giấy chứng nhận
Chỉ thị
Chính Phủ
Công văn
Quyết Định
Nghị Định
Thông Tư
Thủ Tướng
giáo trong trường nói chung và khoa Quản Lý Đất Đai nói riêng em đã trang bị
kiến thức cơ bản về chuyên môn cũng như lối sống, tạo cho em hành trang vững
chắc trong cuộc sống này.
Xuất phát từ lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành
gửi lời cám ơn tới ban giám hiệu trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường,
ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Đất Đai và toàn thể các quý thầy cô, đã dạy và
hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập tại trường. Đặc biệt để hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em còn được
sự quan tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình của cô giáo Th.S Trần Thị Oanh – người
đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đề tài này.
Qua đây, em cũng xin trân trọng cám ớn tới toàn thể các chú, các cô, các
chị tại UBND thị trấn Cát Bà đã giúp đỡ em hoàn thành khóe luận tốt nghiệp
này.
Cuối cùng, em kính chúc các thầy cô và toàn thể các chú, các cô, các chị
tại UBND thị trấn Cát Bà luôn luôn mạnh khỏe, công tác tốt, có một năm đầy
may mắn và thành công.
MỞ ĐẦU
1. Tình hình cấp thiết của đề tài
Khái niệm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý,
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho “người sử dụng đất” nhằm mục
đích bảo đảm quyền của người sử dụng đất hợp pháp và quản lý chặt chẽ quỹ
đất. [1]
Đất đai được sử dụng hầu hết trong tất cả các ngành sản xuất, các lĩnh vực
của đời sống. Theo từng ngành sản xuất, lĩnh vực của đời sống, đất đai phân
thành các loại khác nhau và tên gọi theo ngành, lĩnh vực sử dụng chúng. [1]
Đất đai, nhà ở là yếu tố quyết định sự tồn tại của loài người, nó gắn bó
mật thiết với mọi ngành kinh tế, mọi nhu cầu của đời sống xã hội. Đất đai cùng
với các điều kiện tự nhiên khác là một trong những cơ sở quan trọng nhất để
quan hệ xã hội bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mọi tổ chức cá nhân. [1]
Cát Bà là thị trấn huyện lị và một đô thị du lịch của huyện đảo Cát Hải,
thành phố Hải Phòng, Việt Nam. Thị trấn nằm ở đông nam của đảo Cát Bà,
trông ra vịnh Lan Hạ và có ranh giới trên bộ và trên biển ở phía tây với xã Trân
Châu và ranh giới trên biển ở phía bắc với xã Việt Hải. Thị trấn Cát Bà hiện nay
được hình thành vào ngày 23 tháng 4 năm 1988 trên cơ sở thị trấn Cát Bà cũ và
một số phần lãnh thổ của xã Trân Châu. Thị trấn có diện tích 59,2 km² và dân số
là khoảng 8392 người, mật độ cư dân là 141,8 người/km². Thị trấn được chia
thành 20 tổ dân phố.
Để đảm bảo quản lý Nhà nước về đất đai một cách hợp lý và hiệu quả,
thị trấn Cát Bà đã xác định đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất là nội dung quan trọng để
nâng cao trách nhiệm quản lý và bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng. Thực tế
thời gian thị trấn đã chú trọng công tác tuyên truyền, vận động và tạo điều kiện
để người dân thực hiện các thủ tục hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền khác trên đất. Nhận thức được
vai trò của đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận sử dụng đất, cũng như sự cần
5
thiết hoàn thiện hơn của công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất trên cả nước nói chung và thị trấn Cát Bà nói riêng. Em chọn đề tài: “
Đánh giá thực trạng công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ở thị trấn Cát
Bà – huyện Cát Hải – Thành phố Hải Phòng ”
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
2.1 Mục đích
- Đi sâu vào thực tế và áp dụng kiến thức để có cái nhìn tổng quan hơn về vấn
đề đăng ký đất đia, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn Cát Bà
1.1.1 Đăng ký đất đai
1.1.1.1 Khái niệm đăng ký đất đai
Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính do cơ quan Nhà nước thực hiện
đối với các đối tượng là các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất, bởi nó
thực hiện đăng ký đối với đất đai - một loại tài sản đặc biệt có giá trị và gắn bó
mật thiết với mọi tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong quá trình sản xuất và đời
sống. [2]
1.1.1.2 Vai trò của công tác đăng ký đất đai
- Đăng ký đất đai là công cụ của Nhà nước đảm bảo lợi ích Nhà nước,
cộng đồng dân như quản lý nguồn thuế, Nhà nước với vai trò trung gian tiến
hành cân bằng lợi ích giữa các chủ thể, bố trí cho mục đích sử dụng đất tố nhất.
[2]
- Cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Bảo vệ hợp pháp và
giám sát nghĩa vụ theo quy định của pháp luật để đảm bảo lợi ích chung của toàn
xã hội. Vì vậy đăng ký đất đai với vai trò thiết lập hệ thống thông tin về đất đai
sẽ là công cụ giúp Nhà nước quản lý. [2]
- Đăng ký đất đai để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ nguồn tài
nguyên đất. Biết mục đích sử dụng, từ đó điều chỉnh hợp lý các thông tin hồ sơ
địa chính,hồ sơ địa chính cung cấp tên chủ sử dụng, diên tích, vị trí, hình thể,
góc cạnh, thời hạn sử dụng đất, mục đích sử dụng, những rang buộc thay đổi
trong quá trình sử dụng và quản lý của những thay đổi này. [2]
8
1.1.1.3 Hình thức đăng ký đất đai
Có hai hình thức đăng ký là đăng ký tự nguyện và đăng ký bắt buộc. Theo
quy mô và mức độ phức tạp của công việc về đăng ký đất trong từng thời kỳ,
đăng ký đất được chia thành hai giai đoạn :
tư, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thực hiện các quyền, nghĩa vụ sử
dụng đất theo pháp luật. Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử
dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, GCN
chính là cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất của
chủ sử dụng. GCN có vai trò rất quan trọng, nó là các căn cứ để xây dựng các
quy định về đăng ký, theo dõi biến động đất đai, kiểm soát giao dịch dân sự về
đất đai, các thẩm quyền và trình tự giải quyết các tranh chấp đất đai, xác định
nghĩa vụ về tài chính của người sử dụng đất, đền bù thiệt hại về đất đai, xủ lý vi
phạm về đất đai. [1]
1.1.4 Sự cần thiết phải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất
Đối với nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý. Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu
dài và mọi người sử dụng đất đều phải tiến hành đắng ký quyền sử dụng đất.
Đây là một yêu cầu bắt buộc phải thực hiện đối với mọi đối tượng sử dụng đất
trong các trường hợp như: đang sử dụng đất chưa đăng ký, mới được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất, thay đổi mục đích sử dụng đất đã đăng ký. Chúng ta phải
thực hiện việc đăng ký và cấp GCN bởi vì:
- GCN là cơ sở để bẻo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai [1]
Bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai thực chất là bảo vệ lợi ích hợp
pháp của người sử dụng đất, đồng thời giám sát họ thực hiện các nghĩa vụ khi sử
dụng đất đúng theo pháp luật nhằm đảm bải sự công bằng giữa các lợi ích trong
việc sử dụng đất. Thông qua việc đăng ký và cấp GCN, cho phép xác lập một sự
ràng buộc về trách nhiệm pháp lý giữa cơ quan Nhà nước và những người sử
dụng đất đai trong việc chấp hành luật đất đai. Đồng thời, việc đăng ký và cấp
10
GCN sẽ cung cấp thông tin đầy đủ nhất và làm cơ sở pháp lý để Nhà nước xác
định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được Nhà nước bảo vệ khi xảy ra
thúc đẩy sự phát triển của thị trường này.
- Cấp GCN là một nội dung quan trọng có quan hệ hữu cơ với các nội
dung, nhiệm vụ khác của quản lý Nhà nước đất đai. [1]
Việc xây dựng các văn bản pháp quy về quản lý, sử dụng đất phải dựa trên
thực tế của các hoạt động quản lý sử dụng đất, trong đó việc cấp GCN là một cơ
sở quan trọng. Ngược lại, các văn bản pháp quy lại là cơ sở pháp lý cho việc cấp
GCN đúng thủ tục, đúng đối tượng, đúng quyền và nghĩa vụ sử dụng đất. Đối
với công tác điều tra đo đạc: Kết quả điều tra đo đạc là cơ sở khoa học cho việc
xác định vị trí, hình thể, kích thước, diện tích, loại đất và tên chủ suw3r dụng
thực tế để phục vụ yêu cầu tổ chức cấp GCN.
Đối với công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Trước hết kết quả
của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động gián tiếp đến công tác cấp
GCN thông qua việc giao đất. Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chính là căn
cứ cho việc giao đất, mặt khác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến việc cấp GCN vì nó cung cấp thông tin cho việc xác minh
những mảnh đất có nguồn gốc không rõ rang.
Công tác giao đất, cho thuê đất: Quyết định giao đất cho thuê đất của Chính
phủ hoặc UBND các cấp có thẩm quyền là cơ sở pháp lý cao nhất để xác định
quyền hợp pháp của người sử dụng đất khi đăng ký.
Công tác phân hạng đất và định giá đất: Dựa trên kết quả phân hạng và
định giá đất để xác định trách nhiệm tài chính của người sử dụng đất trước và
sau khi đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong quá trình sử dụng
đất của họ.
Đối với công tác thanh tra, giải quyết tranh chấp đất: Nó giúp việc xác
định đúng đối tượng được đăng ký, xử lý triệt để những tồn tại do lịch sử để lại,
tránh được tình trạng sử dụng đất ngoài sự quản lý của Nhà nước.
12
Ngày 14/07/1989 Tổng cục quản lý ruộng dất ban hành quyết định số
201/QĐ-ĐKTK về việc ban hành quy định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Từ khi có Luật đất đai năm 1988 công tác quản lý đất đai đã từng bước đi
vào ổn định. Trong giai đoạn này công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất được cấp theo một loại giấy thống nhất trong cả nước.
Sau 5 năm đổi mới Hiến pháp năm 1992 ra đời khẳng định: “ Đất đai,
rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở nguồn
biển, thềm lục địa và vùng trời,.. đều thuộc sở hữu toàn dân. Luât đất đai 1993 ra
đời và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai năm 1993 được Quốc hội
khóa IX thông qua ngày 02/12/1998 và Quốc hội khóa X thông qua ngày
29/06/2001.
- Nghị định số 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ về việc giao đất
nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài vào mục đích
sản suất nông nghiệp.
- Nghị định số 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ về cấp giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất đô thị.
- Thông tư số 346/TT-TCĐC ngày 16/03/1998 của Tổng cục địa chính,
hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập
hồ sơ địa chính.
- Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 19/03/1998 của Tổng cục địa chính
hướng dẫn các thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
lập hồ sơ địa chính thay cho thông tư 346/TT-TCĐC ngày 13/03/1998.
- Thông tư liên tịch số 1442/TTLT-TCĐCC-BTC ngày 21/09/1999 của Bộ
tài chính và Tổng cục địa chính hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo chỉ thị 18/1999/CT-TTg
14
quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
+ Thông tư số 09/2007/TT-BTN&MT ngày 02/08/2007 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường dẫn tập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
+ Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ quy định bổ
sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư.
+ Nghị định số 88/ NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất.
+ Thông tư số 17/2009/TT-BTN&MT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
1.2.2 Những quy định chung về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1.2.2.1 Đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất.
Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính do chính cơ quan Nhà nước
thực hiện đối với các đối tượng là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất.
Việc đăng ký quyền sử dụng được thực hiện tại văn phòng đăng ký sử
dụng đất trong các trường hợp sau:
- Đăng ký ban đầu được thực hiện đối với các trường hợp sau:
+ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
+ Người đang sử dụng đất mà các thửa đất chưa được cấp giấy chứng
nhận.
- Đăng ký biến động quyền sử dụng được thực hiện đối với người sử dụng
đất có thay đổi về sử dụng đất với những trường hợp chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh.
17
Theo điều 48 của Luật đất đai 2003 và Quyết định 24/2004/QĐBTN&MT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì giấy chứng nhận sử dụng đất được cấp
cho sử dụng đất theo mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất, cấp
theo từng thửa đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành.
+ Mẫu thứ 4: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành, mẫu
giấy theo Nghị định 88/CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ.
a. Những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:
- Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất (trừ trường hợp thuê đất
nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn);
- Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm
1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Người đang sử dụng đất theo quy định Điều 50 và Điều 51 của Luật đất
đai 2003 mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng
cho quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế
chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ; tổ chức sử dụng đất là
pháp nhân mới được hình thành do các bên góp bằng quyền sử dụng đất;
- Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định Tòa án nhân dân,
quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh
chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
19
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ
cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993
theo quy định của Chính phủ.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy
tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng
đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của
Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công
nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo
quy định của pháp luật.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà
chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực
hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu,
am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của
Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có
dụng đúng mục đích.
21
2. Phần diện tích đất mà tổ chức đang sử dụng nhưng không được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất được giải quyết như sau:
a) Nhà nước thu hồi phần diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng
mục đích, cho mượn, cho thuê trái pháp luật, diện tích đất để bị lấn, bị chiếm;
b) Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đã sử dụng làm đất ở cho Ủy ban
nhân dân cấp huyện để quản lý; trường hợp đất ở phù hợp với quy hoạch sử
dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì người sử dụng
đất ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất; trường hợp doanh nghiệp nhà nước sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã được Nhà nước giao đất
mà doanh nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng một phần quỹ đất làm đất
ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì phải lập phương án bố trí lại diện tích đất
ở thành khu dân cư trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất phê duyệt trước
khi bàn giao cho địa phương quản lý.
3. Đối với tổ chức đang sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước cho thuê
đất quy định tại Điều 56 của Luật này thì cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh làm
thủ tục ký hợp đồng thuê đất trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
4. Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện
sau đây:
a) Được Nhà nước cho phép hoạt động;
b) Không có tranh chấp;
c) Không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho sau ngày 01
định 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2004 [8]
1. Hộ gia đình, cá nhân nộp tại UBND xã, thị trấn nơi có đất 1 bộ hồ sơ
gồm có:
a) Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
23
b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2
và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có).
c) Văn bản ủy quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có).
2. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:
a) UBND xã, thị trấn có trách nhiệm thẩm tra, xác nhận vào đơn xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất về tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất;
trường hợp người đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy
định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thẩm tra, xác nhận về
nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa
đất, sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt; công bố công khai
danh sách các trường hợp đủ điều kiện và không đủ điều kiện cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất tại trụ sở UBND xã, thị trấn trong thời gian 15 ngày;
xem xét các ý kiến đóng góp đối với các trường hợp xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; gửi hồ sơ đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc
phòng TN&MT.
b) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; xác
nhận vào đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp đủ
điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ghi ý kiến đối với trường
hợp không đủ điều kiện; trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì làm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa
đất đối với nơi chưa có bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính; gửi số liệu
địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp
người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;
nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Từ khi Luật đất đai năm 2003 ra đời, cùng với việc hoàn thiện tổ chức bộ
Nhà máy quản lý tài nguyên – môi trường tới cấp xã, các cấp địa phương trong
cả nước đã tổ chức các VPĐKQSDĐ, trung tâm phát triển quỹ đất nên các
nguồn thu từ đất tăng lên rõ rệt giúp địa phương tháo gỡ những khó khăn và phát
25