LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những nhu cầu sinh lý cơ bản của con người là nhu cầu ăn uống. Khi xã hội
chưa phát triển thì người ta chỉ cần ăn no, ăn đủ nhưng bây giờ khi xã hội phát triển thì
ăn uống không chỉ là nhu cầu cơ bản mà còn là thú vui, sở thích và thể hiện đẳng cấp
địa vị của mỗi người. Do đó để đáp ứng nhu cầu ăn uống không ngừng nâng cao của
con người thì ngành dịch vụ ăn uống cũng phát triển theo với sự đa dạng về số lượng
cũng như chất lượng. Đặc biệt là đồ ăn bình dân. Các nhà hàng bình dân tăng lên một
cách nhanh chóng bởi cơm bình dân thuận tiện và phù hợp với nhiều tầng lớp và bộ
phận khác nhau . Thật dễ dàng để có thể tìm được một cơ sở kinh doanh dịch vụ đồ ăn
bình dân, nhất là trong các thành phố lớn.
Hiểu rõ được sự cần thiết của đồ ăn bình dân đối với mọi người trong xã hội trong cuộc
sống hiện đại, các cơ sở kinh doanh dịch vụ này không ngừng đưa ra các chiến lược,
các giải pháp để phát triển dịch vụ. Khách hàng mục tiêu của loại hình kinh doanh này
phần lớn là học sinh, sinh viên, công nhân viên… Xác định đúng đối tượng khách hàng
mục tiêu đã khó song để chinh phục trái tim khách hàng còn khó hơn nhiều và cần cả
một chặng đường dài. Kinh doanh dịch vụ ăn uống bình dân ngày càng thu được lợi
nhuận cao. Tuy nhiên không phải cơ sở kinh doanh nào cũng đạt được kết quả như
mong muốn bởi vì kinh doanh trong lĩnh vực nào cũng vậy, các cơ sở phải có cách quản
lý và phương thức kinh doanh riêng thì mới có thể vừa làm vừa lòng khách hàng, vừa
thu được lợi nhuận. Chính vì vậy, việc quản lý tốt “ Cầu” của mình là một việc quan
trọng mà các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống phải thực hiện.
Với đề tài “ Phân tích thực trạng quản lý cầu dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng bình
dân trên địa bàn Hà Nội”, chúng tôi hi vọng sẽ giúp các bạn phần nào hiểu thêm được
về thực trạng, những ưu, nhược điểm, một số giải pháp trong việc quản lý cầu dịch vụ
ăn uống tại các nhà hàng bình dân.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về quản lý cầu dịch vụ
1.1. Sự phát triển và đặc điểm của nhu cầu và cầu dịch vụ
1.1.1. Khái niệm và sự phát triển của nhu cầu và cầu dịch vụ
1.1.1.1. Khái niệm và sự phát triển của nhu cầu dịch vụ
- Khái niệm : Nhu cầu là trạng thái tâm lí thiếu hụt về vật chất hoặc tinh thần của con
-
Thời gian rảnh rỗi của con người ngày càng nhiều (do năng suất lao động tăng)
nên họ ngày càng quan tâm đến dịch vụ.
-
Thu nhập có xu hướng tăng nên con người hướng đến thỏa mãn nhu cầu của tinh
thần. Do đó, nhận thức của con người về dịch vụ cũng tăng lên.
-
Sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ đã góp phần tạo ra rất nhiều
sản phẩm mới, dịch vụ mới.
-
Sự phát triển về kinh tế xã hội đòi hỏi phải cung ứng dịch vụ nhiều hơn. Do đó,
dịch vụ phát triển nhanh chóng.
Ý nghĩa : Nhu cầu và cầu dịch vụ phát triển rất nhanh chóng. Vấn đề đặt ra là cung
cũng phải phát triển để đáp ứng được nhu cầu đó. Điều này đòi hỏi nhà quản trị phải
không ngừng nghiên cứu nắm bắt tâm lí của khách hàng để nghiên cứu, phát minh ra
loại dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Nhu cầu và cầu có tính vô hạn, không có điểm dừng cuối cùng.
Biểu hiện : Nhu cầu và cầu về hàng hóa mang tính hữu hạn nhưng nhu cầu về nhu
cầu về dịch vụ là vô hạn. Nhu cầu về dịch vụ mang tính vô hạn, không có điểm
dừng và ngày càng đòi hỏi cao hơn khi thu nhập của con người tăng.
Mặt khác, nhận thức và kỳ vọng của con người về dịch vụ là khác nhau. Nhận thức
nhỏ hơn kỳ vọng thì làm cho dịch vụ không ngừng phát triển.
Nguyên nhân : Do con người bao giờ cũng có nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu đòi
hỏi mang tính đồng bộ, tổng hợp.
Ý nghĩa : Các cơ sở cung ứng dịch vụ cần phối hợp, liên kết với nhau để thiết kế loại
hình dịch vụ trọn gói, thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
Tính thời vụ, thời điểm :
Biểu hiện : Nhu cầu và cầu dịch vụ tập trung vào một số thời điểm nhất định.
Nguyên nhân :
-
Do thời gian rảnh rỗi của con người.
-
Do sở thích, thị hiếu, tập quán tiêu dung dịch vụ của con người.
-
Do thời tiết khí hậu.
Ý nghĩa : Các nhà quản trị kinh doanh dịch vụ phải hạn chế tính thời điểm thời vụ
của nhu cầu và cầu dịch vụ. Một số phương pháp có thể sử dụng là các chiến lược,
chính sách về giá, khuyến mại để hạ thấp tính thời vụ, điều chỉnh thời vụ sang trái
vụ.
Tính linh hoạt cao (dễ bị thay đổi) :
Biểu hiện : Nhu cầu và cầu về dịch vụ dễ bị thay đổi, thay thế bởi các dịch vụ khác.
Đặc biệt là khi không đáp ứng được thỏa mãn ngay vì dịch vụ có tính vô hình.
Nguyên nhân : Dịch vụ không có hình thù, kiểu dáng nên rất dễ bị tác động bởi các
yếu tố khách quan bên ngoài nên dễ bị thay đổi.
chất lượng dịch vụ, mong đợi của khách hàng lại được xem như là ước mong hay ý
muốn của khách hàng, là những gì mà họ cảm thấy người cung cấp dịch vụ phải
thực hiện chứ không phải là sẽ thực hiện. Mong đợi của khách hàng và chất lượng
dịch vụ có mối quan hệ chặt chẽ.
- Các mong đợi về dịch vụ của khách hàng
Về bản chất, khách hàng muốn những mong đợi của họ được đáp ứng một cách
hoàn toàn và nhất quán. Khách hàng có xu hướng cảm nhận về chất lượng của sản
phẩm và dịch vụ bằng phép so sánh sản phẩm/ dịch vụ thực tế mà họ nhận được với
những mong đợi mà họ có trước khi mua sắm chúng.
Khách hàng mong muốn nhận được giá trị trong sản phẩm dịch vụ mà họ mua hoặc
sử dụng. Khi có nhu cầu về dịch vụ, khách hàng luôn mong đợi 1 dịch vụ hoàn hảo,
giá trị có thể được nhìn thấy một cách rất đơn giản là có được dịch vụ nhanh hơn, tốt
hơn và rẻ hơn
- Các mức độ mong đợi dịch vụ của khách hàng
Các mong đợi dịch vụ của khách hàng gồm 2 mức độ:
+ Mong đợi dịch vụ ở mức độ cao là mức độ dịch vụ mà khách hàng hy vọng nhận
được, thường gắn với thị trường dịch vụ nói chung
+ Mong đợi dịch vụ ở mức thấp là mức độ dịch vụ mà khách hàng chấp nhận nhận
được, thướng gắn với dịch vụ của từng nhà cung ứng cụ thể
- Các nguồn thông tin hình thành mong đợi dịch vụ của khách hàng
Sự mong đợi dịch vụ của khách hàng được xác định dựa trên 4 nguồn thông tin,
trong đó yếu tố thông tin truyền miệng là quan trong nhất. Hoạt động khuếch trương
quảng cáo do cơ sở dịch vụ tiến hanhfneen nằm trong sự kiểm soát về chi phí quảng
cáo, nhân sự...của cơ sở
1.2.1.2. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhu cầu dịch vụ của
khách hàng
- Thu nhập cá nhân
- Giá cả sản phẩm dịch vụ
- Phong tục tập quán tiêu dùng
+ Linh hoạt thay đổi phương pháp kinh doanh cho phù hợp với khách hàng
+ Khuyến khích nhân viên giao tiếp với khách hàng, tạo mối quan hệ thân thiện
+ Biến nhu cầu gián đoạn thành nhu cầu liên tục
+ Khuyến khích vật chất với những khách hàng trung thành
1.2.2.2. Quản lý cầu tiềm năng
- Mục đích: thu hút thêm khách hàng mới
- Giải pháp:
+ Tăng cướng hoạt động xúc tiến quảng bá
+ Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ
+ Áp dụng chính sách giá cả hợp lý
+ Sử dụng hệ thống đặt hàng trước/ đăng ký trước
+ Thực hiện chiến dịch khuyến mại hợp lý và có hiệu quả để kích cầu
+ Áp dụng các biện pháp quản lý hàng chờ phù hợp
CHƯƠNG 2: Thực trạng quản lý cầu dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng bình dân
trên điạ bàn Hà Nội
2.1. Giới thiệu về hệ thống nhà hàng bình dân trên địa bàn Hà Nội
Nhà hàng bình dân là thuật ngữ dùng để miêu tả về những bữa ăn đại trà trong
đó món ăn chủ đạo là từ cơm được phục vụ tại các nhà hàng, quán, tiệm cơm bình dân
có giá cả thấp hơn so với các nhà hàng, quán ăn khác. Nhà hàng bình dân hình thành từ
lâu đời và là một nét văn hóa của người Việt bình dân. Các nhà hàng bình dân ở Hà Nội
thường gọi theo tên các chủ quán hay những đặc điểm khác thường.
Nhà hàng bình dân là những cơ sở chế biến và bán các sản phẩm ăn uống với kỹ
thuật và công nghệ đơn giản, phục vụ nhu cầu ăn uống phổ thông của khách, giá bán
phù hợp với khả năng thanh toán của đại bộ phận dân cư, chủ yếu cho các đối tượng có
thu nhập thấp hoặc vì công việc nên không thể dùng bữa tại gia đình như sinh viên, học
sinh, nhân viên, những người xa nhà hoặc cô lao công, bác tài xế,… Nhà hàng bình dân
có vẻ ngoài giản dị, đơn sơ nhưng bên trong quán rất tươm tất và sạch sẽ với những bộ
bàn ghế được sắp xếp rất gọn gàng. Nhờ vậy nên cho dù nhà hàng không rộng lắm
tỷ trọng lớn thì với loại hình nhà hàng này, cầu về ăn uống là chủ yếu. Cầu về ăn uống
được chú trọng hơn, người ta chú ý đến cầu về hàng hóa ở đây là các món ăn hơn là
hình thức. Thông thường nhu cầu về dịch vụ ở mức đảm bào một nhà hàng đủ ''ấm
cúng'', có chỗ trông xe và đặc biệt tối thiểu phải sạch sẽ. Bên cạnh đó, dịch vụ nhà hàng
bình dân cũng phát triển nhanh chóng với sự phát triển của nền kinh tế. Cuộc sống con
người diễn ra nhanh hơn, nhu cầu của con người từ đó cũng thay đổi. Thay vì những
bữa cơm ở nhà thì nhiều người cùng gia đình, bạn bè, khách hàng đến những nhà hàng
bình dân để thưởng thức những món ăn mới mà ở nhà khó có khả năng chế biến, thực
hiện.
-Cũng như các loại hình cầu về dịch vụ khác, cầu về ăn uống tại các nhà hàng
bình dân cũng rất đa dạng, phong phú. Mặc dù nhìn chung, đây là loại hình thông
thường dành cho tầng lớp trung lưu nhưng thực tế, cầu về loại hình này mở rộng cho
các thành phần với các mức thu nhập khác nhau. Đây là sự lựa chọn của đại đa số người
dân Hà Nội do đó cầu về dịch vụ này cũng phân thành nhiều mức khác nhau. Cùng là
bình dân nhưng đó có thể là những quán ăn vỉa hè dành cho người có thu nhập thấp hay
những nhà hàng khang trang hơn. Đối với những người thu nhập thấp thông thường cầu
của họ đơn giản hơn, cầu về hàng hóa (thức ăn,đồ uống) là chủ yếu, cầu về dịch vụ ở
mức thấp. Không chỉ đa dạng về chủng loại mà còn phong phú về chất lượng hàng hóa
dịch vụ. Do nhu cầu của mỗi cá nhân là khác nhau,và kể cả giống nhau là đều cầu về
một món ăn nào đó thì mức độ yêu cầu mà họ cần đáp ứng là cũng khác nhau. Vì vậy,
cầu dịch vụ ăn uống ở các nhà hàng bình dân cũng có tính vô hạn.
-Cầu về ăn uống tại các nhà hàng bình dân dễ bị thay đổi, hay cầu có tính linh
hoạt cao. Điều này ta thấy rất rõ vì nhu cầu con người dễ dàng bị thay thế, thay đổi. Khi
đã gọi thực đơn, nếu thức ăn chưa được đưa ra ta vẫn có thể thay đổi dễ dàng. Điều này
có thể là khó với các nhà hàng cao cấp còn đối với nhà hàng bình dân, họ sản xuất với
số lượng lớn nên sự thay đổi của khách hàng dễ hơn. Hay ngay cả khi quyết định đi một
nhà hàng nào đó. Do sẽ không phải đặt chỗ trước như nhà hàng cao cấp dẫn đến tình
trạng khó thay đổi địa điểm còn với loại hình nhà hàng bình dân, khách hàng có thể rất
dễ, kể cả khi đến tận nhà hàng, khách hàng vẫn có thể rời quán.
-Cầu dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng bình dân trên địa bàn Hà Nội có biên độ
Khách hàng ở đây chủ yếu là các khách liên quan tới công việc, sinh viên
có khả năng chi trả thấp, hoặc hạn chế trong việc chi trả nên mục đích mong đợi
dịch vụ ở đây chỉ là ăn uống đủ chất dinh dưỡng, an toàn vệ sinh thực phẩm và
giá cả phù hợp với chất lượng.
Đối với những khách hàng cao cấp
Khách hàng của nhà hàng ở đây chủ yếu là khách du lịch, những người
này họ có khả năng chi trả cao. Hơn nữa mục đích đi du lịch chủ yếu là để tận
hưởng, tham quan và nghỉ dưỡng. Do đó họ đòi hỏi một dịch vụ cao hơn ở nhà.
Họ mong đợi được hưởng một chất lượng dịch vụ cao về thẩm mỹ, về không
gian, cơ sở vật chất nhà hàng, về chất lượng món ăn thức uống, về thái độ và khả
năng phục vụ của nhân viên… Vì vậy sản phẩm của nhà hàng phải được đảm
bảo cao về chất lượng.
2.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhu cầu dịch vụ ăn uống tại các nhà
hàng bình dân trên địa bàn Hà Nội
a. Các nhân tố chính
Cũng giống như các loại hình dịch vụ khác, cầu về dịch vụ ăn uống tại các
nhà hàng bình dân trên địa bàn Hà Nội cũng chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các
nhân tố sau đây:
Giá cả của dịch vụ ăn uống
Theo đúng luật cầu, khi giá cả của một loại hàng hóa, dịch vụ tăng lên thì
cầu về hàng hóa, dịch vụ đó giảm xuống và ngược lại. Nếu giá rẻ, người ta có xu
hướng sử dụng dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng nhiều hơn là việc ăn ở nhà. Vì
lúc này lợi ích của việc sử dụng dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng bình dân lớn
hơn lợi ích của việc ăn uống tại gia đình. Con người có thể tiết kiệm được thời
gian cho việc phải nấu ăn ở nhà mà vừa lại tiết kiệm được chi phí. Lúc này, nếu
sử dụng dịch vụ tại các nhà hàng họ sẽ có thời gian nghỉ ngơi nhiều hơn, hiệu
quả làm việc cũng cao hơn. Do đó cầu về loại hình dịch vụ này tăng lên. Nếu giá
cả của dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng bình dân cao hơn giá cả khi ăn trong gia
bình dân của dân cư địa phương
Cầu về dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng bình dân trên địa bàn Hà Nội có
thể vì 2 lý do sau đây:
• Mang tính chất thưởng thức, vui chơi giải trí, bổ sung cho các bữa
ăn tại các gia đình
• Ăn uống tại nơi làm việc, nơi học tập thay thế cho bữa ăn tại các
gia đình
Ngoài ba nhân tố ảnh hưởng đến cầu dịch vụ ăn uống thì tùy thuộc vào
từng đối tượng khách hàng mà chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố khác cụ thể:
Nghề nghiệp
Do đặc điểm của loại hình công việc, học tập, sản xuất tập trung mà cầu
về dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng bình dân trên địa bàn Hà Nội cũng sẽ
khác nhau:
Cầu về dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng bình dân sẽ tăng lên trong một
bộ phận dân cư nếu loại hình công việc đòi hỏi ăn tại nơi làm việc, học tập
thay thế cho bữa ăn trong gia đình, và ngược lại khi thời gian làm việc, học
tập chiếm ít thời gian hơn thì người ta có thời gian dành các bữa ăn trong gia
đình. Do đó cầu về dịch vụ tại các nhà hàng bình dân trên địa bàn Hà Nội sẽ
giảm xuống
Tốc độ đô thị hóa
Cầu về dịch vụ ăn uống tại các nhà hàng bình dân trên địa bàn Hà Nội sẽ
lớn hơn nhu càu dịch vụ ăn uống tại các khu vực khác do tốc đọ đô thị hóa
của khu vự Hà Nội nhanh hơn, dân cư ở khu vực Hà Nội tập trung đông chủ
yếu là sinh viên, người ngoại tỉnh đang sinh sống và làm việc.
2.2.3. Thực trạng quản lý cầu DV ăn uống tại các nhà hàng bình dân trên điạ bàn
Hà Nội
2.2.3.1. Tình hình quản lý cầu hiện tại
Những năm gần đây ở thành phố Hà Nội xuất hiện nhiều nhà hàng, quán cơm bình dân,
sinh an toàn thực phẩm. Bên cạnh phần lớn các nhà hàng, quán ăn chú trọng đến khâu
vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo đảm sức khỏe và tính mạng cho mọi người nhưng bên
cạnh đó vẫn còn có những nhà hàng vì chạy theo đồng tiền, lợi nhuận mà lơ là, bỏ qua
khâu quan trọng này; họ đã mua những thực phẩm giá rẻ, kém chất lượng về chế biến
nên không bảo đảm vệ sinh. Đó là lý do vì sao khách hàng lại bị ngộ độc thực phẩm sau
khi ăn tại các quán ăn bình dân. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới tâm lý người tiêu dùng
và lượng cầu hiện tại giảm đi một cách đáng kể.
2.2.3.2: Tình hình quản lý cầu tiềm năng
Hoạt động xúc tiến, quảng bá
Hầu hết các nhà hàng bình dân trên địa bàn Hà Nội chỉ quảng cáo sản phẩm dịch vụ của
mình trong phạm vi địa bàn của mình. Một số thường không có hoạt động khuyến mãi
hay quảng cáo gì suốt nhiều năm mà chờ khách hàng sử dụng dịch vụ rồi cảm thấy hài
lòng, tự quảng cáo cho. Phần lớn các quán ăn này thường nằm sâu trong các con phố,
ngõ nhỏ và hẹp, khách hàng muốn đến ăn phải đi sâu vào bên trong- đây cũng là nét đặc
trưng rất Hà Nội vừa dạo phố ngắm cảnh, vừa được ăn ngon, song có không ít khách
hàng gặp khó khăn về phương tiện đi lại, nhiều khách hàng đi ôtô sẽ rất khó để tiếp cận
được quán ăn.
Kinh phí cho những chiến dịch quảng bá
Đối tượng khách của các nhà hàng bình dân thường là những người có thu nhập trung
bình và thấp, chủ yếu là dân văn phòng, lao động phổ thông, học sinh, sinh viên… để
đáp ứng được nhu cầu của những khách hàng này, nhà hàng đã phải hạn chế tối đa các
loại chi phí. Do lợi nhuận thu được không cao nên chi phí dành cho quảng cáo dường
như bị cắt bỏ.
Thường xuyên nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu
khách hàng
Chất lượng phải phù hợp với giá cả do vậy việc vừa đảm bảo chất lượng tốt lại giá
thành rẻ là điều rất khó thực hiện. Nhà hàng bình dân yêu cầu chất lượng không quá
khắt khe như các nhà hàng sang trọng, cao cấp nhưng việc phải đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm thì cơ sở nào cũng phải chú ý. Hiện nay rất nhiều quán ăn, nhà hàng bình
dân bị dư luận lên tiếng vì tình trạng mất vệ sinh trong khâu chế biến, thu mua nguyên
những khách hàng chính mà các nhà hàng bình dân nhắm tới, chính nhờ giá cả hợp lý
và phải chăng, phù hợp với túi tiền của mọi người mà các nhà hàng bình dân đã thu hút
được số lượng khách hàng lớn .
Sản phẩm của các nhà hàng bình dân rất đa dạng về chủng loại và chất lượng ,
đáp ứng với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng . Các món ăn của nhà hàng bình dân có
thể là những món ăn ngay đã chế biến sẵn hay là những món ăn cần sự cầu kỳ hơn ,
hoặc là những món ăn gắn liền với nét ẩm thực ở Hà Nội như các món phở , nem đã có
từ rất lâu đời được biết đến như là những món ăn ngon nổi tiếng ở Hà Nội. Đối với
những món ăn đã chế biến sẵn , khách hàng chủ yếu là những người lao động, học
sinh , sinh viên họ tìm đến các nhà hàng bình dân sau những giờ học tập và lao động
mệt mỏi để tiết kiệm thời gian và chi phí. Thay vì tự tay chuẩn bị một bữa ăn tại gia
đình với điều kiện thời gian ít ỏi , họ có thể lựa chọn ăn ngay tại các nhà hàng bình dân
hay có thể mang về . Ngoài ra, trên địa bàn thành phố Hà Nội có rất nhiều quán bình
dân từ lâu đã nổi tiếng với những món ăn quen thuộc , đó là những món phở của Hà
Nội , các món bún riêu, bánh xèo, há cảo, xôi chè…. Mà đến Hà Nội bạn khó có thể bỏ
qua.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, phong cách thái độ phục vụ, không gian của
nhà hàng là những điểm hạn chế của các nhà hàng bình dân trên địa bàn thành phố Hà
Nội hiện nay
- Về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm: theo thống kê hiện nay trên địa bàn Hà Nội có
hơn 16000 cơ sở kinh doanh ăn uống đường phố nhưng trong đó chỉ có 40% trong số
đó được cấp giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm. Để kiểm soát được chất lượng
vệ sinh an toàn thực phẩm tại các nhà hàng này là điều không hề dễ đối với các cơ quan
chức năng
Nhiều nhà hàng có vệ sinh không đảm bảo như không có tủ kính nên thức ăn có thể bị
bụi bẩn; hay tủ lạnh không đủ dự trữ thực phẩm nên có nhiều thực phẩm bị hỏng.
Không những thế nhiều cơ sở kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận đã sử dụng các chất phụ
gia, chất bảo quản thực phẩm không được phép sử dụng của bộ y tế gây hại cho sức
khỏe của người tiêu dùng . Bên cạnh đó nguồn gốc thực phẩm cũng không được đảm
-
-
Xây dựng các nhà hàng bình dân đa dạng sản phẩm, dịch vụ như dịch vụ cơm
hộp, dịch vụ giao cơm, đồ ăn tận nơi… nhằm phục vụ tối đa nhu cầu cũng như
mong muốn của khách hàng giúp các vị khách trở nên quen thuộc với nhà hàng
và dịch vụ phong phú, đa dạng nơi đây.
Chú trọng trong việc quản lý về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm dựa trên
những tiêu chí cao dần dần đem lại cho khách hàng cảm giác tới một nơi uy tín,
chất lượng và không gặp bất cứ sự cố ngoài ý muốn nào.
Phát triển nền văn hóa ẩm thực dân tộc tạo ra những sản phẩm đặc thù, độc đáo
mang bản sắc dân tộc cũng như học hỏi tiếp thu nền văn hóa ẩm thực quốc tế để
mở rộng thu hút nhiều nguồn khách khác nhau; không ngừng phát triển, cải tiến
chất lượng cả về cơ cấu lẫn số lượng đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn của
khách hàng.
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý cầu dịch vụ lưu trú tại khách sạn
3.2.1. Quản lý cầu hiện tại
- Nhà quản trị cần khảo sát và lên danh sách những khách hàng thường xuyên của
khách (như sinh viên, dân văn phòng…) và từ đó có những ưu đãi cho những
khách hàng này .
- Làm vé tháng cho những khách hàng có nhu cầu thường xuyên sử dụng dịch vụ, vé
tháng sẽ có giá rẻ hơn so với mặt bằng chung của vé ngày và có những ưu đãi nhất định
cho vé tháng.
- Nhà quản trị đưa ra những chính sách để khuyến khích vật chất đối với khách hàng
của cửa hàng ví dụ như ngày lễ tết sẽ có khuyến mại như tặng nước miễn phí đối với
thể nắm bắt được một tập hợp đầy đủ những kỳ vọng của khách hàng và thỏa mãn họ
hoàn toàn trong mọi tình huống. Coi trọng công tác quản lý cầu dịch vụ thì chắc chắn
chất lượng dịch vụ của các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống này sẽ ngày càng được
nâng cao và góp phần tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường.
Tài liệu tham khảo:
- Giáo trình quản trị dịch vụ
- Slide bài giảng của giáo viên
- http://123doc.org/doc_search_title/1908400-thuc-trang-ve-cau-dich-vu-an-uong-taicac-nha-hang-binh-dan-tren-dia-ban-ha-noi-hien-nay-docx.htm
- http://123doc.org/document/896448-giai-phap-de-quan-ly-cau-dich-vu-an-uong-trongcac-nha-hang-bing-dan-tren-dia-ban-ha-noi.htm