1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------
Đề tài môn Nghiệp Vụ Ngân hàng Thương Mại
TÁI CẤU TRÚC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI HIỆU QUẢ
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM
GV:
Cô Trần Thị Xuân Hương
Thực hiện:
Nhóm 9
Thành viên:
Bùi Thị Thủy Dương
Lê Thị Khá
Lê Thị Na
Đào Mỹ Loan
Trương Nhân Nghĩa
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2016
2
3
vỡ toàn hệ thống rất lớn, và lan truyền rộng khắp còn gọi là hiện tượng Domino. Chính vì
vậy tái cơ cấu hệ thống NHTM đòi hỏi phải thực hiện một cách quyết liệt.
- Hai là, tái cơ cấu hệ thống NHTM là chương trình mang tầm cỡ quốc gia: Như trên đã
đề cập về tầm ảnh hưởng của hệ hống NHTM đối với nền kinh tế xã hội của một quốc
gia, vì vậy tái cơ cấu hệ thống ngân hàng không chỉ liên quan đến riêng ngành ngân hàng
mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác. Nếu chỉ để riêng hệ thống ngân hàng tái cấu
trúc thì sẽ không đạt mục tiêu đề ra. Như vậy, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng phải đảm
bảo có sự tham gia, phối hợp tích cực, hiệu quả của nhiều cơ quan quản lý nhà nước.
1.3 Lý do tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
Lý do thứ nhất để thực hiện tái cấu trúc hệ thống NHTM khi hệ thống ngân hàng
phát sinh những vấn đề bất ổn và có nguy cơ đẩy hệ thống NHTM rơi vào khủng hoảng
kéo theo nguy cơ khủng hoảng kinh tế - xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng
hoảng có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống. Trong trường hợp này tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng là nhằm hồi sinh hệ thống NHTM. Những dấu hiệu cho thấy hệ thống NHTM
có bất ổn trầm trọng cần phải thực hiện tái cấu trúc nhằm hồi sinh:
+ Khủng hoảng kinh tế kéo dài, môi trường kinh doanh của ngân hàng xấu đi dẫn
đến các mặt hoạt động của ngân hàng kém hiệu quả, nợ xấu gia tăng, tỷ lệ an toàn vốn
giảm sút. Khi nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng cao, nguy cơ mất vốn của ngân hàng
ngày càng lớn. Hệ thống NHTM có nguy cơ mất thanh khoản, rủi ro vỡ nợ ngày càng
lớn, hệ thống ngân hàng suy yếu, đe dọa sự bất ổn cho cả nền kinh tế, xã hội của một
quốc gia, thậm chí cả khu vực.Trong bối cảnh đó niềm tin của các chủ thể trong nền kinh
tế xã hội và hệ thống ngân hàng giảm sút và ảnh hưởng ngược lại cho chính các ngân
hàng. Vòng xoáy đó ngày càng lan rộng, hướng giải quyết duy nhất là tái cấu trúc hệ
thống NHTM.
+ Khuôn khổ giám sát và quản lý yếu: Khi khuôn khổ giám sát của chính phủ,
ngân hàng trung ương chưa hoàn thiện, nhiều khe hở. Khuôn khổ giám sát kém cộng
mua bán nợ, chuyển nợ thành vốn góp, ...
+ Tăng quy mô và chất lượng vốn tự có của các NHTM. Ngân hàng là loại hình
kinh doanh đặc biệt – kinh doanh ở lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, vốn tự có chỉ chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh nhưng vốn tự có có ý nghĩa rất lớn đối với sự
tồn tại và phát triển của NHTM vì nó không chỉ là yếu tố tạo nền tảng cho hoạt động của
5
ngân hàng, bảo bảo đảm sự an toàn cho ngân hàng trước những rủi ro không lường trước
mà còn duy trì niềm tin với khách hàng và điều chỉnh hoạt động của ngân hàng, cụ thể:
o
Tạo nền tảng cho hoạt động của NHTM: Vốn tự có là nguồn vốn dài hạn để đầu tư
cho văn phòng, thiết bị, công nghệ. Mặt khác nó còn là nguồn vốn để góp vốn,
mua cổ phần của các công ty khác hoặc thành lập các công ty trực thuộc (cho thuê
o
tài chính, bảo hiểm, công ty chứng khoán, …).
Bảo đảm sự an toàn cho NHTM: Vốn tự có là nguồn bù đắp các tổn thất khi có rủi
ro trong cho vay và đầu tư; kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán; rủi ro hoạt động, …
mà không có nguồn bù đắp. Vì vậy, mặc dù không thể thay thế cho việc quản trị
điều hành kém hiệu quả nhưng vốn tự có của ngân hàng cần thiết như là “tấm
đệm”, tăng khả năng của ngân hàng trong việc chống đỡ những rủi ro không dự
o
tính trước được.
Duy trì niềm tin và điều chỉnh hoạt động của NHTM: Vốn tự có một mặt tạo niềm
triển và giảm các chi nhánh, điểm giao dịch hoạt động kém hiệu quả.
+ Thứ hai, tái cấu trúc về nhân sự
Nguồn nhân lực ở bất cứ ngân hàng nào là lợi thế so sánh quan trọng vì
chính con người là yếu tố“động nhất” trong mọi quá trình sản xuất. Nguồn nhân lực
của NHTM được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu cơ bản là số lượng lao động và chất
lượng nguồn nhân lực.
- Số lượng lao động: là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh nguồn nhân lực của một
NHTM. Nếu số lượng lao động hợp lý ở mỗi chi nhánh, mỗi điểm giao dịch thì sẽ tạo
điều kiện thuận lợi đểmởrộng các hoạt động kinh doanh cho các chi nhánh và toàn bộ
hệ thống NHTM.
- Chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực của một ngân hàng được
đánh giá qua các chỉ tiêu: trình độ học vấn; trình độngoại ngữ; trình độ tin học; các
kỹ năng mềm như giao tiếp, thuyết trình, năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh,
tinh thần trách nhiệm, sự nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm chuyên môn.
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tốquan trọng góp phần trong quá trình chực hiện
việc nâng cao năng lực tài chính của NHTM. Nguồn nhân lực đồng đều và chất lượng
sẽgiúp triển khai các hoạt động kinh doanh nhanh chóng và hiệu quả, ngăn ngừa, hạn
chế được các rủi ro trong hoạt động về quy trình, nghiệp vụ và pháp lý. Vì vậy, không
những trong lĩnh vực tài chính mà hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế đều xem chất
lượng nhân sự là yếu tố quyết định. Đặc biệt, bộ máy quản trị ngân hàng cấp cao lại
7
càng phải có chất lượng vì đây là bộ phận “đầu não” trong việc xây dựng, hoạch
định và giám sát thực thi các chiến lược ở cả hệ thống NHTM.
+ Thứ ba, tái cấu trúc về công nghệ
Công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là trong
thời kỳ hội nhập, sự cạnh tranh khốc liệt của các ngân hàng mạnh trên thế giới. Theo
quy luật, ngân hàng yếu sẽ bị thất bại, ngân hàng mạnh sẽ giành thế chủ động trên
cấu trúc NHTM, nội dung về hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động ngân hàng được
xem như một tất yếu.
Các nội dung cơ bản khi tiến hành tái cấu trúc tổ chức và quản lý NHTM:
- Rà soát và tái cấu trúc bộ máy tổ chức sao cho vừa tinh gọn vừa đảm bảo thực
hiện hoạt động của ngân hàng được tiến hành thông suốt, hiệu quả, phòng ngừa rủi ro
hữu hiệu.
- Phân tách giữa chức năng điều hành và chức năng giám sát để đảm bảo sự kiểm
tra toàn diện và cân bằng về nguồn lực.
1.4.3 Tái cấu trúc hệ thống quản trị:
Các NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt với đặc thù là tổchức kinh doanh “tiền”
nên có độrủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn đối với hệthống tài chính và toán bộ
nền kinh tế. Chính vì vậy, quản trịcông ty đối với NHTM càng có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng.
Vấn đề quản trị công ty đối với hoạt động của các NHTM đã được Ủy ban
Basel ban hành năm 1999, sửa đổi năm 2006, bao gồm 14 nguyên tắc cơ bản và chia
thành sáu nhóm:
+ Bốn nguyên tắc đầu tiên quy định rõ trách nhiệm chung, trình độnăng lực, thông
lệ và cơ cấu riêng của Hội đồng quản trị cũng như cấu trúc công ty.
+ Nguyên tắc thứ 5 quy định ban điều hành phải đảm bảo tất cả các hoạt động của
công ty phải phù hợp với chiến lược kinh doanh, mức độ chấp nhận và chính sách rủi
ro đã được Hội đồng quản trị phê duyệt.
+ Các nguyên tắc từ 6 đến 9 yêu cầu doanh nghiệp phải thiết lập các hệ thống kiểm
soát nội bộvà quản trị rủi ro hiệu quả. Các rủi ro cần phải được phát hiện, theo dõi
trên phạm vi toàn hệ thống, và cụ thể cho từng bộ phận kinh doanh. Doanh nghiệp cần
có mạnh lưới truyền thông nội bộ đối với các rủi ro, Hội đồng quản trị và ban điều
9
hành phải sử dụng kết quả làm việc của bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên
10
Là ngân hàng do cá thể thành lập bằng vốn của cá nhân. Loại ngân hàng này
thường nhỏ, phạm vi hoạt động thường là trong từng địa phương và thường gắn liền với
doanh nghiệp và cá nhân ở địa phương.
+ Ngân hàng thuộc sở hữu của các cổ đông (Ngân hàng thương mại cổ phần)
Ngân hàng này được thành lập thông qua phát hành cổphiếu, việc nắm giữ các
cổphiếu cho phép người sở hữu có quyền tham gia quyết định các hoạt động của ngân
hàng, tham gia chia cổtức từthu nhập của ngân hàng đồng thời phải chịu tổn thất có
thểxảy ra. Các ngân hàng cổphần có khảnăng huy động vốn nhanh, quy mô lớn, vì vậy
các NHTMCP thường là các ngân hàng lớn và có phạm vi hoạt động rộng, đa năng, có
nhiều chi nhánh hoặc công ty con.
+ Ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước
Đây là loại hình ngân hàng mà vốn sở hữu do nhà nước cấp. Các ngân hàng này
thường được thành lập nhằm thực hiện một sốmục tiêu nhất định của chính phủ. Các
NHTM thuộc sở hữu công thường được nhà nước hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh phát
hành giấy nợ, do vậy rất ít khi bịphá sản. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các ngân
hàng này phải thực hiện các chính sách của nhà nước có thể dẫn đến những bất lợi trong
hoạt động kinh doanh của mình.
+ Ngân hàng liên doanh
Ngân hàng này được hình thành trên góp vốn của hai hay nhiều bên, thường là
giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng lợi thế của nhau.
Hiện nay sự chuyển biến về sở hữu trong ngành ngân hàng gắn chặt với quá trình cải
cách hệ thống ngân hàng. Ở hầu hết các quốc gia, quá trình này diễn ra theo các hướng
chính là tư nhân hóa, quốc hữu hóa hay sáp nhập, mua lại và cổ phần hóa. Việc thay đổi
cấu trúc sở hữu sẽ hỗ trợ nguồn vốn cho hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh, tạo
điều kiện trao đổi kinh nghiệm, nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ giữa các đối
tác, giúp các ngân hàng tăng vốn đáp ứng theo yêu cầu của Chính phủ từ đó góp phần
nâng cao khả năng cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển hiệu quả, bền vững cho hệ thống
này. Xu hướng chung tại các quốc gia, việc sắp xếp lại hệ thống ngân hàng
thuộc vào loại hiệu suất được xem xét. Ở hướng tiếp cận theo hiệu quả X (X –
Efficiency), các công ty hiệu quả hơn thường đạt được lợi nhuận cao và thị phần lớn hơn,
bởi vì họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu ra nào. Đối với
hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô, mối quan hệ được mô tả ở trên được giải thích dựa
12
trên quy mô. Các ngân hàng lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao
hơn là nhờ vào tính kinh tế theo quy mô.
Bên cạnh 2 lý thuyết trên, lý thuyết về danh mục đầu từ cân bằng cũng đã được sử
dụng để cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn trong việc nghiên cứu về khả năng sinh lợi của
ngân hàng (Nzogang và Atemnkeng, 2006). Lý thuyết này cho rằng, nhà đầu tư có thể tối
thiểu hóa rủi ro thị trường cho một mức lợi nhuận kỳ vọng thông qua việc tạo ra danh
mục đầu tư đa dạng hóa. Theo đó, việc đa dạng hóa danh mục đầu tư và các thành phần
danh mục đầu tư mong muốn của các NHTM là kết quả của các quyết định của ban quản
trị ngân hàng.
Như vậy có thể thấy lý thuyết MP cho rằng , khả năng sinh lợi của ngân hàng là
một hàm theo các yếu tố thị trường , trong khi lý thuyết ES và lý thuyết danh mục đầu tư
lại cho rằng hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng của hiệu quả nội bộ, và các quyết
định quản trị, tức các yếu tố bên trong. Các yếu tố bên trong dựa trên nền tảng khung
phân tích CAMELS và bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo mẫu IMF.
•
Khung phân tích CAMELS:
Hiện nay việc phân tích tình hình hoạt động và rủi ro của một ngân hàng thường
được thực hiện bằng khung phân tích CAMELS. CAMELS đã được áp dụng từ những
năm 1970, là hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình ngân hàng của Mỹ bao gồm 6 yếu tố:
Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy), Chất lượng tài sản có (Asset Quality), Quản lý
một quốc gia có thể đã không còn hợp thời và đang cần thiết lập lại,
giống như trong trường hợp của nhiều quốc gia đang phát triển và tất
cả các quốc gia chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang
kinh tế thị trường. Các sức mạnh bên ngoài, ví dụ như sự rớt giá của
hàng hóa dịch vụ xuất khẩu chính, có thể kích thích hay góp phần
làm tệ hơn cuộc khủng hoảng.
Trong một cuộc khủng hoảng ngân hàng, những người gửi tiền,
những người vay tiền và các cổ đông (owners) của ngân hàng đều
mất niềm tin và họ đồng thời tìm cách đề thu hồi vốn của họ bằng
cách rút tiền ra. Một ngân hàng đơn lẻ có thể không thất bại với
những ảnh hưởng mang tính quốc gia, nhưng khi có liên quan đến
một lượng tiền gửi với quy mô mô lớn trong một hệ thống ngân hàng
quốc gia, vấn đề sẽ trở thành hệ thống và gây tê liệt cho nền kinh tế.
Chính phủ không có lựa chọn và phải hành động, và giải pháp có sẵn
trong khủng hoảng là thắt chặt và tiết kiệm hơn.
Các quốc gia sử dụng nhiều phương pháp để giải quyết khủng hoảng
ngân hàng, với những mức độ thành công khác nhau. Tác giả của bài
nghiên cứu đã phân tích kinh nghiệm của 24 quốc gia đi đầu trong
việc sửa đổi vào những năm 1980 và những năm đầu thập niên 90: 4
quốc gia công nghiệp, 15 quốc gia đang pháp triển và 5 quốc gia
trong quá trình chuyển đổi sang định hướng thị trường.
2.
The effect of
Mergers
and
Acquisition
on
Financial
Performance of
banks – A survey
Asian
banking
systems:
Integrating DEA
with SFA (SocioEconomic
Planning
Sciences, Volume
43,
Issue
4,
December 2009,
Pages 240–252)
4.
Cost
and
Effectiveness of
Banking Sector
Restructuring in
Transition
Economies
hoạt động M&A lên khả năng sinh lợi. Nghiên cứu này thống kê tất
cả 14 ngân hàng có hoạt động M&A trong giai đoạn từ 2000 – 2014.
Dữ liệu được thu thập bằng việc sử dụng bảng câu hỏi bao gồm câu
hỏi mở và đóng. Tác giả sử dụng phần mềm SPSS để phân tích các
dữ liệu thu thập được. Nghiên cứu tìm thấy rằng hoạt động M&A làm
gia tăng giá trị cổ đông của các ngân hàng có hoạt động M&A ở
Kenya. Nghiên cứu còn phát hiện ra lý do chính tại sao hầu hết các
ngân hàng có hoạt động M&A có thể gia tăng khả năng sinh lợi của
họ. Tác giả khuyến nghị rằng những nghiên cứu hoàn toàn khả thi
liberalisation,
Bài báo đánh giá sự tác động của thay đổi trong quản trị ngân hàng
crisis,
and trong hoạt động ngân hàng cho 1 ví dụ về hoạt động các ngân hàng
restructuring: A thương mại ở Đông Nam Á giữa 1990 và 2003. Chúng tôi nhận thấy
15
comparative
study of bank
performance and
bank governance
in South East
Asia (Journal of
Banking
&
Finance, Volume
29, Issues 8–9,
August–
September 2005,
Pages
2119–
2154)
6. Exploring the
nexus
between
banking
sector
reform
tài chính, Cuộc Khủng hoảng châu Á và các chương trình tái cấu trúc
ngân hàng. Để giải quyết tình cảnh khó khăn về tài chính, chính
quyền các nước đông nam á thực thi chương trình cổ phần hóa liên
ngân hàng và sự gia nhập mở rộng cho chủ sở hữu nước ngoài. Kết
quả hướng tới hỗ trợ việc cổ phần hóa ngân hàng và bãi bỏ sở hữu
nhà nước trong toàn bộ nền kinh tế. Chúng tôi đề nghị lợi ích tiềm
năng cho chủ sở hữu nước ngoài có lẽ mất lâu hơn để nhận ra. Đối
với các ngân hàng tư nhân trong nước, sự thách thức là cải thiện hiệu
quả ngân hàng
Tác giả: Sophocles N. Brissimis & Manthos D. Delis & Nikolaos I.
Papanikolaou)
Mục đích của nghiên cứu ngày là để xem xét mối quan hệ giữa cải
cách lĩnh vực ngân hàng và hoạt độn ngân hàng – phạm vi hiệu quả,
tất cả yếu tố gia tăng năng suất và biên lãi suất ròng – xem xét sự ảnh
hưởng thông qua cạnh tranh và chấp nhận rủi ro ngân hàng. Để kết
thúc nghiên cứu này, chúng tôi phát triển một mô hình theo kinh
nghiệm của sự hoạt động ngân hàng, điều này được ước tính một
cách phù hợp bằng cảch sử dụng kỹ thuật kinh tế lượng mới.
Mô hình được áp dụng dữ diệu bảng ngân hàng từ 10 quốc gia vừa
được gia nhập EU. Kết quả chỉ ra rằng cả cải cách lĩnh vực ngân
hàng và sự cạnh tranh dùng một sự tác động tích cực trong hiệu quả
ngân hàng, trong khi hiệu quả của sự cải cách trong tất cả các yếu tố
tăng trưởng năng suất đáng kể chỉ hướng tới kết thúc quá trình cải
cách.
Cuối cùng, sự ảnh hưởng của vốn và rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng là một trong những trường hợp tiêu cực trong khi nó có vẻ
rằng tài sản có tính thanh khoản cao hơn giảm sự hiệu quả và năng
suất của các ngân hàng.
Các tổ chức, tùy thuộc vào bản chất của các doanh nghiệp, cấu trúc
của chúng, và quy mô sử dụng các chiến lược khác nhau để đạt được
bảng. Nghiên cứu kết luận rằng cơ cấu lại các ngân hàng dẫn đến cải
thiện hiệu suất của các ngân hàng. Nghiên cứu này đã có một số hạn
chế như: số lượng hạn chế của người tham gia và một số người được
hỏi không đưa ra thông tin được coi là bí mật dẫn đến người được hỏi
đưa ra thông tin không đáng tin cậy.Nghiên cứu này có nghĩa là có
một mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và hiệu suất của các ngân
hàng. Đối với chuyển dịch cơ cấu là một thành công, quản lý cần
phải có những nhu cầu của người lao động và mối quan tâm trong
việc hoạch định và thực hiện chiến lược
4. THỰC TIỄN TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ NƯƠC
Tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng là một xu thế khách quan trên thế giới. Những cuộc
khủng hoảng tài chính trong lịch sử hiện đại đã cho thấy, cần thiết phải khôi phục các điều kiện
tài chính ổn định mới hỗ trợ kinh tế phát triển. Tái cơ cấu ngân hàng không là hành động đơn lẻ
của một lĩnh vực, mà là một phần phát triển của khu vực tài chính và vừa là động lực, vừa là yêu
17
cầu trong quan hệ biện chứng với các lĩnh vực kinh tế khác trong quá trình chuyển đổi cơ cấu
kinh tế.
•
Hoạt động sáp nhập và mua lại cùng với xử lý nợ xấu ngân hàng
Hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng (nhỏ cũng như lớn) đã diễn ra từ lâu trên thế
giới, nhất là ở Mỹ trong giai đoạn 1966-2008. 5 thương vụ mua, bán ngân hàng lớn nhất thế giới
đã diễn trong vòng gần 10 năm nay như: Ngân hàng Barclays mua lại ABN AMRO với giá 91 tỷ
USD; Bank of America mua lại Merrill Lynch trong thương vụ trị giá 50 tỷ USD. Ngân hàng
thị trường, nhất là thị trường chứng khoán, bất động sản, tiếp theo là thương mại lâm vào trì trệ,
khủng hoảng, chưa kể đến những hệ lụy to lớn của những vấn đề xã hội nảy sinh. Vì vậy, các
quốc gia đều phải đề ra các biện pháp cơ cấu ngân hàng với nhiều phương pháp khác nhau và
được gọi chung là giải cứu nền kinh tế. Năm 2008, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết
định chi 700 tỉ USD là một điển hình. Một phần để mua lại nợ xấu NHTM, một phần dùng để
giải quyết thanh khoản tạm thời cho những tổ chức tài chính yếu kém, phần lớn để mua cổ phiếu
ưu đãi của các ngân hàng (cổ phiếu ưu đãi được hưởng mức cổ tức cố định, không phụ thuộc vào
khả năng sinh lời, người nắm giữ không có quyền tham gia vào việc điều hành).
•
Phân loại sức khỏe ngân hàng
Để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, Hàn Quốc đưa ra chương trình rà soát theo chuẩn
quốc tế, phân loại những mầm mống nguy hiểm nhất. Bộ khung tiêu chí được sử dụng để "khám
sức khỏe" hệ thống ngân hàng tạm gọi là PCA (Prompt Corective Actiosn) với những nội dung
xoay quanh hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng.
Nhóm những ngân hàng tệ nhất không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn vềan toàn vốn theo
Basel I (CAR 8%) bị buộc chấm dứt hoạt động độc lập, sáp nhập với ngân hàng có tình hình tài
chính tốt hơn. Với nhóm ngân hàng thứ hai, dù hệ số CAR 8% nhưng có khả năng phục hồi,
được yêu cầu sáp nhập với nhau.
Những ngân hàng có tình hình tài chính tốt cũng được khuyến khích sáp nhập để hình
thành ngân hàng mới có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả hơn, cung cấp đa dạng các dịch vụ và
đủ sức phát triển trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng quyết liệt.
Cũng từ đây, số lượng ngân hàng Hàn Quốc sau tái cấu trúc đã giảm 40%, từ 33 ngân
hàng (năm 1997) xuống còn 19 ngân hàng (năm 2002) nhưng quy mô vốn, chất lượng tài sản
trên bảng cân đối kế toán, năng lực cạnh tranh và khả năng sinh lợi được gia tăng rõ rệt.
Tiếp theo đó, Chính phủ Hàn Quốc có một loạt động thái cải tổ chính sách nhằm hướng tới gia
tăng sức mạnh và tính hiệu quả cho ngành ngân hàng.
•
tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 1-3-2012 phê duyệt Đề án tái cơ cấu hệ
thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 (gọi tắt là Đề án 254), nhờ đó, hệ thống các TCTD của
Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Đề án đã đặt ra một lộ trình phù hợp, với những biện pháp quyết liệt, mạnh mẽ, giải quyết
được những vấn đề cấp bách của quá trình tái cơ cấu, đồng thời đặt tiền đề cho sự phát triển an
toàn, bền vững của cả hệ thống lâu dài. Qua đó, quá trình tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015 đã giải
quyết kịp thời vấn đề thiếu thanh khoản hệ thống; xử lý các TCTD yếu kém nhưng vẫn đảm bảo
an toàn của hệ thống với mức tổn thất và chi phí thấp nhất cho ngân sách Nhà nước; tạo nền tảng
trụ cột cho hệ thống ngân hàng hoạt động bình thường, xử lý tốt nợ xấu.
20
Kết quả cụ thể của 4 năm triển khai đề án tái cơ cấu là giảm được 17 TCTD, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài thông qua mua bán và sáp nhập (M&A), rút giấy phép, giải thể; tỷ lệ nợ
xấu đến cuối năm 2015 chỉ còn khoảng 2,72%; mặt bằng lãi suất cho vay đã được đưa về mức 79%/năm từ mức 25-35%/năm của năm 2011; thanh khoản thông suốt, thị trường vàng được sắp
xếp lại và ổn định.
•
Chủ trương và chính sách triển khai tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Sau Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa XI), việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương
mại (NHTM) được đặt ra và có lộ trình cụ thể. Cuối năm 2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
đã đưa ra 4 mục tiêu của tái cơ cấu hệ thống ngân hàng bao gồm: (i) Lành mạnh hóa hệ thống
ngân hàng; (ii) Nâng cao năng lực cạnh tranh cho hệ thống ngân hàng; (iii) Cấu trúc lại cơ cấu
hoạt động của hệ thống ngân hàng; (iv) Hệ thống ngân hàng phải hội nhập và có sức cạnh tranh
với quốc tế.
Tiếp đó, ngày 01/03/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Ðề án cơ cấu lại hệ thống tổ
chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011-2015 kèm theo Quyết định 254/QÐ-TTg. Ðây được xem
là một nỗ lực về mặt pháp lý quan trọng nhất cho tới nay trong việc tái cấu trúc hệ thống ngân
là các thông tư thay thế Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 quy định về các tỷ lệ đảm
bảo an toàn trong hoạt động của TCTD và Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 về
việc ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của TCTD. Theo Ðề án cơ cấu lại các TCTD giai đoạn 2011-2015, thì
cuối năm 2015, TCTD phải đạt mức vốn tự có đủ để bù đắp rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và
rủi ro tác nghiệp theo quy định của Basel II.
•
Kết quả thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011-2015
Nhìn lại giai đoạn 2011-2015, việc thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã đạt được
những kết quả nhất định. Năm 2012, NHNN đã thực hiện phân loại các NHTM thành các nhóm
để ấn định mức rủi ro, cụ thể:
- Nhóm thứ 1: Các ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh có năng lực và quy mô đủ lớn để
tiếp tục phát triển thành những ngân hàng trụ cột, đủ sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Ước
tính có khoảng 15 ngân hàng loại này, chiếm khoảng 80% thị phần hoạt động của cả hệ thống
ngân hàng.
- Nhóm thứ 2: Các ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh nhưng có quy mô nhỏ, không có
nhu cầu hoặc không có điều kiện phát triển quy mô cao hơn nữa. NHNN sẽ có quy định đảm bảo
giám sát chặt chẽ cũng như phân khúc thị trường để đảm bảo cho các ngân hàng này hoạt động
hiệu quả.
22
- Nhóm thứ 3: Ngân hàng đang có tình hình tài chính khó khăn cần phải cấu trúc lại. NHNN sẽ
tham gia giám sát chặt chẽ, yêu cầu các ngân hàng tham gia mua cổ phần, tham gia vào quản trị
điều hành và cơ cấu lại các khoản mục đầu tư; mua lại hoặc hợp nhất, sáp nhập nếu cần.
Năm 2012, NHNN tập trung củng cố thanh khoản hệ thống ngân hàng, lành mạnh hóa
hoạt động tài chính của các NHTM mà trọng tâm là xử lý nợ xấu và minh bạch hóa tài chính và
mạnh ở tầm khu vực và vươn tay cánh tay cho mọi thị trường trên cả nước. BIDV cũng tham gia
hỗ trợ cho NHNN “làm bà đỡ” thực thi thương vụ sáp nhập đầu tiên giữa ba tổ chức trong hệ
thống nhà băng vào cuối 2011, khởi lên làn sóng M&A để tái cấu trúc mạnh mẽ…
Từ năm 2012 đến năm 2015, hệ thống NHTM và TCTD đã giảm bớt 5 NHTM cổ phần
thông qua hoạt động sáp nhập, hợp nhất (Đệ Nhất, Tín Nghĩa, Nhà Hà Nội, Phương Tây, Đại Á)
và NHNN đã mua lại 3 NHTM cổ phần (VNCB, OceanBank và GPBank). Đồng thời, hai công
ty tài chính đã được hợp nhất, giải thể; một công ty cho thuê tài chính bị rút giấy phép; một công
ty tài chính đã được NHNN ủng hộ chủ trương bán lại cho tổ chức khác. Hiện hệ thống ngân
hàng Việt Nam có một NHTM nhà nước (Agribank), 37 ngân hàng TMCP (kể cả 3 NHTM đã bị
NHNN mua lại với giá 0 đồng), 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh, 1
ngân hàng chính sách và 1 ngân hàng hợp tác xã.
Một số TCTD phi ngân hàng quá yếu kém, chi phí cơ cấu lại quá lớn so với lợi ích đem
lại từ việc duy trì hoạt động đang được tiếp tục rà soát, đánh giá và xem xét xử lý. Một số tập
đoàn và tổng công ty nhà nước đang trong quá trình đàm phán bán lại công ty tài chính cho nhà
đầu tư khác. Những TCTD phi ngân hàng hoạt động bình thường cũng đang triển khai cơ cấu lại
theo Quyết định số 254/QĐ-TTg để nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả kinh doanh và năng lực
cạnh tranh…
Nhìn chung, quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD được thực hiện theo đúng Đề án đã
được phê duyệt, với những kết quả cụ thể: Hệ thống NHTM đã ngày càng cải thiện được tính
thanh khoản, đẩy lùi nguy cơ đổ vỡ; Giảm sở hữu chéo trong hệ thống NHTM, giúp các ngân
hàng tăng sức cạnh tranh trên thương trường; Số dư tiền gửi của TCTD tại NHNN luôn cao hơn
so với yêu cầu dự trữ bắt buộc.
Bên cạnh đó, phải kể đến sự cải thiện đáng kể của hệ thống pháp lý, tạo “đường ray” thúc
đẩy quá trình tái cơ cấu đi nhanh và đúng hướng, đồng thời, mở rộng “cửa” hơn cho các nhà đầu
tư nước ngoài. Để hỗ trợ cho quá trình cơ cấu lại các TCTD và bảo đảm cho các TCTD hoạt
động an toàn, lành mạnh, Chính phủ và NHNN đã ban hành thêm các văn bản như: Nghị định số
01/2013/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của TCTD Việt Nam; Quyết định số
48/2013/QĐ-TTg ngày 1/8/2013 quy định về việc góp vốn, mua cổ phần bắt buộc của TCTD
được kiểm soát đặc biệt; các Thông tư của NHNN bao gồm các quy định về phân loại nợ, trích
lập và sử dụng dự phòng rủi ro (Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013); kiểm soát,
ý kiến cho rằng, với tăng trưởng tín dụng cao thì tổng dư nợ, trong đó có nợ xấu cũng sẽ tăng
tương ứng. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức tín dụng, ngân hàng và người đi vay thực hiện phương
thức đáo hạn, đảo nợ, xử lý, tái cơ cấu lại nợ để chuyển từ nợ quá hạn thành chưa đến hạn, từ nợ
25
xấu thành nợ chưa xấu lắm. Qua nhiều lần tái cơ cấu và đảo nợ như vậy, những khoản nợ thuộc
nhóm nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý có nguy cơ “bục” ra thành nợ xấu trong giai đoạn tiếp theo.
Bên cạnh những “nút thắt” về nợ xấu, sở hữu chéo, hệ thống ngân hàng và các TCTD của
Việt Nam vẫn còn nhiều điều khiến người trong cuộc “ngao ngán” như quy mô nhỏ lẻ, thông tin
thiếu minh bạch, hệ thống quản trị rủi ro cũng như công nghệ còn yếu kém… Theo đánh giá gần
đây của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),
năng lực quản trị rủi ro, năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn thuộc nhóm
yếu trong khu vực. Trong khi nhiều ngân hàng trên thế giới đã áp dụng tiêu chuẩn quản trị rủi ro
Basel III thì các ngân hàng của Việt Nam vẫn đang loay hoay để lên Basel II.
5. GIẢI PHÁP RÚT RA VÀ BÀI HỌC:
Tập trung xử lý dứt điểm các TCTD yếu kém, trong đó cho phép áp dụng các biện pháp
mạnh bao gồm cả biện pháp can thiệp của Nhà nước. Tiếp tục khuyến khích, đẩy mạnh M&A
theo nguyên tắc tự nguyện giữa các TCTD; khuyến khích, tạo điều kiện cho các TCTD nước
ngoài có năng lực tham gia cơ cấu lại các TCTD Việt Nam. Với quy mô nền kinh tế như Việt
Nam chỉ cần 15-17 ngân hàng hoạt động là vừa đủ. Các ngân hàng yếu kém phải được nhận diện
một cách minh bạch, hoặc tăng vốn hoặc M&A với ngân hàng mạnh. Đặc biệt, nếu việc duy trì
các ngân hàng nhỏ, ngân hàng yếu, ngân hàng “0 đồng” với chi phí lớn, hiệu quả mang lại không
cao thì nên “thanh lý” hoặc bán từng phần, toàn phần cho ngân hàng khác.
Kiểm soát và xử lý hiệu quả vấn đề sở hữu chéo, cổ đông lớn chi phối; đẩy mạnh thoái
vốn đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro, kém hiệu quả, đặc biệt các ngành, lĩnh vực phi tài chính.
Thanh tra, giám sát ngân hàng cần được tăng cường, phải có sự huấn luyện kỹ càng hơn
nữa. Đặc biệt, phương pháp thanh tra, giám sát phải thay đổi, hiện ở Việt Nam, việc thanh tra vẫn
dừng ở mức thanh tra tuân thủ, Việt Nam cần đẩy mạnh mô hình thanh tra, giám sát theo mô hình