ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG THỊ PHƯƠNG CHÂM
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KIT CHẨN ĐOÁN VÀ THỬ NGHIỆM
PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG
(TRYPANOSOMIASIS) Ở TRÂU TẠI HUYỆN YÊN SƠN,
TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Chăn nuôi - Thú y
Khoa
: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học
: 2010 - 2014
THÁI NGUYÊN – 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình thực tập tại trường và 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ
sở, đến nay em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này. Qua đây em xin
bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám Hiệu trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y cùng các
thầy, cô giáo trong khoa đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt thời gian
học tập lý thuyết tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thị
Kim Lan và Ths. Phạm Thị Trang đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em
hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ nhân viên
trạm thú y huyện Yên Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực
tập tại cơ sở.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy, cô giáo trong khoa
Chăn nuôi – Thú y, gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ, tạo điều kiện
cho em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp. Em xin chân thành
cảm ơn và kính chúc toàn thể các thầy, các cô lời chúc sức khỏe, thành đạt
trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Sinh viên
Lương Thị Phương Châm
LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện phương châm “ Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với
thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của chương
trình đào tạo ở các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm
Nxb
STT
TMT
Tr.
T. evansi
TMT
µ
: Cộng sự
: Card Agglutination Trypanosomiasis Tet
: Enzym - Linked Immunosobent Assay
: Kinettopplast Acid Nucleic Deoxyribose
: Kilogam thể trọng
: Latex Agglutination Tet
: Tiêm truyền chuột bạch
: Nhà xuất bản
: Số thứ tự
: Tiên mao trùng
: Trang
: Trypanosoma evansi
: Tiên mao trùng
: Micro
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại một số xã thuộc huyện Yên
Sơn, tỉnh Tuyên Quang ................................................................................... 36
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi ............................. 38
Bảng 4.3: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt ............................ 39
Bảng 4.4. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm ........ 40
2.2. Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng .................................................. 27
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 27
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 28
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 30
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu ............................................................. 30
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 30
3.1.2. Động vật thí nghiệm và vật liệu nghiên cứu ......................................... 30
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 31
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 31
3.2.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 31
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 31
3.3.1. Ứng dụng Kit CATT xác định tình hình nhiễm bệnh tiên mao trùng ở
trâu tại một số xã thuộc huyệnYên Sơn – Tỉnh Tuyên Quang....................... 31
3.3.2. Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T. evansi cho trâu và đề xuất biện
pháp phòng chống ........................................................................................... 32
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 32
3.4.1. Phương pháp thu thập mẫu.................................................................... 32
3.4.2. Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trên các mẫu máu trâu đã
thu thập ............................................................................................................ 33
3.4.3. Một số quy định trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ............................. 34
3.4.4. Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng.................................... 34
3.5. Phương pháp xử lý số liệu........................................................................ 35
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 36
4.1. Ứng dụng Kit chẩn đoán để xác định tình hình nhiễm tiên mao trùng ở
trâu tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang .................................................... 36
4.1.1. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở một số xã thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh
Tuyên Quang ................................................................................................... 36
bằng nhiều phương pháp để xác định thực trạng nhiễm bệnh, từ đó thử
nghiệm các phác đồ điều trị thích hợp và hiệu quả.
Tuyên Quang là tỉnh có địa hình khá phức tạp, nhiều đồi núi và thung
lũng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện
thuận lợi cho ruồi trâu và mòng (vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng)
phát triển. Chúng hút máu, truyền mầm bệnh tiên mao trùng từ trâu, bò bệnh
sang trâu, bò khoẻ làm cho bệnh tiên mao trùng lây lan, gây thiệt hại lớn cho
người chăn nuôi.
Với sự phát triển của ngành công nghệ sinh học ở nước ta hiện nay, nhiều
phương pháp hiện đại đã được nghiên cứu, ứng dụng sinh học phân tử trong
chẩn đoán bệnh ở gia súc, gia cầm.Trong đó, có phương pháp ứng dụng Kit chế
tạo theo nguyên lý CATT để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trên gia súc.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải
nghiên cứu về bệnh tiên mao trùng, về biện pháp chẩn đoán nhanh và ứng
dụng phác đồ điều trị có hiệu quả, nhằm giúp người chăn nuôi có những hiểu
biết cơ bản về cách phòng và trị bệnh, hướng tới mục tiêu cuối cùng là hạn
chế tới mức thấp nhất những hậu quả mà bệnh gây ra cho người chăn nuôi. Từ
mục đích trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng Kit chẩn
đoán và thử nghiệm phác đồ điều trị hiệu quả bệnh tiên mao trùng
(Trypanosomiasis) ở trâu tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”.
2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Ứng dụng Kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở đàn trâu tại
huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp
với điều kiện chăn nuôi ở Tuyên Quang.
- Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại
Phân bộ Trypanosomatorida
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi
Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax
Loài Trvpanosoma (D) uniform
Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (N) congolense
Loài Trypanosoma (N) siminae
Loài Trypanosoma (N) vanhogi
Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906
Loài Irypanosoma (T) brucei
Loài Trypanosoma (T) gambience
Loài Trypanosoma (T) rhodesiense
4
Loài Trypanosoma (T) equiperdum
Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (P) suis
Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843
Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)
Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ quốc
Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể. Ngoài nhân,
về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND (KADN). Từ kinetoplast có
một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự
do. Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân. Trong
roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc
chiều dài roi (Hoare, 1972 [33]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [4]).
Hình 2.1: Cấu tạo của Trypanosoma
A - roi trước; B - Các khung tế bào phức tạp tiềm ẩn; C - Nhân; D - Ty
thể; E - Các kinetoplast (bộ gen ti thể); F - Thể đặc; G - Túi roi; H - Phần thân
chính; I - Golgi; J - Lưới nội sinh chất. K - Màng nhấp nhô. L - Tập tin đính
kèm của roi vào màng nhấp nhô. M - Chỗ tiếp xúc roi với thân (Dẫn theo
Nguyễn Thị Kim Lan, 2011 [7]).
2.1.1.3. Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Kháng nguyên của T. evansi gồm 2 loại: kháng nguyên ổn định
(kháng nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi.
6
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến
đổi trong quá trình sống ký sinh. Bằng phương pháp điện di miễn dịch
huyết thanh thỏ tối miễn dịch với T. evansi. Người ta đã phát hiện tới 3
thành phần kháng nguyên không biến đổi ở màng nguyên sinh chất tế bào
(ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG 65, ISG 75 và ISG 100. Do cấu
trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các loại này không kết hợp
với kháng thể của vật chủ.
* Kháng nguyên biến đổi
Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt
ra một loại kháng nguyên VSG. Mỗi bên VSG mới tạo ra một loại kháng
nguyên VSG mới. Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen
VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên mao
trùng đã tạo ra nhiều VSG khác nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính. Cơ chế biến
đổi kháng nguyên theo 2 cách: Cách thứ nhất là, sử dụng lần lượt các điểm
biểu hiện trên (expression side) khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN.
Các điểm biểu hiện khác nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên
này dẫn đến sự thay đổi type kháng nguyên. Cơ chế này quan sát được chủ
yếu ở giai đoạn đầu của quá trình cảm nhiễm. Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa
có đáp ứng miễn dịch của vật chủ đối với VSG, chính điều này không gây ra
một cản trở hoạt hoá tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này. Cách thứ hai
là, tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen, mà việc tái tổ hợp
này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen; hoặc việc thay thế diễn
ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào tái tổ hợp gen. Trường
hợp này được diễn giải như sau: Một gen hoạt hoá được thay thế bằng bản sao
chép của một gen khác. Do có sự thay thế một phần của gen nên đã tạo ra loại
gen phức hợp và đặc trưng.
* Đặc tính của kháng nguyên
Các kháng nguyên bề mặt tạo thành các type biến đổi (Variable
Antigenic Type - VAT) khác nhau giúp cho tiên mao trùng trốn tránh được
hệ thống miễn dịch của vật chủ. Khi con vật mắc bệnh sẽ thấy hiện tượng sốt
hồi quy thể hiện đồ thị hình sin. Ở pha lên (Asending phase) tiên mao trùng
sẽ có type kháng nguyên giống nhau gọi là homotype. Hệ thống miễn dịch
của vật chủ sẽ nhận ra kháng ngyên này và sản sinh ra kháng thể. Lúc này
hiện tượng kháng thể tương đồng tăng lên sẽ xuất hiện cùng với hiện tượng
8
tiên mao trùng giảm xuống, ở đồ thị quá trình này được biểu hiện bằng pha
thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ
xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000 mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở
vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá).
Phan Địch Lân (1994 - 2004) [13] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm
thấy hai loài mòng T. rubidus và T. striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ
10
15,20% và 14,00%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với
tỷ lệ 12,50%. Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và
mòng hút máu dễ dàng tìm thấy tiên mao trùng. Sau khi theo máu vào vòi hút
ruồi và mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động
mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34 trung bình là 24 giờ. Sự hoạt động
của tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42. Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao
trùng ngừng hoạt động.
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời
gian: từ 1 - 34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ; tiên
mao trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 53 giờ; tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng
hẳn hoạt động.
Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của tiên mao trùng sau
khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: Thời gian từ giờ thứ 1 đến
thứ 5, tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự
như khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7
chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và
thời gian chết của chuột cũng dài. Điều này có thể giải thích là do độc lực của
tiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh
cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus. Kết quả
này phù hợp với nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [10] cho rằng, thời
gian xâm nhập của tiên mao trùng càng lâu thì tỷ lệ gây bệnh càng giảm, điều
hiện tượng thủy thũng. T. evansi còn tiết độc tố làm hệ thần kinh bị trúng độc,
chức năng điều hòa than nhiệt bị rối loạn, con vật sốt, run rẩy, bại liệt, cứng
chân, lăn lộn điên cuồng trước khi chết. T. evansi còn ngăn cản chức năng sản
sinh hồng cầu của lách, tủy xương làm cho hồng cầu giảm nhiều, máu nhạt
màu và loãng. Mặt khác, khi hồng cầu giảm sút máu thiếu huyết sắc tố khả
năng vận chuyển O2 và CO2 giảm nên axit tích lại trong máu gây hiện tượng
trúng độc axit, khả năng chết càng cao.
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu,
bò, ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da. Có
thể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò gây nhiễm thực
nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiên
mao trùng được tiêm truyền (Ước chừng khoảng 108 tiên mao trùng có thể
12
gây viêm da - ở vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn tiên mao trùng phát
triển ở tại chỗ viêm này.
Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong
bạch huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân chia
theo chiều dọc. Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng
như nhau. Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày. Biểu đồ sóng tiên mao
trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt
sóng yếu. Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiên
mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng. Mỗi
đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể
tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục
sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặc
không thể đi làm được nữa, sốt rất cao ở trâu, bò là 3905 - 4105, ở ngựa là 410C –
420C, con vật thở mạnh. Lúc này nếu lấy máu kiểm tra sẽ phát hiện ra tiên mao
trùng. Trong lúc sốt và sau cơn sốt con vật có hiện tượng bỏ ăn, miệng cắn chặt,
nước miếng chảy ra liên tiếp, đầu rủ xuống, nước mắt và nhử mắt chảy rất nhiều,
phân nhão có lẫn máu. Sau cơn sốt con vật gầy đi rất nhiều, nếu không can thiệp
kịp thì con vật co giật, giẫy dụa và chết sau khoảng một vài giờ.
+ Thể mãn tính: triệu chứng ở trâu, bò nhiễm T. evansi thường không rõ
ràng, chúng có hiện tượng chung là gầy yếu và chỉ đến khi thời tiết rét, thức ăn
thiếu thốn, với lao tác nặng nhọc làm giảm sức đề kháng thì bệnh mới biểu hiện
lâm sàng rõ hơn. Lúc này con vật có biểu hiện sốt cách nhật, lông xù xì, mắt có
nhử, giác mạc viêm, hay chảy nước mắt, vùng bụng và chân sau bị phù thũng.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [8] cho biết: trâu, bò bị bệnh ở thể mãn
tính thường kéo dài, liệt hai chân sau, dần dần suy nhược rồi chết.
Nhưng trên thực tế có rất ít gia súc có biểu hiện đầy đủ các triệu chứng lâm
sàng, do vậy trong quá trình chẩn đoán ta có thể căn cứ vào các biểu hiện triệu
chứng lâm sàng sau:
- Sốt cao và gián đoạn: Sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu
0
truyền tiên mao trùng, trâu bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,7 C)
kéo dài 2 - 4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên. Thời gian
gián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tuỳ theo thể trọng con vật. Khi sốt,
kiểm tra máu thường thấy tiên mao trùng.
- Hội chứng thần kinh: Ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện hội
chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanh
kêu rống lên. Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi đổ ngã
14
khi chết mổ khám thường thấy một số bệnh tích sau: Chủ yếu là các tế bào
15
gan bị hoại tử, bạch cầu đơn nhân thấm qua phế quản, tế bào ống thận bị hoại
tử và bong ra. Các hạch lâm ba bị sưng, niêm mạc nhợt nhạt.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [7] trâu, bò bị bệnh tiên mao
trùng khi chết gầy xơ xác, mổ khám thấy có những biến đổi bệnh tích đại
thể rõ rệt ở hệ tuần hoàn và hô hấp: Tim nhão, xoang bao tim tích nước
vàng; phổi xung huyết và tụ máu từng đám nhỏ; gan sưng to, nhạt màu;
lách sưng, mềm nhũn và nhạt màu; hạch lâm ba sưng và có tụ máu trong
hạch; cơ nhão, màu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước; xoang ngực và xoang bụng
tích dịch màu vàng nhạt; có những đám keo nhầy vàng dưới vùng da thuỷ
thũng.
2.1.4. Những phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
2.1.4.1. Chẩn đoán lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò,
ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được. Rất nhiều gia súc mang bệnh
nhưng khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc
mắc bệnh tiên mao trùng mãn tính. Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính,
các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên
loạn) và chết nhanh. Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: sốt gián
đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân
sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982 [10] ), chứng sẩy thai có thể thấy ở
trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng (Nguyễn Đăng Khải, 1995 [6]).
Theo Damayanti R và cs. (1994) [29]: Trâu bệnh có những biểu hiện
gầy yếu, kém vận động, bỏ ăn. Khối lượng cơ thể giảm rõ rệt.
Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [11] cho biết: trâu, bò bị thiếu
máu và suy nhược suốt trong quá trình bị bệnh. Hồng cầu giảm thấp chỉ còn 3
mạnh, để khô rồi soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100 hoặc 10 x 90).
Phương pháp này có nhược điểm là dễ làm tổn thương tiên mao trùng,
do đó khó phân biệt được các loài khác nhau trong trường hợp nhiễm nhiều
loài tiên mao trùng cùng một lúc.
+ Phương pháp giọt mỏng: Đặt 1 giọt máu cách 1 đầu phiến kính 2 cm,
dùng la men ria máu thành một lớp mỏng. Để khô, cố định bằng cồn
Methanol trong 2 phút. Nhuộm Giemsa trong 25 phút (l giọt Giemsa + 1 ml
dung dịch PBS pH = 7,2). Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy mạnh, để khô, soi
dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100 hoặc 10 x 90).
Ưu điểm của phương pháp giọt mỏng là có thể phân biệt được hình thái
các loài tiên mao trùng khác nhau.
17
+ Phương pháp làm tan hồng cầu: dung dịch SDS (Sodium Dodecyl
Sulfat) là chất làm tan hồng cầu. Nhờ dung dịch SDS, tiên mao trùng dễ dàng
được phát hiện trong máu. Dung dịch SDS rất độc nên tránh tiếp xúc với da
và tránh hút bằng pipet. Dung dịch SDS dễ bảo quản ở nhiệt độ thường trong
nhiều tháng (Van Meirvenne, 1989).
- Phương pháp tập trung tiên mao trùng:
Người ta đã sử dụng phương pháp ly tâm tập trung tiên mao trùng bằng
ống Haematocrit hoặc tách tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose.
Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit (WOO, 1971):
cho máu động vật nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống được bịt
kín bằng chất dẻo matit, một đầu ống để hở. Ly âm với tốc độ 14.000
vòng/phút trong 5 phút. Sau đó kiểm tra sự tập trung của tiên mao trùng tại vị
trí tiếp giáp giữa huyết tương và hồng cầu (độ phóng đại 10 x 10).
Phương pháp này đơn giản, phát hiện tiên mao trùng tốt hơn phương
pháp xem tươi và nhuộm Giemsa. Song, tỷ lệ phát hiện chưa cao.