BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Đánh giá đặc tính nông sinh học của một số giống hoa cẩm chướng
chùm (Dianthus Barbatus ) được nhập nội từ Đài Loan, trồng tại Văn
Giang – Hưng Yên
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Kim Lý
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhã
Lớp: KS.CNSH.0501
Hà Nội_2009
Viện Đại học Mở Hà Nội
2
Nguyễn Thị Nhã
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, em luôn nhận được sự giúp đỡ về
nhiều mặt của các cấp Lãnh đạo, các tập thể và các cá nhân.
Trước tiên với sự biết ơn sâu sắc và lòng kính trọng, em xin chân thành
cảm ơn TS. Nguyễn Thị Kim Lý đã hướng dẫn và tận tình chỉ bảo cho em
trong suốt thời gian thực tập để em có thể hoàn thành tốt khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Trung tâm Hoa cây cảnh – Viện
Di truyền Nông nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá
trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
nghiên cứu vụ đông xuân 2008 – 2009 tại Văn Giang – Hưng Yên. .37
Bảng 8: Đặc điểm sinh trưởng của các giống cẩm chướng tham gia
nghiên cứu tại Văn Giang – Hưng Yên..............................................40
Bảng 9: Tốc độ tăng trưởng của các giống cây cẩm chướng tham gia
nghiên cứu (theo dõi qua 20 ngày/ lần)..............................................42
Bảng 10: Đặc điểm về số lượng và chất lượng hoa
của các giống cẩm chướng tham gia thí nghiệm................................45
Bảng 11: Thành phần sâu bệnh hại cây hoa cẩm chướng...............................47
Bảng 12: Ảnh hưởng của giá thể tới tỉ lệ nảy mầm (%) của các giống
cẩm chướng tham gia nghiên cứu.......................................................51
Bảng 13: Ảnh hưởng của bấm ngọn tới khả năng ra cành
của các giống cẩm chướng tham gia nghiên cứu................................52
Biểu đồ 1: Thời gian ra hoa của các giống cẩm chướng.................................38
Viện Đại học Mở Hà Nội
4
Nguyễn Thị Nhã
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU...........................................................................................7
I.1 Đặt vấn đề....................................................................................................7
I.2 Mục đích – yêu cầu của đề tài......................................................................9
I.2.1 Mục đích....................................................................................................9
I.2.2 Yêu cầu của đề tài.....................................................................................9
PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................................10
III.7. Xử lí thống kê các kết quả thí nghiệm...................................................29
PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN..................................30
IV.1. Nghiên cứu, đánh giá các giống hoa cẩm chướng nhập nội...................30
IV.1.1. Đặc điểm thực vật học của các giống nghiên cứu...............................30
IV.1.2. Các thời kì sinh trưởng, phát triển của cây hoa cẩm chướng..............32
IV.1.3. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của các giống hoa
cẩm chướng tham gia nghiên cứu.......................................................39
IV.1.4. Đặc điểm về số lượng và chất lượng hoa
của các giống cẩm chướng tham gia nghiên cứu................................44
IV.1.5. Điều tra thành phần sâu, bệnh gây hại
trên các giống cẩm chướng tham gia nghiên cứu...............................45
IV.2. Ảnh hưởng của giá thể tới sự nảy mầm của hạt giống
và ảnh hưởng của biện pháp bấm ngọn tới khả năng phân cành
của một số giống cẩm chướng ..............................................................50
IV.2.1. Ảnh hưởng của giá thể tới sự nảy mầm của hạt giống........................50
IV.2.2. Ảnh hưởng của biện pháp bấm ngọn tới khả năng phân cành
của một số giống cẩm chướng trong thí nghiệm................................52
PHẦN THỨ NĂM: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ..............................................................54
V.1. Kết luận ...................................................................................................54
V.2. Đề nghị....................................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................56
Viện Đại học Mở Hà Nội
6
Nguyễn Thị Nhã
7
Nguyễn Thị Nhã
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, nhu cầu sử dụng
hoa ngày càng tăng nhanh. Hoa không những chỉ sử dụng trong ngày lễ tết mà
nhu cầu sử dụng hoa trong cuộc sống thường ngày của người dân cũng rất
lớn. Bên cạnh việc tăng nhanh nhu cầu về số lượng, vấn đề chất lượng hoa
được đặt ra và đòi hỏi ngày càng cao. Nhìn chung, sản xuất hoa ở trong nước
hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng và chất lượng hoa cho thị
trường nôi địa. Vì thế, các loại hoa chất lượng cao được nhập về khá lớn trên
thị trường chủ yếu từ Hà Lan, Pháp…và được tiêu thụ mạnh, nhất là ở các
thành phố lớn.
Hiện nay, trong các loài hoa được trồng, cẩm chướng đang là loài hoa
phổ biển. Cây cẩm chướng ngày càng được nhiều người tiêu dùng biết đến
bởi sự đa dạng về màu sắc, đồng thời là loại hoa rất bền, thuận lợi cho việc
bảo quản và vận chuyển đi xa. Vấn đề lớn hiện nay của nghề trồng hoa nói
chung và cây cẩm chướng nói riêng là chất lượng hoa chưa đáp ứng được yêu
cầu của thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Nguyên nhân là do chưa
có giống mới chất lượng cao, biện pháp kĩ thuật còn theo lối canh tác cổ
truyền, dựa vào kinh nghiệm là chính. Trong những năm gần đây, trình độ
canh tác của người trồng hoa được nâng cao rõ rệt, đặc biệt là các vùng
chuyên canh như Tây Tựu, Mê Linh,…Do đó, vấn đề quan trọng và có tính
quyết định đến khả năng cạnh tranh trên thị trường là phải có giống tốt thích
nghi được với từng thời vụ trong năm, giống phải đa dạng có nhiều màu sắc
và phải đáp ứng được thị hiếu thay đổi nhanh chóng của người tiêu dùng. Tuy
nhiên, các giống cẩm chướng được trồng ở Việt Nam hiện nay còn ít, nhiều
giống năng suất, chất lượng hoa kém và đang dần bị thoái hóa, do nhân giống
9
Nguyễn Thị Nhã
PHẦN THỨ HAI
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
II.1 Giới thiệu chung về cây cẩm chướng
Hoa cẩm chướng còn có tên gọi là hoa phăng là nhóm hoa cắt cành phổ
biến không kém hoa hồng, hoa cúc trên thế giới. Hiện nay, trên thế giới có
khoảng hơn 300 loài và có rất nhiều giống lai khác nhau. Đa số hoa cẩm
chướng cho hoa đẹp vớ nhiều màu rực rỡ. Chúng thường ra hoa vào mùa xuân
hay mùa hè, có khi đến tận mùa đông nếu thời tiết không quá lạnh. Cẩm
chướng có hai loại là cẩm chướng đơn là loại cẩm chướng chỉ có một bông/
cây, còn cẩm chướng chùm là loại cẩm chướng có nhiều bông trên cành. Trên
thị trường thế giới hiện nay đang rất ưa chuộng cẩm chướng chùm vì hoa bền
có nhiều màu để trang trí, có thể cắt cành hoặc trồng chậu.
II.1.1 Danh pháp,nguồn gốc và vị trí phân loại
II.1.1.1 Danh pháp
- Tên Việt Nam : Cẩm chướng
- Tên tiếng Anh : Carnation
- Tên khoa học : Dianthus spp.
- Chi
: Dianthus
- Họ
: Caryophyllaceae.
- Chia theo độ lớn của hoa
+ Hoa to: đường kính hoa 8 – 9cm
+ Hoa trung bình: đường kính hoa 5 – 7cm
+ Hoa nhỏ: đường kính hoa < 4cm
Có tài liệu lại chia cẩm chướng thành 2 loại
- Thân đứng
- Thân bò
- Loại cẩm chướng vườn (carnation). Loài này còn có tên là hồng
đinh hương (clove pink), màu đỏ đậm như nhung. Các loài này đều là cây đa
niên, sống lâu năm (perennaials). Được chia thành hai loài là cẩm chướng
trồng bồn (border carnation) và cẩm chướng cắt cành (florist carnations).
Loại cẩm chướng trồng bồn, thường mọc thành lùm bụi, dày đặc hơn loài cẩm
chướng cắt cành. Cao 30-35cm. Hoa to rộng 5-7cm, thơm, hoa mọc nhiều cỏ
bụi, trồng lẫn lộn với các loài trồng bồn khác hay cả trong thùng, trong chậu.
Còn loài cẩm chướng cắt cành thường trồng trong nhà kính (green house) hay
ngoài vườn ở những nơi khí hậu mát mẻ, mùa đông không lạnh lắm (mild
winter), không có tuyết. Chúng mọc cao khoảng 1,2m, có hoa thơm, tuy
nhiên, đối với những giống hoa to, chỉ lên để lại một hoa trên một cây, còn lại
Viện Đại học Mở Hà Nội
11
Nguyễn Thị Nhã
bấm ngắt hết tất cả mầm trên thân đến đốt thứ 5 vì dưới đốt này, các thân cho
hoa khác mới tiếp tục phát triển.
- Loài Sweet William, (D.barbatus). Thuộc loại cây lâu năm. Thân
cứng cáp, cao 25-50cm. Lá dẹp, màu xanh lợt hay xanh đậm, dài 3-7cm. Hoa
mọc thành chùm khít nhau, rộng 1-2cm, màu trắng, hồng đỏ, tím hay hai màu
- Loài hồng thôn dã- Cottage Pink, Dianthus plumatus. Đây là loài
cẩm chướng diễm kiều, đã trồng nhiều ở thế kỷ ở Âu Mỹ và được chọn làm
giống để lai thành nhiều giống khác nhau.Trước đây, loài hoa này dùng làm
hoa cắt bó rất nổi tiếng. Thân cho hoa cao 25-50cm, hoa thơm mùi gia vị, đơn
hay kép, cánh hoa tua viền, hồng hay trắng.
- Loài Chén Hồng- Rose Bowl đa niên. Lá rất hẹp, màu xanh lục,
trồng làm thảm cao 5-8cm. Hoa rất thơm, màu hồng, đường kính hoa 2,5cm.
Hoa sẽ nở suốt năm nếu ngắt hết hoa tàn.
- Loài Hồng Ngọc tí xíu – Tiny Rubies, đa niên. Cây mọc từng cụm,
cao 7cm, lan xa 10cm. Hoa nhỏ, cánh kép, có mùi thơm màu đỏ hồng ra hoa
vào đầu mùa hè. Loài này cũng như các loài dianthus lùn, độ bền dài và rất
hấp dẫn để trồng vườn cảnh cho cây tươi tốt quanh năm.
II.1.2 Đặc điểm thực vật và sinh trưởng, phát triển của cẩm chướng
- Rễ: Cẩm chướng có bộ rễ chùm,nhiều nhánh, ăn nông, phân bố không
rộng. Rễ dài khoảng 15 – 20cm. Một số ít ăn sâu tới 40 – 50cm ( Có tài liệu
cho rằng bộ rễ của cẩm chướng phát triển ở các dạng khác nhau là do cách
nhân giống: Gieo hạt thì cây sẽ có rễ cọc, nếu giâm cành thì cây sẽ có rễ
chùm), khi vun gốc, cây cẩm chướng sẽ ra rễ phụ ở các đốt thân. Rễ phụ cùng
với rễ chính tạo thành bộ rễ khỏe mạnh để giữ cây và hút nước giúp cây tươi
tốt.
Nếu đất có quá nhiều phân, nước hay nhiệt độ quá cao cũng làm cho rễ
sinh trưởng phát triển không tốt.
- Thân: thân thảo, nhỏ, mảnh mai, trên thân có nhiều đốt, mỗi đốt
mang một mắt, trên mắt mang một đôi lá và mầm nách. Trên thân cây có một
lớp phấn trắng ngoài tác dụng hạn chế sự thoát hơi nước thì lớp phấn còn có
tác dụng chống lại sự xâm nhập của một số loài sâu bệnh. Thân cây màu xanh
nhạt do đó cùng với lá nó cũng làm nhiệm vụ quang hợp. Cao khoảng 50 –
80cm, mỗi đốt dài khoảng 4 – 8cm đối với giống cẩm chướng cao, còn đối
Viện Đại học Mở Hà Nội
chùm có đường kính hoa từ 2 – 3.5cm, có nhiều màu sắc, trên cùng một bông
cũng có thể có nhiều màu sắc khác nhau, mùi thơm dịu.
Quá trình phân hóa hoa có thể hình thành trong vòng 30 ngày, chia làm
6 bước gồm thời kì sinh trưởng sinh dưỡng; thời kì phân hóa hoa; thời kì hình
Viện Đại học Mở Hà Nội
14
Nguyễn Thị Nhã
thành đài hoa; thời kì hình thành cánh hoa; thời kì hình thành nhị đực nhị cái;
thời kì hình thành phấn hoa.
- Quả: hình trụ có một đầu nhọn, dẹt, hơi cong. Quả dài 1 – 2cm, chứa
rất nhiều hạt.
- Hạt: Hạt cẩm chướng nhỏ, nằm trong quả. Mỗi quả có chứa khoảng
300 – 600 hạt.
II.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh của hoa cẩm chướng
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây
cẩm chướng, trong đó ánh sáng, nước, nhiệt độ, không khí đất, và dinh dưỡng
là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát dục của cây.
Không thể thiếu một yếu tố nào và chúng cũng không thể thay thế lẫn nhau.
Các yếu tố này tác động tương hỗ và tác động tổng hợp đến sự sinh trưởng và
phát dục của cây cẩm chướng.
II.1.3.1 Ánh sáng
Ánh sáng là một trong những yếu tố sinh thái quan trọng nhất đối với
hoạt động sống của cây, là nguồn năng lượng chủ yếu cho quá trình quang
hợp và là điều kiện tất yếu để tạo thành diệp lục tố.
Cẩm chướng là loại cây ưa sáng và thích hợp với thời gian chiếu sáng
quá trình quang hợp và hô hấp của cây. Nếu độ ẩm ổn định sẽ tạo điều kiện
cho cây hút chất dinh dưỡng và muối khoáng một cách thuận lợi, năng suất và
phẩm chất hoa cao.
Độ ẩm thích hợp cho cẩm chướng là 60 – 70%, và độ ẩm tối thích là
70%.
II.1.3.4 Độ thông thoáng
Cẩm chướng ưa khí hậu mát mẻ và thông thoáng do đó nếu trồng ở nơi
có độ ẩm cao, kém gió cây sẽ bị bệnh nhiều.
Mật độ trồng thích hợp tạo sự thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho cây
sinh trưởng, phát triển.
Bổ xung CO2 làm cho cẩm chướng sinh trưởng nhanh, tăng chất lượng
hoa.
II.1.3.5 Đất đai
Cẩm chướng ưa đất thịt nhẹ, độ thoáng cao, thoát nước tốt. Nếu đất
chặt, bí thì có thể bổ xung thêm mùn, rơm hoặc trấu hun. Cũng có thể trộn
than bùn vào để tăng độ rỗng cho đất.
Viện Đại học Mở Hà Nội
16
Nguyễn Thị Nhã
Cẩm chướng thích hợp với đất có độ chua thích hợp ở pH 6 – 6,5. Nếu
đất luôn trồng cẩm chướng thì phải khử trùng, tiêu độc hoặc luân canh vì đất
có nhiều vi sinh vật gây bệnh.
II.1.3.6 Chất dinh dưỡng
Trạng thái dinh dưỡng của cây thường được biểu thị bằng phần trăm
nguyên tố dinh dưỡng và chất khô trong lá. Để đạt được năng suất, cao, chất
Tây Ban Nha:Cẩm chướng, hồng,
Thái Lan: Phong lan, hồng.
Philippin: Hồng, huệ, Anyhurium, layơn, đồng tiền.
Malaixia: Phong lan, hồng, cúc, cẩm chướng
Về tình hình nhập khẩu hoa trên thế giới thì đứng đầu trong các nước
nhập khẩu là Đức với 36% thị trường thế giới, Mỹ đứng thứ hai với 21,9%,
nhập hồng, cẩm chướng, cúc, đồng tiền,lưỡi đòng, loa kèn… Tuy nhiên, xét
về mức tiêu thụ hoa bình quân đầu người thì Hà Lan đứng số 1, bỏ xa các
nước khác đứng vị trí tiếp theo như Bỉ và Áo. Có thể nói Hà Lan là một trong
những nước sản xuất hoa lớn nhất thế giới, đây là vừa là thị trường tiêu thụ
vừa là nơi cung cấp xuất khẩu hoa. Hiện Hà lan là nước nhập khẩu lượng lớn
các sản phẩm hoa từ các quốc gia châu Âu không thuộc khối EU, chiếm trên
1/2 lượng nhập khẩu. Một phần lớn lượng hoa nhâp khẩu này của Hà Lan là
để tái xuất sang các nước khác, như nước Đức, Anh…. Việc Hà Lan tiến hành
tái xuất hoa và các sản phẩm hoa trang trí nói trên là một trong những yếu tố
chính đưa Hà Lan trở thành nước cung cấp hoa lớn cho các nước khác. Trong
số các loài hoa, hoa cẩm chướng là loài được trồng rộng rãi, phổ biến ở Châu
Âu, Châu Á, Châu Mỹ. Các nước trồng hoa nhiều đều trồng hoa cẩm chướng.
Các nước Châu Phi cũng đang đẩy mạnh phát triển ngành hoa kiểng:
Tanzania năm 1997 xuất khẩu sang thị trường Châu Âu 11,5 triệu USD/năm,
tăng 75% so với những năm trước đó; tại Kenya ngành trồng hoa đạt doanh số
cao hơn cả du lịch, trồng cà phê. Năm 2001, Kenya xuất khẩu hoa kiểng đạt
110 triệu USD, chủ yếu là sang thị trường Châu Âu. Ở Kenya, diện tích trồng
cẩm chướng chủ yếu tập trung ở Rift Valley. Cây cẩm chướng được trồng
ngoài đồng không cần bảo vệ ở độ cao khoảng 1800m và cẩm chướng cũng
được trồng trong nhà plastic ở độ cao 2700m so với mặt nước biển. Ở
Colombia, hoa cẩm chướng là cây quan trọng nhất, chiếm tỉ lệ 40% tổng
lượng hoa xuất khẩu, với điều kiện khí hậu tốt, cây cẩm chướng đã phát triển
trên 25 năm, năm 1986, đã có diện tích gần 1.000 ha cẩm chướng được trồng
Viện Đại học Mở Hà Nội
đưa doanh số xuất khẩu lên 200 triệu USD/năm.
Ở Philippin, xuất khẩu nhiều loại hoa như Layơn, hồng, lyli, lan, nhưng
hoa cẩm chướng thì được trồng rất ít và phải nhập từ các nước khác.
Tại Srilanka, hoa được trồng từ lâu và bắt đầu trồng hoa công nghiệp
vào năm 1970. Trong số các cây ôn đới, cẩm chướng cây quan trọng nhất.
Viện Đại học Mở Hà Nội
19
Nguyễn Thị Nhã
Hoa cẩm chướng được dùng chủ yếu để xuất khẩu, còn các loại hoa khác chỉ
tiêu thụ được ở nội địa. Hai giống cẩm chướng Châu Mĩ và cẩm chướng Địa
Trung Hải của Srilanka rất nổi tiếng trên thị trường thế giới vì phần lớn diện
tích cẩm chướng đều được trồng trong môi trường bảo vệ hoàn toàn.
Năm 1993 và 1994, Thái Lan là nước xuất khẩu hoa lớn thứ tư trên thế
giới với 65,37 triệu đôla năm 19993 và tăng lên 68,2 triệu đô vào năm 1994.
Trong số các loại hoa thì hoa lan là thế mạnh của Thái Lan chiếm 36,16%
tổng sản lượng hoa cả nước. Năm 1994, Thái Lan xuất khẩu 11.897 tấn hoa
lan cắt cành tới Nhật Bản, Italia, Mĩ…
Các loài hoa được trồng ở Châu Á chủ yếu gồm 2 nhóm: nhóm các
giống hoa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới gồm các loài như lan (orchidacea),
Anthurium, hoa đồng tiền(Gerbera ),…Nhóm hoa có nguồn gốc từ vùng ôn
đới như hoa hồng ( Rosa sp.), cúc (Chrysanthemum sp.), layơn (Gladiolus),
cẩm chướng (Dianthus Caryophyllus).
II.2.3.Tình hình sản xuất tại Việt Nam
Bảng 1: Diện tích trồng hoa ở các địa phương (năm 1995)
STT
1
3500
Diện tích trồng hoa ở Việt Nam rất khiêm tốn, chiếm khoảng 0,02%
diện tích đất đai. Hoa là cây trồng được nhân dân ta trồng từ lâu đời. Diện tích
trồng hoa tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống ở thành phố, khu công
Viện Đại học Mở Hà Nội
20
Nguyễn Thị Nhã
nghiệp, khu du lịch, nghỉ mát như Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân,Tây Tựu
(Hà Nội ), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng
Ninh), Thành phố Hồ Chí Minh….Với tổng diện tích khoảng 3500 ha vào
năm 1995 nhưng đến năm 2008 thì diện tích trồng hoa cây cảnh đã tăng lên
gần 3 lần khoảng 12.000 ha
Theo điều tra ở các vùng sinh thái nông nghiệp, Việt Nam có các loại
hoa chính được trồng trong sản xuất là:
Bảng 2: Các loại hoa trồng phổ biến ở Việt Nam
Tên thường gọi
Tên khoa học
Hoa hồng
Rosa sp
Hoa cúc
Chrysanthemum sp
cơ cấu cây trồng
Viện Đại học Mở Hà Nội
21
Nguyễn Thị Nhã
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì chúng ta cũng có những khó
khăn trong sản xuất:
-Thiếu giống hoa đẹp, chất lượng cao, các giống hoa thường phải nhập
từ bên ngoài.
- Chưa đủ kĩ thuật sản xuất, chế biến thương mại
- Thiếu vốn đầu tư ban đầu
- Cơ sở hạ tầng cho việc chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu còn
hạn chế.
- Thông tin thị trường chưa đầy đủ
- Thiếu vốn đầu tư cho nghiên cứu, đào tạo cán bộ.
- Thuế cao, kiểm dịch khắt khe của các nước nhập khẩu
Kỹ thuật sản xuất hoa – cây cảnh ở Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm truyền thống, nhân giống hoa chủ yếu áp dụng phương pháp nhân
giống cổ truyền, phương pháp này có nhược điểm là chất lượng giống không
cao, cây hoa trồng lâu dễ bị thoái hóa giống, bệnh virut có nhiều khả năng lan
truyền và phát triển, từ đó làm giảm phẩm chất hoa.
Bên cạnh đó điều kiện bảo vệ trong sản xuất hoa ở Việt Nam còn hạn
chế. Phần lớn hoa ở Việt Nam hiện nay còn trồng ở điều kiện tự nhiên ngoài
đồng ruộng, không có điều kiện che chắn bảo vệ cây hoa. Chỉ có một diện tích
rất nhỏ thí nghiệm, vườn ươm,… là được che chắn bằng nilon, tre, nứa…để
bảo vệ cây hoa tránh mưa, bão, nắng, sương muối….Trồng trong điều kiện tự
giờ đây thì cẩm chướng từ Đà Lạt, Lào Cai đang chiếm ưu thế trong thị
trường trong nước.
Các loài cẩm chướng thường trồng phổ biến ở Việt Nam hiện nay gồm
3 loài là Dianthus barbatus L., Dianthus chinensis L. và Dianthus
caryophyllus L.. Cây hoa cẩm chướng trồng ở các vùng có độ cao khác nhau,
chất lượng hoa sẽ khác nhau. Vì vậy, tùy thuộc vào đặc điểm của từng loài
hay từng giống để có cách trồng cho phù hợp.
Hiện nay, nước ta còn có một số giống cẩm chướng mới được du nhập
từ Califocnia: Đó là các giống Dianthus Amazon trồng ngoài vườn hay trong
nhà plastic. Cây cao, thân cứng cáp, lá bóng láng, hoa viền, màu sắc tươi
thắm, cành hoa cắm trong bình rất lâu so với các loài khác, từ 12-14 ngày. Hai
giống Amazon Cherry và Neon Purple, rất thích hợp trồng ở nơi có khí hậu
mát hay ở vùng núi cao nước ta, cánh hoa màu tím nhung. Giống Magic tam
sắc, mầu hoa tím hay hồng đậm ngay trên một đỉnh thân. Giống Bó h oa Tím (
Viện Đại học Mở Hà Nội
23
Nguyễn Thị Nhã
Bouquet Purple) có hoa màu tím, cây cao mảnh khảnh. Thường cắt cành làm
thành bó hoa để bán. Hoa đẹp, có mùi hương thơm dịu, được trồng ở trong
bồn, thích hợp cho các mùa khác nhau.
Hiện nay, nhà nước ta đã đề ra những phương hướng sản xuất hoa ở
nước ta dựa vào những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất hoa là:
- Cần đầu tư cho công tác nghiên cứu phát triển hoa ở Việt Nam để
khai thác hợp lí, tận dụng tiềm năng, khắc phục hạn chế khó khăn đem lại
hiệu quả cao cho sản xuất hoa ở Việt Nam.
- Tăng cường đào tạo cán bộ về hoa, áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật
Kí hiệu giống
DB1
DB2
DB3
DB4
DB5
DB6
Tên khoa học
Dianthus barbatus Emily
Dianthus barbatus Red lulu
Dianthus barbatus Egon
Dianthus barbatus Goya
Dianthus barbatus Light pink
Dianthus barbatus Mey
Màu sắc
Trắng
Đỏ
Đỏ hồng
Tím
Hồng
Đỏ trắng
DB7
DB8
cheng
Dianthus barbatus Mey fu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ nảy mầm của các giống
cẩm chướng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bấm ngọn tới khả năng phân
cành của một số giống cẩm chướng trong thí nghiệm.
III.3. Phương pháp nghiên cứu
- Ở nội dung nghiên cứu 1, thí nghiệm được bố trí theo phương pháp
tuần tự một lần không nhắc lại. Diện tích mỗi ô thí nghiệm cho mỗi công thức
là 20m2
- Ở nội dung nghiên cứu 2, thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên
nhắc lại 3 lần. Mỗi lần nhắc là 10m2.
- Ở các thí nghiệm, theo dõi đo đủ 30 cây/ giống thí nghiệm, sau lấy kết
quả trung bình.
III.4. Các chỉ tiêu theo dõi
III.4.1. Các chỉ tiêu về đặc điểm thực vật học:
Đặc điểm hình thái cơ bản của các giống bao gồm các đặc điểm về
thân, lá, hoa.
III.4.2.Các chỉ tiêu về sinh trưởng:
- Tỉ lệ nảy mầm (%):
+ Theo dõi thời gian hạt bắt đầu mọc
+ Theo dõi thời gian có 10% hạt mọc
+ Theo dõi thời gian khi hạt nảy mầm 90%
Tính tỉ lệ nảy mầm khi thời gian nảy mầm kết thúc:
Số hạt nảy mầm
Tỷ lệ nảy mầm =
x 100%
Tổng số hạt gieo
- Chiều cao của cây (cm): Được đo từ gốc đến đỉnh sinh trưởng