Đánh giá hiệu quả một số mô hình rừng trồng theo dự án 661 tại huyện phú lương tỉnh thái nguyên - Pdf 35

-1-

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHAN QUỐC THỤ

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH
RỪNG TRỒNG THEO DỰ ÁN 661
TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐẶNG KIM VUI

THÁI NGUYÊN - 2010


-2-

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa
công bố dưới bất kỳ hình thức nào.

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2010
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phan Quốc Thụ



Đến

%

:

Tỷ lệ phần trắm

m3

:

mét khối

cm

:

centimet

mm

:

milimet

ha

:


Ban quản lý dự án

UBND

:

Uỷ ban nhân dân

HGĐ

:

Hộ gia đình

SX

:

Sản xuất


-5-

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1. Các loại đất chính của huyện Phú Lương..................................... 29
Bảng 4.2. Nhiệt độ không khí trung bình tháng và trung bình nắm (0C)...... 30
Bảng 4.3. Độ ẩm không khí trung bình tháng và trung bình năm (%) ......... 30
Bảng 4.4. Lượng mưa trung bình tháng và số ngày mưa trong tháng .......... 31
Bảng 4.5. Quy hoạch đất trồng rừng theo dự án 661 huyện Phú Lương ...... 44

trên. Chưa tập trung đầu tư vốn để phát triển kinh tế trồng rừng theo hướng
sản xuất hàng hoá. Vì vậy mà hàng triệu người dân các vùng này vẫn tiếp
tục phá rừng, đốt nương, làm rẫy để sản xuất lương thực tự cung, tự cấp.
Bên cạnh đó công nghiệp chế biến gỗ nước ta trong những năm qua cũng
chưa được đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, nguyên liệu sản xuất
vẫn dựa vào nguồn gỗ rừng tự nhiên là chính. Vì vậy đã làm cho diện tích
rừng tự nhiên càng bị mất thêm.
Theo số liệu thống kê năm 2000 cho thấy diện tích rừng nước ta chỉ
còn 8 triệu ha độ che phủ đạt 28,5%. Năm 1943 diện tích rừng nước ta là
14 triệu ha với độ che phủ là 43%. Đây là nguyên nhân gây nên nhiều hậu
quả nghiêm trọng làm mất cân bằng sinh thái, đất bị xói mòn, bạc màu, lũ
lụt, úng ngập lan tràn nhiều nơi ngay cả các tỉnh miền núi.
Vì sự phát triển bền vững của đất nước, để nhanh chóng nâng cao độ
che phủ giữ cân bằng sinh thái, từ những năm 1947 Chính phủ nước ta đã đề
ra chủ trương phát triển mạnh rừng trồng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc
hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên. Trước bối cảnh đó công nghiệp chế biến
gỗ nước ta cần nhanh chóng chuyển hướng từ sử dụng nguyên liệu gỗ rừng


-7-

tự nhiên chuyển sang sử dụng nguyên liệu gỗ rừng trồng và chế biến các sản
phẩm tổng hợp, lợi dụng gỗ các sản phẩm bằng ván dăm nhân tạo thay cho
vật liệu gỗ rừng tự nhiên. Ngành lâm nghiệp và chế biến lâm sản phải sớm
có qui hoạch và kế hoạch đồng bộ để nâng cao năng suất và sản xuất các loại
ván gỗ nhân tạo thích hợp với các loại nguyên liệu từ gỗ rừng trồng và các
phế liệu trong chế biến nông lâm sản, đồng thời từ các loại ván gỗ nhân tạo
chế biến ra các loại đồ mộc và vật liệu thay cho gỗ rừng tự nhiên đáp ứng
mọi nhu cầu về gỗ ngày càng tăng của nền kinh tế nước ta. Đây là việc làm
hết sức cấp thiết, phù hợp với xu thế phát triển công nghiệp chế biến gỗ trên

cách có kế hoạch nhằm đạt một hay một số mục tiêu cùng hoàn thành những
chỉ báo đã định trước tại một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định,
có huy động sự tham gia thực sự của những tác nhân và tổ chức cụ thể. Hoặc
là một tổng thể có kế hoạch những hoạt động (công việc) nhằm đạt một số
mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian và khuôn khổ chi phí nhất định.
Theo bài giảng môn học: Cơ bản về nghiên cứu khoa học đã nêu định
nghĩa về Dự án như sau:” Dự án là một tập hợp các hoạt động hòa hợp các
nguồn nhân lực và những nguồn lực khác trong một tổ chức tạm thời nhằm
đạt được một mục tiêu xác định trong một thời gian giới hạn”.
Tuỳ theo lĩnh vực xã hội, đối tượng hoạt động mà Dự án đưa ra các
mục tiêu cụ thể cho riêng mình. Trong xã hội hiện nay có rất nhiều loại Dự
án khác nhau như Dự án về lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, giao thông,
y tế.v.v…
Chỉ riêng về lĩnh vực lâm nghiệp tuỳ theo mục tiêu mà có các Dự án
khác nhau. Hiện nay trong lâm nghiệp có rất nhiều Dự án với các mục tiêu
khác nhau:
+ Dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà.


-9-

+ Dự án trồng rừng nguyên liệu giấy nhà máy giấy Bãi Bằng.
+ Dự án nông lâm kết hợp.v.v…
Nhìn chung các Dự án đều có các can thiệp nhằm đem lại những thay
đổi trong nhận thức và hành động tập thể của cộng đồng. Nhờ đó các lực
lượng bên trong và bên ngoài cộng đồng quyết tâm thực hiện các kế hoạch
hành động nhằm đem lại một sự thay đổi về điều kiện hay môi trường sống.
Khi có Dự án các nhận thức, năng lực, kỹ năng tổ chức, các hoạt động tập thể
được nâng cao, tạo cơ sở cho việc hình thành những Dự án mới. Do đó tình
trạng xã hội, môi trường của cộng đồng lại được cải thiện ở mức cao hơn.

định nhu cầu và khả năng.
Theo Vũ Nhâm [24] bất kỳ một Dự án nào khi đi vào hoạt động để
đạt được mục tiêu của mình nó cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
+ Tính khoa học.
+ Tính thực tiễn.
+ Tính pháp lý.
+ Tính thống nhất.
Bên cạnh đó tác giả còn đưa ra mô hình khái niệm về dự án như sau:
Mục tiêu
phát triển
Mục tiêu
trước mắt
Thời gian

Hiện tại

Dự án

Mong muốn


- 11 -

Những yêu cầu trên là cơ sở quan trọng để Dự án có thể triển khai tại
cộng đồng. Những vấn đề này sẽ được đề tài vận dụng trong việc đánh giá
tác động của Dự án đến phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường của
khu vực nghiên cứu
2.1.2. Đánh giá tác động của Dự án
Đánh giá tác động của Dự án là một quá trình phân tích và so sánh sự
khác biệt về giá trị các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường ở các thời điểm

+ Đảm bảo về kinh tế
+ Đảm bảo về môi trường
+ Đảm bảo về xã hội.
Mỗi Dự án khi đánh giá đều có phương pháp đánh giá riêng cho
mình để đạt được mục tiêu đề ra.
Trong báo cáo tổng kết đề án "Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp
kinh kế, xã hội nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở lòng hồ huyện Mộc
Châu tỉnh Sơn La " [3], Đỗ Đức Bảo và cộng sự đã sử dụng phương pháp
ma trận môi trường để đánh giá tác động của các loại hình canh tác và
phương án canh tác lâm nghiệp ở vùng lòng hồ huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn
La. Các loại hình canh tác được đánh giá là vườn tạp, vườn cây ăn quả,
nông lâm kết hợp, rừng tự nhiên.v.v… Trong phương pháp ma trận môi
trường việc phân tích số liệu được thể hiện thông qua các hàng và cột.
Bằng phương pháp này có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc
các lĩnh vực chịu tác động như kinh tế, xã hội và môi trường. Những tác
động cụ thể của từng hoạt động, phương án được đánh giá qua tổng điểm.
Tuy nhiên sử dụng phương pháp bán định tính này chỉ mang lại tính tương
đối. Vì việc cho điểm phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan đó là trình độ
kinh nghiệm của nhóm nghiên cứu.


- 13 -

Nghiên cứu tác động "Công tác giao đất đến một số yếu tố kinh tế,
xã hội ở các hộ gia đình" thuộc Dự án lâm nghiệp xã hội Sông Đà trong
chương trình hợp tác kỹ thuật Việt - Đức đối với hệ thống canh tác trên
địa bàn huyện Yên Châu tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu
do Scott Fritzen tiến hành đã đi sâu vào việc phân tích một số mô hình sử
dụng đất cấp thôn và cấp hộ gia đình, phân tích hiện trạng sử dụng đất
nông nghiệp và lâm nghiệp của các hộ gia đình, chiến lược phát triển kinh

và xã hội thì mới được đề cập một cách sơ bộ, chưa đi sâu phân tích kỹ.
Đánh giá hiệu quả Dự án là nhằm mục tiêu xác định những ảnh hưởng
dự án hoặc một hoạt động nào đó của dự án đến môi trường xung quanh.
Chúng tôi điểm qua những nghiên cứu đánh giá của các nhà khoa học trong
những năm gần đây như sau:
- Năm 1990 Per Hstahl và Heine Krekula đã tiến hành đánh giá hiệu
quả kinh tế cho hoạt động kinh doanh rừng Bạch đàn trồng làm nguyên liệu
giấy tại khu công nghiệp giấy Bãi bằng Phú Thọ. Các chỉ tiêu kinh tế NPV,
IRR đã được đề cập và đành giá kỹ, còn các chỉ tiêu về môi trường sinh thái
và xã hội nhân văn mới chỉ được đề cập đến một cách chung chung chưa đi
vào phân tích sâu.
- Hội thảo quốc gia về nông lâm kết hợp khu vực trung du miền núi đẫ
được tổ chức tại Trường Đai học lâm nghiệp tháng 10/1992, hội thảo đã thảo
luận, phân tích đánh giá hiệu quả của phương thức nông lâm kết hợp, trong đó
chú ý tới nhu cầu gỗ củi.
- Năm 1994 Trung tâm nghiên cứu phát triển lâm nghiệp Phù Ninh kết
hợp với trường Đại học Lâm nghiệp đã nghiên cứu khả năng giữ nước và bảo
vệ đất của các phương thức canh tác trên đất dốc tại Tuyên Quang, đề tài do
GS. TS. Phùng Ngọc Lan và TS. Vương Văn Quỳnh thực hiện.


- 15 -

- Năm 1995, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội kết hợp với trường Đại
học Lâm nghiệp tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu đề xuất mô hình phát triển
kinh tế môi trường vùng thượng nguồn sông Trà Khúc” đề tài do GS.TS Đặng
Trung Thuận và GS.TS Nguyễn Hải Tuất thực hiện.
- Năm 1996 Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách( Bộ
KHCN&MT) đã nghiên cứu tiến hành đánh giá hiệu quả môi trường rừng
Quảng Ninh.

2.2.1. Khái niệm về Dự án
Xuất phát từ thực tiễn quản lý kinh tế về phương pháp luận đã đưa ra
nhiều khái niệm khác nhau về Dự án.
Theo Cleland và King (1975) thì Dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố
nhân lực và tài lực trong một thời gian nhất định để đạt được một mục tiêu
định trước.
Gittinger (1982) đưa ra quan điểm: Dự án là một tập hợp các hoạt
động mà ở đó tiền tệ được đầu tư với hy vọng được thu hồi lại. Trong quá
trình này các công việc kế hoạch tài chính, vận hành hoạt động là một thể
thống nhất được thực hiện trong một thời gian xác định.
Clipdap cho rằng Dự án là một tập hợp các hoạt động để giải quyết một
vấn đề hay để hoàn thiện một trạng thái cụ thể trong một thời gian xác định.
Từ điểm xã hội học của David Jary và Julia Jary [34] đưa ra định
nghĩa về Dự án như sau: Dự án là những kế hoạch của địa phương được xác
lập với mục đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng.
Theo định nghĩa này có thể hiểu Dự án là một kế hoạch có sự can thiệp có
mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể. Dự án là sự hợp
tác của các lực lượng xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng. Với cách
hiểu như trên thì thước đo sự thành công của Dự án không chỉ là sự hoàn


- 17 -

thiện các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, như thế
nào ?) mà nó còn góp phần vào chuyển biến xã hội tại cộng đồng.
2.2.2. Đánh giá Dự án
Đánh giá Dự án là khâu then chốt trong quá trình thực hiện các hoạt
động của Dự án. Đánh giá là quá trình tổng kết lại, xem xét lại các hoạt
động của Dự án có đạt được mục tiêu đưa ra hay không. Hay nói cách khác
đánh giá là quá trình xem xét một cách có hệ thống và khách quan, nhằm

chi suốt thời gian mà chúng còn có tác dụng, nhất là đối với dự án trồng
rừng, phải sau một khoảng thời gian dài thì chúng mới tạo ra một đầu ra nhất
định, đồng thời lại có những tác động về môi trường có thể còn có tác dụng
lâu dài hơn nhiều so với Dự án sau khi kết thúc. Vậy thì vận dụng khoảng
thời gian nào là đánh giá thích hợp ?
Nhiều công trình của FAO [40], Lyn Squire đã chỉ rằng, trong trường
hợp các chi phí hoặc lợi ích môi trường kéo dài trong tương lai thì các lợi
ích và chi phí đó phải được đưa vào phân tích. Không phải là do Dự án đã
kết thúc về mặt hành chính mà chúng ta phải bỏ qua các lợi ích và chi phí
về môi trường. Tuy nhiên thực tế do vấn đề tỷ suất triết khấu và lý do muốn
giản đơn việc tính toán đã làm cho nhiều người chọn các thời hạn phân tích
và đánh giá ngắn hơn nhiều; đối với các Dự án quản lý rừng đầu nguồn
hoặc trồng rừng thì thời hạn đánh giá phải đủ lớn chừng 15 đến 20 năm để
thấy đầy đủ và rõ ràng về các lợi ích về chi phí kinh tế.
UNEP đã xây dựng bản hướng dẫn đánh giá tác động môi trường của
các Dự án phát triển. Đây là một phương pháp nghiên cứu chính thức để dự
báo các tác động môi trường của Dự án phát triển chủ yếu đang được dự
kiến, nhưng cũng có thể vận dụng để đánh giá những tác động đã qua đối
với môi trường. Việc đánh giá tác động môi trường nhằm trả lời 5 câu hỏi:
Điều gì sẽ xẩy ra sau khi Dự án kết thúc? Phạm vi của các biến đổi đó là
gì? Các biến đổi thực sự có phải là vấn đề lớn không? Có thể làm gì đối với
chúng? Cần phải thông báo cho những người ra quyết định như thế nào về
những việc phải làm? v.v…


- 19 -

Chương 3
MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tài nguyên rừng,
những khó khăn, thuận lợi trong vùng Dự án.
- Đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của Dự án trồng rừng
661 tại huyện Phú Lương Thái nguyên.
- Bước đầu đánh giá hiệu quả của các mô hình trồng rừng sản xuất
đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường.
- Một số giải pháp để duy trì, phát triển các kết quả và mở rộng phạm
vi hoạt động của Dự án.
+ Về kinh tế
Nghiên cứu sự thay đổi về cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu thu nhập và
chi phí của hộ gia đình.
Nghiên cứu sự thay đổi về loại hình kinh tế hộ và các tiêu chí phân
loại kinh tế hộ gia đình.
+ Về xã hội
Nghiên cứu mức độ tham gia của người dân đối với quá trình thực
hiện Dự án.
Nghiên cứu tác động của Dự án đến nhận thức của người dân trong
công tác trồng rừng, chăm sóc rừng và bảo vệ rừng. Tác động của Dự án
đến chất lượng cuộc sống của người dân.
+ Về môi trường
Tác động của Dự án đến khả năng chống xói mòn, bảo vệ đất.
Tác động của Dự án đến tiểu khí hậu xung quanh.
3.5. Phương pháp nghiên cứu
3.5.1. Quan điểm và phương pháp luận
Dự án trồng rừng nói chung và trồng rừng công nghiệp nói riêng là một
tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được mục đích nhất


- 21 -


- 22 -

- Các báo cáo, hồ sơ thiết kế, theo dõi giám sát và các báo cáo tổng
kết thường kỳ của Dự án .
- Diễn biến tài nguyên rừng và đất rừng qua từng năm thực hiện.
- Các chính sách về khoa học công nghệ.
- Chính sách về thị trường thương mại.
- Bản đồ hiện trạng, bản đồ qui hoạch, bản đồ thổ nhưỡng, văn kiện
Dự án.
- Điều kiện kinh tế, xã hội, tài nguyên rừng vùng Dự án.
- Các qui trình, qui phạm, các kết quả nghiên cứu, các bảng biểu có
liên quan.
- Các phần mềm xử lý số liệu.
+ Phương pháp điều tra:
Điều tra phỏng vấn người dân áp dụng một số phương pháp sau:
- Điều tra phỏng vấn linh hoạt (phương pháp PRA) điều tra 30 hộ gia
đình tham gia Dự án được lựa chọn theo kết quả điều tra sơ bộ và tham
khảo ý kiến của cán bộ chuyên môn phụ trách Dự án.
Trong quá trình điều tra kinh tế hộ gia đình sử dụng phương pháp PRA có
nhiều công cụ được thực hiện, nhưng trong khuôn khổ đề tài để thu thập thông
tin cần thiết từ người dân thì 2 công cụ được sử dụng chủ yếu đó là họp dân và
phỏng vấn linh hoạt đối với từng hộ gia đình, từng cá nhân đây là phương pháp
đã được lựa chọn.
Họp dân là khoảng thời gian được người dân tham gia với số lượng
đông đảo tại buổi họp mọi người chủ động đưa ra ý kiến của mình và cùng
nhau trao đổi. Kết quả quan trọng là phân loại hộ gia đình theo các tiêu chí
do chính người dân đưa ra trước và sau khi thực hiện Dự án.
Phỏng vấn linh hoạt: Đây là phương pháp điều tra được sử dụng để
giao tiếp với người dân và cán bộ địa phương nhằm thu thập những thông
tin cần thiết trong việc đánh giá tác động của các Dự án nông - lâm nghiệp,

3. Những cơ sở vật chất chủ yếu bao gồm:
- ...........................................................................................................
- ...........................................................................................................
4. Diện tích đất đai của hộ.
Số TT

Loại đất

1

Đất thổ cư

2

Đất vườn hộ

3

Đất ruộng

4

Nương rẫy

5

Rừng và đất rừng

6


3.
4.
5.
II
1.
2.
3.
4.
5.
6.
III

Chi phí cho sản xuất
Chi sản xuất nông nghiệp
Chi sản xuất lâm nghiệp
Chi kinh doanh cây ăn quả, cây công nghiệp
Chi kinh doanh nghề phụ
Chi sản xuất khác
Chi phục vụ đời sống
Chi cho ăn uống.
Chi cho may mặc.
Chi cho học hành.
Chi cho các nhu cầu văn hoá
Chi cho các nhu cầu y tế sức khoẻ
Chi cho các nhu cầu khác
Chi cho các khoản thuế đóng góp
Các khoản thuế
Các khoản đóng góp khác
Cộng


Thu từ nghề phụ
Thu khác
Lương
Các khoản trợ cấp
Thu khác
Cộng

II
III
IV
V
1
2
3

ĐV
tính

Khối
lượng

Đơn
giá

Thành
tiền

8.Cân đối thu chi của hộ gia đình
STT
Các khoản thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status