§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, đời sống của con người ngày
một được nâng cao, nhu cầu làm đẹp cho cuộc sống cũng theo đó mà tăng mạnh
mẽ. Hoa được coi là thứ trang sức không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày
của con người, nó mang lại cho cuộc sống thêm màu sắc rực rỡ, hương thơm
ngọt ngào. Những bông hoa tươi thắm còn mang trong mình một sức mạnh to
lớn, nó là cầu nối giữa những người yêu thương để gửi đến nhau những thông
điệp tốt đẹp. Mỗi một loài mang trong mình một vẻ đep riêng và ngoài vẻ đẹp
riêng chúng còn mang trong mình những ý nghĩa riêng. Trong muôn vàn loài
hoa có một loài hoa trông giống như hoa Hồng nhưng khi hoa nở rộ thì mang vẻ
đẹp rất riêng , đó là loài hoa mang cái tên Cát Tường. Giống hoa Cát Tường mọc
dại tại Texas ở Mỹ, đã được nhân giống trồng nhiều nơi trên thế giới, hoa có rất
nhiều màu sắc đa dạng như: kem, tím, vàng, hồng, hồng phai, tím đậm, trắng
viền tím…Không thơm lừng hay kiêu sa như hoa hồng để rồi nhanh héo úa. Cát
tường vẫn hằng ngày ban phát cho đời sống sự dịu dàng đằm thắm trong sắc
màu của mình.
Khác với những loại hoa thông thường khác, hoa cát tường khó trồng hơn.
Người trồng hoa mua giống nhập từ Nhật, từ Mỹ về. Đem ủ giống trong mảnh
đất tốt, tơi xốp và giàu đạm để đảm bảo hoa có thể nảy mầm, phát triển. Một
luống hoa cát tường trồng khoảng 5, đến 6 tháng là thu hoạch đợt đầu, khoảng 3
tháng sau thu hoạch đợt sau. Luống hoa chỉ thu hoạch trong 1 năm, khoảng 3
đợt, sau đó phải cuốc lên bỏ hết để trồng luống mới.
Hoa cát tường là giống hoa có khả năng chịu lạnh tốt, du nhập vào Đà Lạt
nước ta lần đầu tiên khoảng chục năm về trước với nhiều chủng loại khác nhau.
Hoa Cát tường rất được ưa chuộng, vì màu sắc và kiểu dáng của hoa rất đẹp, vì
tên gọi của nó, mang đến ý nghĩa vạn sự như ý, may mắn, an lành, chúng được
Cát tường (Eustoma grantdiflorum (Raf.) Shinn).
1.2.Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Bước đầu nghiên cứu, xây dựng quy trình nhân nhanh giống hoa Cát
tường (Eustoma grantdiflorum (Raf.) Shinn) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế
bào nhằm cung cấp một số lượng lớn cây con cho sản xuất phục vụ nhu cầu sử
dụng hoa Cát tường ở Hà Nội và các vùng lân cận.
1.2.2. Yêu cầu
- Nghiên cứu phương pháp khử trùng mẫu để tạo nguyên liệu khởi đầu
cho nhân giống vô tính in vitro cây hoa Cát tường
- Nghiên cứu khả năng phát sinh hình thái của các mẫu nuôi cấy
Chu TuÊn Thµnh
2
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
- Nghiên cứu được ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng đến khả
năng nhân nhanh, hình thành rễ và tạo cây hoàn chỉnh
- Nghiên cứu được ảnh hưởng của các giá thể đến tỷ lệ sống của cây ở
giai đoạn vườn ươm
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Tìm ra ảnh hưởng của các chất điều hoà sinh trưởng ở các nồng độ khác
phẩm được tiêu thụ theo hợp đồng. Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu được các
sản phẩm hoa cắt cành như hồng, phong lan, cúc, đồng tiền, cẩm chướng, ly ly,
sao tím...sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật bản, Singapore.
Australia, ảrập; vạn niên thanh, mai chiếu thủy, mai cảnh... sang Trung Quốc,
Hoa Kỳ, Nhật Bản. Tuy nhiên, số lượng xuất khẩu không nhiều, với doanh thu
hơn 10 triệu USD/năm. Sở dĩ, sản phẩm hoa, cây cảnh của Việt Nam khó thâm
nhập thị trường thế giới là do chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều,
chưa đáp ứng được thị hiếu của khách hàng quốc tế. Trong khi đó, tiêu thụ trong
nước lại có xu hướng chạy theo mùa vụ (rằm, lễ, Tết, các ngày kỷ niệm) là
chính. [19]
Đà Lạt là vùng sản xuất hoa nổi tiếng và là vùng có tiềm năng lớn nhất về
sản xuất hoa của cả nước. Hiện nay công ty TNHH Đà Lạt - Hasfarm 100% vốn
nước ngoài đang áp dụng công nghệ sản xuất hoa tiên tiến với qui mô diện tích
15 ha sản xuất trong nhà kính và 2 ha nhà thép; có hệ thống tự động điều chỉnh
nhiệt độ, ẩm độ, hệ thống tưới nhỏ giọt bằng nguồn nước sạch hòa tan với phân
bón, thuốc bảo vệ thực vật. Các chủng loại hoa Công ty Đà Lạt - Hasfarm đang
Chu TuÊn Thµnh
4
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
sản xuất bao gồm hoa hồng, cúc, cẩm chướng, ly ly, đồng tiền và lá hoa trang
trí. Sản lượng hoa xuất khẩu sang các nước Hồng Kông, Nhật, Đài Loan,
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
Kỹ thuật trồng hoa ở nhiều nơi vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và
phương pháp nhân giống cổ truyền như gieo từ hạt, trồng từ củ, mầm, nhánh.
Các phương pháp này dễ trồng, giá thành cây giống thấp nhưng chất lượng
giống không cao, dễ bị thoái hóa, làm giảm chất lượng hoa vì vậy tuy chủng loại
hoa của Việt Nam khá phong phú nhưng thiếu giống hoa đẹp, chất lượng cao.
Về ứng dụng công nghệ cao: Đã được cải thiện đáng kể, như thay đổi cơ
cấu giống, nuôi cấy mô, kỹ thuật canh tác và bảo vệ thực vật tiên tiến; áp dụng
công nghệ nhà lưới có mái che sáng... Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra không
đồng đều giữa các vùng sản xuất vì nhiều lý do (khí hậu thời tiết, trình độ thâm
canh, khả năng đầu tư, khả năng tiếp cận kỹ thuật tiến bộ và thị trường…). Đà
Lạt có thể coi là địa bàn có tiến bộ nhanh nhất trong cả nước về phát triển sản
xuất hoa cắt cành. [19]
2.3. Giới thiệu chung về hoa cát tường Hoa cát tường
2.3.1 Vị trí, tên gọi và xuất xứ
- Giới: Plantae
- Ngành: Magnoliophyta
- Lớp: Magnoliopsida
- Lớp phụ: Asteridae
- Bộ: Gentianales
- Họ: Gentianaceae
- Giống: Eustoma
- Tên khoa học: Eustoma grandiflorum
- Tên khác: Lisianthus, Prairie Gentian,Texas bluebell, Tulip Gentian, Bluebell,
cát tường có hiệu quả và cung cấp tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng. [19]
2.3.2. Đặc điểm thực vật học
2.3.2.1. Rễ:
Rễ của hoa cát tường thuộc loại rễ cọc, có nguồn gốc từ mầm rễ của hạt.
Rễ của cây phát triển theo chiều sâu mà ít phát triển theo chiều ngang do vậy
cây có khả năng chịu hạn cao.
2.3.2.2. Thân:
Thân thảo, đứng, có khả năng phân nhánh mạnh. Có nhiều đốt, giòn, dễ
gẫy, thân cây càng lớn càng cứng.. Các đốt sát gốc thường to và ngắn hơn các
đốt trên ngọn. Các đốt ở ngọn cây dài và nhỏ. Cây cao từ 15 – 60 cm
2.3.2.3. Lá:
Lá đơn mọc đối, không có lá kèm. Lá có hình ôvan hoặc hình bầu dục dài
tuỳ từng giống, đầu lá nhọn, lá không có cuống mà ôm sát lấy thân. Mép lá
không có răng cưa. Phiến lá có thể to hay nhỏ tuỳ thuộc vào đặc điểm từng
Chu TuÊn Thµnh
7
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
giống. Từ mỗi nách lá thường phát sinh một mầm nhánh. Lá cát tường có màu
xanh biếc, mảnh dẻ, mọng nước, bề mặt lá có phủ một lớp sáp mỏng. Trên lá có
từ 3 – 5 gân, gân lá song song., trong đó gân giữa ăn sâu và rõ hơn cả.
Ở cát tường góc lá có sự thay đổi theo tuổi của lá, các lá mới hình thành
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
2.3.4 Phân loại hoa cát tường
Giống hoa cát tường gồm có hai loại: Giống hoa kép và hoa đơn
2. 3.4.1.Giống hoa kép
- Nhóm Avilia: nhóm này thích hợp ở điều kiện ánh sáng yếu và nhiệt độ
mát. Do vậy nhóm giống này thường trồng vào vụ đông. Các màu thường là
trắng ngà, viền xanh, hồng cánh sen, đỏ tía.
- Nhóm Balboa: nhóm này thích hợp nhiệt độ và cường độ ánh sáng cao
hơn. Thích hợp trồng vụ xuân đến hè. Phát triển tốt ở điều kiện quang chu kỳ
ngày dài. Các màu thường là xanh, viền xanh, xanh tía.
- Nhóm Catalina: thích hợp với điều kiện ngày dài và thời tiết ấm áp. Các
màu thường là xanh tía và màu vàng.
- Nhóm Candy: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang chu
kỳ ngày ngắn. Nhóm này cho hoa nở đồng loạt và có nhiều màu để chọn lựa.
- Nhóm Echo: Nhóm này là nhóm phổ biến trong giống hoa cát tường.
Không thích hợp với cường độ ánh sáng quá cao hay thấp, thích hợp cho vụ
đông xuân. Các màu phổ biến trong giống này là xanh bóng, xanh tía, hồng,
hồng tía, trắng tuyền.
- Nhóm Mariachi: Nhóm này thích hợp trồng trong chậu. Đặc điểm giống
này là có số cánh hoa nhiều, cánh hoa mỏng hơn các giống khác nên nhìn rất
đẹp. Các màu phổ biến trong giống này là trắng, hồng, hồng nhạt, xanh………
Chu TuÊn Thµnh
9
phản phân hoá tế bào cùng với đặc tính vốn có của nó là “ tính toàn năng”, là cơ
sở lý luận vững chắc để xây dựng kỹ thuật nuôi cấy mô, tế bào nhằm tái sinh cây
Chu TuÊn Thµnh
10
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
hoàn chỉnh từ các tế bào tách rời, có khả năng sống và phát triển độc lập. Dựa
trên cơ sở đó mà công nghệ nuôi cấy mô, tế bào thực vật ra đời.
Năm 1992, Haberlandt lần đầu tiên đã quan niệm rằng mỗi một tế bào bất
kỳ của một cơ thể sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm tàng để phát triển thành
một cơ thể hoàn chỉnh. Theo quan niệm sinh học hiện đại thì mỗi tế bào riêng rẽ
đã được phân hoá đều chứa toàn bộ lượng thông tin di truyền (ADN) cần thiết
của cả cơ thể thực vật đó và nếu gặp điều kiện thích hợp thì mỗi tế bào đó đều
có thể phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh gọi là “tính toàn năng” của tế bào
thực vật [12]. Biểu hiện của tính toàn năng chính là sự phân hoá và phản phân
hoá, và thực chất sự phân hoá và phản phân hoá tế bào là kết quả của sự hoạt
hoá, phân hoá các gen vốn có trong tế bào tại thời điểm nào đó trong quá trình
phát triển cá thể hay trong điều kiện nhất định, một số gen được hoạt hoá để tạo
nên các đặc tính mới và ngược lại, một số gen khác có thể bị đình chỉ hoạt động
làm mất đi những đặc tính vốn có trước đó của tế bào. Điều này xảy ra theo một
chương trình đã được mã hoá trong cấu trúc của phân tử AND của mỗi tế bào
khiến quá trình sinh trưởng phát triển của cơ thể thực vật luôn được hài hoà.
Ngày nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng thành công của
vi nhân giống chỉ đạt được khi nó trải qua 5 giai đoạn, chứa không phải 3 giai
đoạn như Murashige (1974) đã nêu ra trước đây. Trong đó giai đoạn 0 (giai đoạn
chuẩn bị) là đặc biệt quan trọng. [11]
Giai đoạn 0: Khử trùng mô cấy
Đây là giai đoạn tối quan trọng, thậm chí quyết định toàn bộ quy trình nhân
giống in vitro. Mục đích của giai đoạn này là tạo được vật liệu thực vật vô trùng
vào nuôi cấy in vitro. Khử trùng mô thực vật người ta thường sử dụng một số
chất hoá học như HgCl2, Ca(OCL)2, NaOCL, H2O2. tuỳ thuộc từng loại mô thực
vật mà lựa chọn nồng độ và thời gian xử lý hoá chất thích hợp.
Giai đoạn 1: Tái sinh mô nuôi cấy
Trong nhân giống in vitro, mẫu nuôi cấy thường sử dụng là chồi đỉnh hoặc
chồi nách của cây mẹ. Ngoài ra tùy từng đối tượng mà người ta còn sử dụng các
mẫu nuôi cấy là thân, rễ, lá, đài hoa, cánh hoa… Mục đích của giai đoạn này là
tái sinh một cách định hướng các mô nuôi cấy. Quá trình này được điều khiển
chủ yếu dựa vào tỷ lệ thích hợp chất auxin/cytokinin ngoại sinh đưa vào môi
trường nuôi cấy. tuy nhiên, cần phải quan tâm đến tuổi sinh lý mẫu cấy. Thường
các mô non chưa phân hoá có khả năng tái sinh cao hơn các mô trưởng thành đã
chuyên hóa sâu. Theo Anderson mẫu cấy của cây được lấy vào thời kỳ sinh
trưởng mạnh cho kết quả rất khả quan trong tái sinh chồi.
Giai đoạn 2: Nhân nhanh chồi
Để tăng hệ số nhân, người ta thường đưa thêm vào môi trường dinh
dưỡng nhân tạo các chất điều hoà sinh trưởng (auxin, cytokinin, gibberellin…)
các chất bổ sung khác như nước dừa, nước chiết nấm men, dịch thuỷ phân
Chu TuÊn Thµnh
12
MSSV: 506301072
* Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phân chia tế bào và quá
trình trao đổi chất. Trong nuôi cây in vitro, mỗi loài có biên độ nhiệt độ thích
nghi khác nhau.
Chu TuÊn Thµnh
13
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
Nhiệt độ trong bình nuôi cấy thường cao hơn nhiệt độ ngoài bình một vài
độ và phần đáy bình thường sẽ ấm hơn so với phần nắp bình.
Nhiệt độ trung bình của bình nuôi cho nhiều loại cây thường là 25 oC
( giao động từ 17-30oC). Các cây nhiệt đới cần nhiệt độ trung bình của buồng
nuôi ở mức cao hơn khoảng 27 oC (giao động 24-32 oC).
Sự chênh lệch nhiệt độ ban ngày (khi chiếu sáng) thường được duy trì
giảm 4-8 oC so với nhiệt độ ban ngày. Ví dụ nhiệt độ ban ngày là 25 oC, ban đêm
là 20 oC, hay nhiệt độ ban ngày là 28 oC, ban đêm là 24oC. Sự chênh lệch nhiệt
độ như vậy hỗ trợ sự trao đổi khí của bình nuôi và cải thiện sự sinh trưởng của
cây nuôi cấy.
Với mỗi loài cây khác nhau có khoảng nhiệt độ thích hợp khác nhau. Ví
dụ: cây khoai tây sinh trưởng rất nhanh ở nhiệt độ ngày/đêm là 22 oC /18oC, khi
nhiệt độ ngày đêm là 27oC /22oC cây sinh trưởng chậm hẳn.
Tốc độ sinh trưởng của mẫu cấy thường giảm dần khi nhiệt độ buồng nuôi
sóng thuộc vùng ánh sáng màu xanh (400- 600nm), màu đỏ (620- 680nm), gần
màu đỏ (700- 800nm) và gần màu tím (300- 400nm)
Quang chu kỳ trong buồng nuôi thường được duy trì ở chế độ 16 giờ
chiếu sáng/ngày [9]
* Ảnh hưởng của nồng độ khí CO2
Nồng độ CO2 trong bình nuôi cấy các cây có diệp lục thường giảm thấp
hơn điểm bù CO2 (50- 100mmol/mol) trong hầu hết các chế độ quang chu kỳ.
Nồng độ CO2 gia tăng trong giai đoạn tối (510mmol/mol) nhưng giảm sau
thời gian chiếu sáng (100mmol/mol) trong vài giờ, khi được đưa lại và trong tối
thì nồng độ CO2 lại gia tăng trở lại. Ngay cả trong trường hợp thay nắp đậy có
khả năng trao đổi khí, nồng độ CO2 giảm xuống còn 100-200 mmol/mol trong
thời gian có chiếu sáng. Do đó cây in vitro sống dị dưỡng. [9]
2.6.2.2. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường nuôi cấy
Trong nuôi cấy mô tế bào thực vật. môi trường có vai trò rất quan trọng vì
nó cung cấp chất dinh dưỡng đảm bảo cho sự sinh trưởng, phát triển của mô
nuôi cấy. Nhu cầu xinh dưỡng cho sự phát triển bình thường của mô nuôi cấy rất
khác nhau. Tuỳ thuộc vào loài, giống, thậm chí các mô được lấy từ những cơ
quan khác nhau trên cùng cơ thể thực vật cũng có nhu cầu dinh dưỡng khác
nhau [14]
Cho đến nay người ta đã tìm ra nhiều loại môi trường dinh dưỡng khác
nhau như: White (1934), Heller (1953), MS (Murashige and Skoog) (1968),
Nish (1969), Knop (1977), Anderson (1984). Trong đó môi trường MS được
nhiều tác giả công nhận là thích hợp cho nhiều loài thực vật
Các công thức môi trường có nhiều điểm khác nhau nhưng chúng thường
gồm các thành phần cơ bản sau:
Chu TuÊn Thµnh
15
Mô, tế bào nuôi cấy in vitro có thể tự tổng hợp vitamin nhưng không đủ
cho hoạt động sống của chúng nên cần bổ sung thêm vitamin vào môi trường
nuôi cấy.
Đáng chú ý là các vitamin: thiamin (B1), axit nicotinic (B3), pyridoxine
(B6), riboflavin. Nồng độ thường dùng khoảng 1mg/l. Các vitamin này đóng vai
trò quan trọng trong tế bào vì chúng là các co-enzim.
Chu TuÊn Thµnh
16
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
Myo-inositol cần được bổ sung vào một lượng khá lớn 50-100mg/l, chất
này tỏ ra có tác dụng khá rõ đến sự phân chia của tế bào. [9]
* Các chất điều tiết sinh trưởng
Các chất điều tiết sinh trưởng thực vật (phytohoocmon) là các chất hữu cơ
có bản chất hoá học rất khác nhau được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ
quan, bộ phận nhất định của cây và từ đấy vận chuyển đến tất cả các cơ quan,
các bộ phận khác nhau để điều tiết cho hoạt động sinh lý, các quá trính sinh
trưởng, phát triển của cây và đảm bảo mối quan hệ hài hoà giữa cơ quan, bộ
phận trong cơ thể. Vì vậy nó là thành phần quan trọng bậc nhất trong môi trường
nuôi cấy. Nhờ các chất này các nhà nghiên cứu có thể chủ động điều khiển quá
trình phát sinh hình thái thực vật in vitro. Có hai nhóm chất được sử dụng rộng
rãi là auxin và cytokynin.
của các cơ quan, làm giảm hiện tượng ưu thế ngọn, kích thích sự phân hoá chồi
từ các mô sẹo nuôi cấy, gây tạo phôi vô tính, tăng cường phát sinh chồi phụ…
Vì thế trong giai đoạn đầu của của phát sinh phôi soma sự có mặt của auxin là
cần thiết những giai đoạn sau phôi phải được nuôi cấy trên môi trường có
cytokinin để biệt hoá chồi
Các cytokinin thường sử dụng trong nuôi cấy là: BAP (N6- Benzyl amino
purin), kinetin (6- Furfurry amino purin) với nồng độ biến đổi từ 1-2mg/l thích
hợp cho nhiều loại mô nuôi cấy. Các mức độ thấp hơn của cytokinin biểu hiện
hiệu quả kích thích kém, dẫn đến sự tạo chồi và sinh trưởng của chồi giảm. Hàm
lượng cytokinin cao sẽ hoạt hoá hình thành chồi bất định, chồi nhiều nhưng có
kích thước nhỏ, để kéo dài chồi phải chuyển chúng sang môi trường có nồng độ
cytokinin thấp hơn và có thể bổ sung thêm cả GA3 (Gibbebrellic acid). Ngoài ra
nồng độ cao của cytokinin có thể kìm hãm sự hình thành và phát triển của rễ.
[11] [15]
- Ngoài ra trong nuôi cấy mô, tế bào thực vật người ta còn sử dụng một số
chất điều hoà sinh trưởng khác như GA (Gibberellin acid), ABA (Abxixic acid)
…
Đặc điểm cơ bản của các GA là kích thích kéo dài dóng, đốt và sự sinh
trưởng của cây. Phản ứng kéo dài thân chủ yếu do sự tăng trưởng của tế bào, bên
cạnh đó mầm của hạt mà bản chất là hoạt hoá các quá trình tổng hợp enzim thuỷ
phân tinh bột. So với auxin và cytokinin thì GA là nhóm ít dùng vì có biểu hiện
ức chế sinh trưởng và phát sinh hình thái thực vật in vitro, đặc biệt với mô tế bào
một lá mầm GA được đưa vào môi trường trong trường hợp cần thiết để kéo dài
chồi bất định hoặc kích thích tái sinh chồi ở một số loài thực vật. [15]
Trong nuôi cấy mô tế bào, ABA có tác dụng tạo phôi vô tính, kích thích
sự chín của phôi, kích thích sự phát sinh chồi ở nhiều loài thực vật. Các tác dụng
cơ bản của ABA: Tham gia vào sự rụng lá, hoa, quả ở hầu hết các cây trồng và
gây ra sự nứt quả. ABA cần được sản sinh khi các yếu tố ức chế cây trồng như
Chu TuÊn Thµnh
dụng làm nguồn bổ sung axit amin
Bột chuối khô hoặc bột nghiền từ chuối xanh được sử dụng trong nuôi cấy
mô một số cây trồng như: phong lan…[9]
* Chất làm đông cứng môi trường- Agar
Agar là một loại polysaccarit của táo. Ở 80 oC thạch ngậm nước chuyển
sang trạng thái sol, còn ở 40oC thì trở về trạng thái gel. Khả năng ngậm nước
của thạch khá cao: 6- 12g/l nước. Thạch ở dạng gel nhưng vẫn để cho các ion
vận chuyển dễ dàng và có độ thoáng khí cao. Nồng độ trung bình 6-8g/l
* Độ pH của môi trường
Chu TuÊn Thµnh
19
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
pH môi trường nuôi cấy thích hợp cho đa số loại cây dao động từ 5,5-6,0
Trường hợp pH thấp thạch có thể không đông sau khi khử trùng, môi
trường pH cao làm cứng môi trường
Khi pH<4 và pH>7 sẽ làm kết tủa một số muối vô cơ và phân giải một số
chất hữu cơ dẫn đến làm chết mẫu cấy. [9]
Chu TuÊn Thµnh
20
sống của mẫu
Các chồi, lá của cây hoa cát tường được rửa sạch bằng nước thường rồi
ngâm trong nước xà phòng lắc kỹ trong 2-3phút. Sau đó rửa dưới vòi nước cho
hết xà phòng rồi tráng lại bằng nước cất cho vào bình tam giác rồi đưa vào
buồng cấy vô trùng. Tại đây mẫu được rửa bằng nước cất đã khử trùng (2-3 lần)
Chu TuÊn Thµnh
21
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
được khử trùng sơ bộ bằng cồn 70% trong 30 giây, việc này còn làm tăng khả
năng tiếp xúc giữa tế bào và hóa chất khử trùng. Sau khi loại bỏ nước trong bình
tam giác chứa mẫu ta khử trùng bằng HgCl 2 theo công thức thí nghiệm (bảng
3.1). Lấy mẫu ra khỏi dung dịch khử trùng, tráng 3-5 lần bằng nước cất (đã khử
trùng) rồi cấy vào môi trường.
Bảng 3.1: Nghiên cứu các phương pháp khử trùng mẫu
Chất khử
trùng
Công thức
Nồng độ
vào
30
30
30
30
30
MS+ 3% đường+ 6,8g/l agar+ 100mg/l Inositol (Công thức đối chứng)
- Giai đoạn 2: Giai đoạn tái sinh và nhân nhanh
Ảnh hưởng của phytohoocmon lên khả năng tái sinh và nhân nhanh chồi
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng độ BAP tới tái sinh và nhân nhanh chồi
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của BAP đến tái sinh và nhân nhanh chồi của cây hoa
Cát tường
Công thức
Nồng độ BAP (mg/l)
Số mẫu cấy
CT1
0
90
CT2
0,3
90
CT3
0,5
90
CT4
0,7
90
CT5
1,0
0,3
90
CT3
0,5
90
CT4
0,7
90
CT5
1,0
90
Môi trường cơ bản: MS+ 3% đường+ 6,8g/l agar+ 100mg/l Inositol
Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và NAA tới sự tái sinh và nhân
nhanh chồi
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và NAA tới sự tái sinh và nhân
nhanh chồi của cây hoa Cát tường
Công thức
Nồng độ BAP
Nồng độ NAA
Công thức
CT1
CT2
CT3
CT4
Chu TuÊn Thµnh
Nồng độ α-NAA (mg/l)
0,1
0,2
0,3
0,4
23
Số mẫu cấy
60
60
60
60
MSSV: 506301072
§å ¸n tèt nghiÖp
Khoa: CNSH & MT
Môi trường cơ bản: MS+ 3% đường+ 6,8g/l agar+ 100mg/l Inositol
Thí nghiệm 7: Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của cây in vitro
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của các loại giá thể đến khả năng sinh trưởng, tỷ lệ
sống của cây hoa Cát tường
Giá thể
GT1
GT2
GT3
GT4
Thành phần
Cát
Trấu hun
Mùn xơ dừa
Cát + trấu hun (1:1)
Số cây đưa ra trồng
90
90
90
90
3.3. Điều kiện thí nghiệm
Quá trình nuôi cấy ở điều kiện ánh sáng nhân tạo có:
+ Cường độ chiếu sáng: 2000- 3000 lux
+ Thời gian chiếu sáng: 10 h/ngày
+ Nhiệt độ phòng nuôi cấy luôn ổn định từ 24 – 27 oC
+ Ẩm độ trong phòng nuôi cấy: 60 – 70 %
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi
* Thí nghiệm in vitro
Tỷ lệ ra rễ (%) =
Chiều dài TB rễ dài nhất(cm) =
x100
Tổng số mẫu sống
Tổng số mẫu chết
x100
Tổng số mẫu sạch
Tổng số chồi tạo thành
x100
Tổng số chồi nuôi cấy
Chiều cao chồi
x100
Tổng số chồi theo dõi
Tổng số rễ
x100
Tổng số chồi ra rễ
Tổng chiều dài rễ dài nhất
Tổng số rễ dài nhất