HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
LỚP BỒI DƯỠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CAO CẤP
Tổ chức tại Học viện Hành chính. Khoá IV - Năm 2012
Lớp C
ĐỀ ÁN
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG THAM
NHŨNG Ở THÁI BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Người thực hiện : Vũ Quang Dương
Chức vụ
: Phó Thanh tra tỉnh Thái Bình
Đơn vị công tác
: Thanh tra tỉnh Thái Bình
Hà Nội. tháng 6 năm 2012
1
1
Lời nói đầu
Sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu hết sức quan trọng. Kinh
tế tăng trưởng khá, văn hoá xã hội có những tiến bộ, đời sông nhân dân
nhiều lúc chưa nghiêm”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng đã đánh giá: “tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng, chính
trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất
nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị
và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của
chế độ ta”.
Do đó phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trở thành 1 bộ
phận cấu thành quan trọng của toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của
Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay. Nó góp phần nâng cao vai
trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, xây
dựng Đảng và kiện toàn bộ máy Nhà nước trong sạch vững mạnh, thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy mỗi cán bộ đảng viên cần phải
nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ và những tác hại của tham nhũng, biến
những quyết tâm chính trị thành những biện pháp, giải pháp cụ thể để ngăn
chặn và đẩy lùi tệ nạn tham nhũng góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh.
3
3
Với những lý do trên, thông qua việc học tập nghiên cứu lý luận tại
Học viện Hành chính và thực tiễn công tác, tôi chọn nghiên cứu Đề án
“Thực trạng và một số giải pháp phòng ngừa và đấu tranh tham nhũng ở
Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”.
4
4
5
1999) đã trở thành vấn đề chính trị nghiêm trọng, gây ra hậu quả nặng nề
về nhiều mặt, vi phạm đến bản chất của Đảng và Nhà nước của dân, do dân
và vì dân, làm tổn thương lớn đến truyền thống đoàn kết trong xã hội và
nhân dân địa phương, đến tình làng nghĩa xóm, tình đồng chí trong Đảng;
trật tự kỉ cương phép nước bị vi phạm; làm giảm sút lòng tin của nhân dân
đối với cấp Ủy, Đảng, chính quyền các cấp; kinh tế xã hội gặp nhiều khó
khăn. Nghị quyết số 06 ngày 12/1/1998 của Tỉnh uỷ Thái Bình khi đánh giá
về nguyên nhân tình trạng mất ổn định tình hình đã nêu rõ : “Trước hết là
do một hộ phận không nhỏ cán bộ từ tỉnh đến cơ sỏ tham nhũng, tiêu cực,
làm giàu bất chính, lề lốỉ làm việc quan liêu độc đoán chuyên quyền, mất
dân chủ nghiêm trọng, không chấp hành nghiêm chỉnh một số quy định của
pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước...”
Các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng các biện
pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời nhiều vụ việc tham nhũng,
thu hồi một số lượng lớn tiền, tài sản cho Nhà nước và nhân dân. Tuy
nhiên, còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc
đấu tranh phòng ngừa, chống tham nhũng hiện nay.
6
6
II/ Phần 2: Muc tiêu của Đề án.
1. Muc tiêu chung:
Tham nhũng là một thách thức lớn mà chúng ta phải đối mặt trên con
Chương 2: Thực trạng tình hình tham nhũng và phòng chống tham
nhũng ỏ Thái Bình từ năm 1990 đến nay.
8
8
Chương I: Cơ sở lý luân và quy đinh của pháp luât về công tác phòng ngừa
và đấu tranh chống tham nhũng.
I/ Khái quát về tham nhũng,
1/ Khái niệm về tham nhũng.
Tham nhũng là một hiện tượng; xã hội gắn liền với sự hình thành
giai cấp và sự ra đời phát triển của bộ máy Nhà nước. Tệ nạn tham nhũng
diễn ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, không kể
quốc gia đó là giàu hay nghèo, tham nhũng diễn ra ở mọi lĩnh vực kinh tế,
xã hội, văn hoá, nó tồn tại và phát triển, len lỏi vào mọi mặt của đời sống
xã hội và đụng chạm đến lợi ích của hầu hết dân cư. Tham nhũng trở thành
một căn bệnh nguy hiểm, nó gây ra những hậu quả hết sức nguy hại về mặt
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, nó cản trở sự phát triển đi lên của xã hội,
thậm chí nó dẫn đến sự sụp đổ của cả một thể chế.
Khái niệm tham nhũng gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với sự tồn tại và phát
triển của bộ máy Nhà nước. Về mặt lý luận thì không thể có tệ tham nhũng
ngoài Nhà nước, tách khỏi bộ máy quản lý cai trị. Cũng như quan liêu,
tham nhũng là căn bệnh đồng hành đặc trưng của mọi Nhà nước, nó là
khuyêt tật bẩm sinh của quyền lực, đó là biểu hiện của sự tha hoá quyên lực
của Nhà nước, là căn bệnh không thể tránh khỏi của các chế độ. Tham
nhũng là hiện tượng mà không ai có thể phủ nhận về sự tồn tại cũng như
tính nguy hại của nó đối với xã hội. Tuy nhiên khi nhận thức về tham
nhũng thì chưa có một định nghĩa chung nhất và cụ thể về tham nhũng.
an nhân dân;
c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh
đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh
nghiệp;
d) .Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi
thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”.
Như vậy, có bốn nhóm đối tượng được coi là người có chức vụ,
quyền hạn.
Nhóm thứ nhất, nêu tại điểm a là cán bộ, công chức, viên chức được
quy định cụ thể trong Luật Cán bộ, công chức, đây là nhóm đối tượng chủ
yếu, chiếm tỷ lệ lớn về số lượng trong số người có chức vụ, quyền hạn
10
10
thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng. Đồng thời,
cán bộ, công chức, viên chức cũng là nhóm đối tượng thường nắm giữ
những vị trí, công việc liên quan đến vốn, tài sản nhà nước hoặc tiếp xúc
trực tiếp, giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp, có nhiều cơ hội
để thực hiện hành vi tham nhũng nên cần được thể chế hóa và giám sát chặt
chẽ để giảm thiểu nguy cơ tham nhũng.
Nhóm thứ hai gồm những người có chức vụ, quyền hạn nêu tại điểm
b là nhóm đối tượng có địa vị pháp lý tương đối đặc thù, thuộc các lực
lượng vũ trang nhân dân và được quy định cụ thể tại Luật Quốc phòng và
Luật Công an nhân dân.
Nhóm thứ ba nêu tại điểm c có thể được chia thành hai loại: thứ nhất,
những cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước, theo đó,
doanh nghiệp của Nhà nước được hiểu là doanh nghiệp một trăm phần trăm
vốn nhà nước; thứ hai, cán bộ lãnh dạo, quản lý là người đại diện phần vốn
đối mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tham nhũng đã
được nhận diện là một căn bệnh nguy hiểm, là mối đe doạ đối với toàn xã
hội, đối với sự nghiệp cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang dày
công xây dựng; Hiện nay tệ tham nhũng ở nước ta đã ở mức nghiêm trọng,
tham nhũng không chỉ xảy ra đối với cấp trung ương, đối với các chương
trình dự án lớn mà còn tràn lan trong các cấp chính quyền cơ sở. Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đánh giá: "tình
trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sông ở một
bộ phận không nhỏ cản hộ, đảng viên là rất nghiêm trọng, Nạn tham
nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức
kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”.
4/ Quan điểm của Đảng về phòng chống tham nhung:
Tham nhũng là căn bệnh của quyền lực, đấu tranh chống tham nhũng
chủ yếu và trước hết là chống tham nhũng trong bộ máy quyền lực. Đây là
cuộc đấu tranh hết sức gay go và phức tạp bởi đối tượng của nó chính là
bản thân những con người và khuyết tật của bộ máy nhà nước. Để loại bỏ
được căn bệnh nguy hiếm này chúng ta phải nắm vững những quan điểm
của Đảng về chống tham nhũng như:
Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn chặt với đổi mới kinh tế - xã
12
12
hội, nâng cao đời sống của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân. Phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới hệ
thống chính trị, xây dựng Đảng và kiện toàn tăng cường đoàn kết nội bộ.
Góp phần làm trong sạch bộ máy các cơ quan Đảng, nâng cao sức chiến
đấu của từng đảng viên và cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến cơ sở.
Chống tham nhũng phải gắn liền với chống quan liêu, lãng phí. Đại hội IX
huy lực lượng hùng hậu này.
5 . Các biện pháp xử lý đối với người có hành vi tham nhũng:
Theo quy định tại Điều 68 và Điều 69 Luật phòng, chống tham
nhũng thì người có hành vi tham nhũng có thể phải chịu 2 loại chế tài là kỷ
luật và hình sự, cụ thể:
Điều 68. Đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự gồm: 1. Người
có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật này. 2. Người không
báo cáo, tố giác khi biết được hành vi tham nhũng. 3. Người không xử lý
báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng. 4. Người có hành vi đe doạ,
trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin
về hành vi tham nhũng. 5. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy
ra hành vi tham những trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ
trách. 6. Người thực hiện hành vi khác vi phạm quy định của Luật này và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 69. Xử lý đối với người có hành vi tham nhung: Người có
hành vi tham nhũng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật, truy cứu trách nhiệm hình sự; trong trường hợp bị kết án về hành vi
tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc
thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương
nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
6. Các biện pháp xử tham nhũng, xử lý tài sản do tham nhũng mà có:
Điều 4. Nguyên tắc xử lý tham nhũng: 1. Mọi hành vi tham nhũng
đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh. 2.
Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải bị xử lý
theo quy định của pháp luật. 3. Tài sản tham nhũng phải được thu hôi, tịch
thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi
hoàn theo quy định của pháp luật. 4. Người có hành vi tham nhũng đã chủ
14
14
15
15
7. Vi trí, vai trò, nhiệm vụ của cơ quan thanh tra trong công tác phòng,
chống tham nhũng:
Luật thanh tra được Quốc hội Khoá 11 thông qua ngày 15/6/2004.
Điều 3, Luật thanh tra quy định về mục đích thanh tra : Hoạt động thanh tra
nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát
hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy
nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước;
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
Điều 2, Luật thanh tra 2010 nêu về Mục đích hoạt động thanh tra:
Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý,
chính sách, pháp luật đề kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp
luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật;
phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Vai trò, vị trí của các tổ chức thanh tra nhà nước trong công tác
phòng, chống tham nhũng cũng được thể hiện khá rõ trong các quy định về
nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra. Các cơ quan trong hệ thống
thanh tra nhà nước : Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện,
Thanh tra bộ, Thanh tra sở đều có nhiệm vụ chung là phòng ngừa và chống
tham nhũng theo quy định của pháp luật về chống tham nhũng; tổng hợp,
báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống
phân tử qúa khích đập phá tài sản của Nhà nước, tập thể và tài sản của công
18
18
dân, một số Đảng bộ cơ sở mất vai trò lãnh đạo, đứng ngoài cuộc, chính
quyền một số nơi bị vô hiệu hoá. Nhiều xã đã hình thành “Ban Thanh tra
Nhân dân” một cách tự phát, tự ý niêm phong tài liệu của UBND xã và
HTX nông nghiệp, tiến hành tự thanh tra kiểm tra trái với quy định của
pháp luật...
Trước tình hình trên, thực hiện sự chỉ đạo của Tổ công tác Bộ Chính
trị, Tỉnh uỷ Thái Bình đã họp đề ra Nghị quyết số 06 phân tích nguyên
nhân tình hình KNTC của công dân, đề ra các chủ trương, giải pháp ổn
định tình hình, trong đó xác định công tác thanh tra giải quyết KNTC là
nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ có Chỉ thị số 11 yêu
cầu cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các ngành tăng cường lãnh đạo. chỉ
đạo và tổ chức hoạt động thanh tra giải quyết KNTC.
2. Tinh hình tham nhũng ở Thái Bình thông qua hoạt động thanh tra (19902010).
2. 1. Khái quát chung :
Thái Bình nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất công nghiệp,
thương mại dịch vụ mới bước đầu phát triển, nguồn ngân sách hạn hẹp, chi
ngân sách còn nhiều khó khăn. Tuy vậy tình hình tham nhũng vẫn còn diễn
biến phức tạp có thể đánh giá khái quát như sau:
Một là: Mức độ tham nhũng tăng, qua kết quả thanh tra cho thấy số
các vụ tham nhũng được phát hiện có xu hướng tăng thể hiện ở số lượng tài
sản của nhà nước bị chiếm đoạt, lãng phi, thất thoát; ngày càng có nhiều vụ
việc tham nhũng bị phát hiện.
Hai là: Phạm vi tham nhũng xảy ra ở các cấp các ngành. Ngoài
những lĩnh vực nhạy cảm hay xảy ra tham nhũng như đầu tư xây dựng cơ
Trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng; Trong việc thực hiện các chương trình
dự án phát triển kinh tế; Trong các lĩnh vực xã hội; Trong lĩnh vực y tể giáo
dục:
2.3 Những tồn tại, hạn chế:
- Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về đấu tranh chống
tham nhũng, tiêu cực chưa được thường xuyên, sâu rộng. Việc triển khai
thực hiện ở các cấp các ngành chưa đồng đều, kiên quyết và triệt để. Từ
năm 1990, thực hiện Chỉ thị số 15, kết luận số 207 của bộ Chính trị, quyết
20
20
định số 240, quyết định số 114 của Chính phủ, các cấp các ngành đã thành
lập Ban chỉ đạo chống tham nhũng, tiêu cực, song không được kiện toàn,
củng cô thường xuyên, đến nay phần lớn không còn hoạt động.
- Lành đạo một số cấp, ngành, cơ quan, đơn vị, chưa nêu cao tinh
thần trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu trong việc thực hiện cuộc
đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Chưa tự tổ chức thanh tra, kiểm tra,
ngăn chặn, phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực trong nội bộ. Hầu hết
các vụ việc tham nhũng tiêu cực đều do các cơ quan chức năng (như Thanh
tra, Công an ...) phát hiện qua hoạt động và từ ý kiến, kiến nghị của quần
chúng nhân dân.
- Số lượng tiền, tài sản có sai phạm bị thất thoát, tham ô chiếm đoạt
phát hiện lớn song kết quả thu hồi chưa nhiều, việc xử lý cán bộ có vi
phạm, có vụ việc, có đơn vị làm chưa nghiêm, còn nương nhẹ, không xử lý
hoặc cho người vi phạm nghỉ chế độ, chuyển công tác, đã tạo ra tâm lý hoài
nghi, thiếu tin trong cán bộ và nhân dân, làm giảm hiệu quả, hiệu lực của
cuộc đấu tranh, Có những đơn vị, cá nhân vi phạm sau khi bị xử lý được
uốn nắn, nhắc nhở nhưng không khắc phục mà còn tái phạm, ở một số lĩnh
chống tham nhũng, tiêu cực, còn có vi phạm.
- Việc thực hiện cải cách hành chính tiến hành chậm, thủ tục hành
chính trong việc giải quyết các công việc cho dân, cơ quan, tổ chức ở một
số ngành, lĩnh vực còn rườm rà, chưa công khai, gây ra những phiền hà cho
nhân dân.
- Hành vị tham nhũng, tiêu cực diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp.
Nhiều vụ việc liên quan đến nhiều đơn vị, cá nhân, việc phát hiện và làm rõ
có nhiều khó khăn song lực lượng trực tiếp chống tham nhũng, tiêu cực chủ
yếu là do các ngành khối Nội chính nên chưa đủ mạnh. Chưa có cơ chế
điều hoà, phối hợp chặt chẽ giữa cấp uỷ Đảng, chính quyền và các ngành
chức năng nên hiệu lực, hiệu quả của cuộc đấu tranh còn hạn chế.
- Chưa phát động được phong trào đấu tranh mạnh mẽ, rộng khắp
trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là ở các cơ quan, doanh nghiệp,
thiếu những quy định cơ chế cụ thể, để nhân dân tích cực giám sát kiểm tra
tham gia cuộc đấu tranh chống tham nhũng. tiêu cực có hiệu quả.
IV/ Phần 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham
22
22
nhũng, tiêu cực trong thời gian tới
I. Để nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cưc, cần
thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:
Trên cơ sở chủ trương, quan điểm và các giải pháp của Đảng và Nhà
nước về phòng, chống tham nhũng và việc nghiên cứu một cách toàn điện
về nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh, những lĩnh vực dễ phát sinh tham
nhũng có thể đưa ra nhóm giải pháp phòng ngừa và chống tham nhũng như
sau;
1/ Bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, đảm bảo
hợp chặt chẽ trong hoạt động tạo ra sức mạnh đồng bộ đế phát hiện và xử
lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc tham nhũng, tiêu cực.
6/ Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phát động
rộng rãi phong trào quần chúng tham gia phát hiện với các cơ quan chức
năng các vụ việc tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường vai trò giám sát của
Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp và các đoàn thể nhân dân,
các CO' quan thông tin đại chúng đối với hoạt động các cấp, các ngành, các
đơn vị nói chung và với thực hiện cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu
cực.
Để các giải pháp trên đây có tính khả thi và sớm được thực hiện xin
kiến nghị như sau:
- Đảng và Nhà nước cần có nhiều biện pháp kiên quyết hơn nữa
trong việc đấu tranh chống tham nhũng, kết hợp với tích cực phòng ngừa
ngăn chặn có hiệu quả. Thông qua các hoạt động thanh tra kiểm tra của các
cơ quan Đảng và Nhà nước ở Trung ương và giám sát của Quốc hội để kịp
thời phát hiện và xử lý sớm những hiện tượng tiêu cực tham nhũng và công
khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Bộ luật hình sự và Luật chống tham nhũng hiện hành là những cơ
sở pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh phòng và chống tham nhũng và
đã đạt được kết quả tương đối khả quan. Tuy nhiên diễn biến của tình trạng
tham nhũng hiện nay ở nước ta đòi hỏi cần có nhiều hơn nữa các giải pháp
đồng bộ, trong đó việc hoàn thiện thể chế pháp luật cần phải được ưu tiên
sớm. Trước mắt theo tôi nên sửa đổi một số điều của Bộ luật hình sự, xây
dựng Luật chống tham nhũng có như vậy mới quy định được đầỳ đủ các
24
24
biện pháp cần thiết, đồng bộ đảm bảo cho hiệu lực và hiệu quả chống tham
25