Đảng bộ tỉnh an giang lãnh đạo thực hiện công tác tôn giáo (1990 2004) - Pdf 35

LUẬN VĂN:

Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo thực
hiện công tác tôn giáo
(1990 - 2004)


mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
tôn giáo vừa là một hình thái ý thức xã hội, vừa là một thực thể xã hội. Nó ra đời
cách đây hàng ngàn năm, cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người. Từ lâu,
tôn giáo đã trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân ở hầu hết
các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Việt Nam cũng nằm trong xu thế chung đó. Từrất sớm,
một số tôn giáo ngoại sinh du nhập vào nước ta như: Phật Giáo, Hồi Giáo, Thiên Chúa
Giáo, Tin Lành. Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, do nhu cầu tín ngưỡng của một bộ
phận lớn quần chúng nhân dân khu vực Nam Bộ đã hình thành nên những tôn giáo mới
(tôn giáo nội sinh) như Cao Đài, Phật Giáo Hoà Hảo. Do đó, đến nay Vịêt Nam được xem
là quốc gia đa tôn giáo (có 6 tôn giáo chính thức). Vấn đề tôn giáo luôn là vấn đề phức tạp
và nhạy cảm ở Việt Nam, vì vậy ngay từ rất sớm Đảng ta có cách nhìn nhận và đánh giá
đúng đắn về vai trò của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân. Trong thời kỳ mới Đảng ta
có Nghị quyết 24 của BCT (ngày 16-10-1990) về tôn giáo, Nghị quyết này đã tạo nên
bước ngoặt quan trọng trong công tác tôn giáo.
Quán triệt Nghị quyết 24 của BCT, từ 1990 Đảng bộ tỉnh An Giang đã lãnh đạo
thực hiện công tác tôn giáo ở địa phương với những nét sáng tạo độc đáo riêng ở một tỉnh
biên giới đa dân tộc, đa tôn giáo của vùng Tây Nam Bộ. Do đó, việc chọn đề tài “Đảng bộ
tỉnh An Giang lãnh đạo thực hiện công tác tôn giáo (1990 - 2004)” làm luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng, tác giả bước đầu tìm hiểu nét đặc thù của tôn
giáo ở An Giang và sự lãnh đạo của Đảng bộ trong lĩnh vực tôn giáo. Đây là công tác
quan trọng của Đảng và Nhà nước trên mặt trận văn hoá tinh thần của bộ phận đông dân
cư ở tỉnh An Giang, rất cần được tổng kết, rút ra kinh nghiệm cho hoạt động lãnh đạo, chỉ
đạo ở các giai đoạn cách mạng tiếp theo của Đảng.

Tôn giáo luôn là vấn đề phức tạp. Dưới góc độ lịch sử, luận văn chỉ đi sâu tìm
hiểu công tác tôn giáo của Đảng bộ và tập trung vào thời kỳ 1986 – 2004.


4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về tôn giáo.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, chú trọng
sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh để làm rõ mục tiêu nhiệm vụ của luận văn.
5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Đến nay tác giả chưa thấy có đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ lịch sử nào
nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh An Giang trong việc tổ chức thực hiện đường
lối của Đảng trên lĩnh vực tôn giáo. Vì vậy, thực hiện luận văn này cũng là một đóng góp
vào việc tổng kết lịch sử của Đảng ở địa phương.
6. ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn bước đầu hệ thống hoá những chủ trương chính sách của Đảng về công
tác tôn giáo và quá trình lãnh đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh An Giang, nêu ra được sự
vận dụng sáng tạo những chủ trương chính sách của Đảng về công tác tôn giáo của Đảng
bộ tỉnh An Giang vào điều kiện cụ thể của địa phương.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo công tác giảng dạy và nghiên cứu ở các
trường chính trị, cao đẳng và đại học; nhất là đối với giảng viên dạy ngành lịch sử Đảng,
tôn giáo, dân vận.
- Là tài liệu đóng góp cho việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức
của đảng bộ cơ sở về việc quán triệt, vận dụng đường lối của Đảng, chính sách pháp luật
Nhà nước vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.

Ngày 23.5.1997 Uỷ ban Dân tộc miền núi công nhận 21 xã vùng núi thuộc 2 huyện
Tri Tôn (9 xã) và Tịnh Biên (12 xã) theo quyết định 42/UBQĐ và công nhận vùng dân tộc
đồng bằng gồm xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn và 5 xã: Đa Phước, Khánh Bình, Quốc
Thái, Nhơn Hội, Vĩnh Tường của huyện An Phú. Ngày 25.2.1998 Uỷ ban nhân dân Tỉnh
ra Quyết định 21/1998/UBQĐ, An Giang có 17 xã biên giới của 5 huyện giáp Campuchia.
Tính đến 20.5.2003, dân số An Giang là 2.141.256 người trong đó dân số sống ở thành
thị chiếm 21,49%, ở nông thôn 78,51% đồng bào dân tộc thiểu số gồm: Khmer, Chăm,
Hoa chiếm 5,64 % dân số. Đồng bào Khmer có 90.441 người, chiếm 4,22% dân số, ở 5


huyện, 26 xã (chủ yếu ở các huyện: Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú, Châu Thành, Thoại
Sơn). Đồng bào người Hoa có 15.989 người, chủ yếu sinh sống ở các thị trấn, phường nội
ô thành phố Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu. Đồng bào Chăm có 14.274 người, sống
tập trung ở các huyện An Phú, Tân Châu, PhúTân, Châu Thành, Thoại Sơn. Đồng bào
Khmer, Chăm, Hoa gắn bó đoàn kết với đồng bào Kinh từ lâu, luôn cần cù lao động, có ý
thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc .
1.1.2. Đời sống văn hoá, tín ngưỡng ở An Giang
An Giang là một tỉnh mới được khai phá từ triều Nguyễn, thuộc đồng bằng sông
Cửu Long, nhưng lại có nhiều núi non hùng vĩ. Từ xa xưa, đây là vùng rừng rậm, hoang
vu với những ngọn núi cao mang tên Phụng Hoàng Sơn, Bạch Hổ Sơn, Ngọc Long Sơn,
Bích Thuỷ Sơn, Ngủ Hổ Sơn, Hoạ My Sơn, Thiên Cấm Sơn, lại có nhưng nơi đầm lầy,
sông ngòi chằng chịt với những cù lao, cồn Tiên, cồn Cát,...Cuộc sống với nền kinh tế
được thiên nhiên ưu đãi nên người dân sống chủ yếu dựa vào rừng núi, sông rạch với các
nghề như trồng lúa nước, đánh bắt cá, làm rẫy, đốn củi đốt than, lấy cây thuốc... Trước
đây do điều kiện giao thông khó khăn nên người dân địa phương còn lệ thuộc nhiều vào
thiên nhiên; bên cạnh đó sự áp bức bóc lột của thực dân phong kiến khiến đời sống nhân
dân ngày càng khốn khó và ngày càng phụ thuộc vào thiên nhiên.
An Giang là tỉnh biên giới nên sớm là nơi hội tụ và giao lưu nhiều nền văn hoá của
các dân tộc trong nước và khu vực. Song nổi trội hơn cả là sự giao lưu văn hoá của các
dân tộc cùng chung sống và khai khẩn trên vùng đất này. ở đây, văn hoá của những cư

Ông được đệ tử và nhân dân trong vùng suy tôn là Đức Phật thầy Tây An. Hoạt động của
Ông chủ yếu là chữa bệnh cứu người, khai hoang, dạy người tu hành làm điều lành, tránh
điều dữ, nên đáp ứng được nhu cầu của người nông dân và hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ.
Đó là lý do khiến đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tồn tại và phát triển mạnh mẽ; đến năm 1856
đã có mấy mươi vạn tín đồ khắp miền Tây Nam bộ.
Khi thực dân Pháp xâm lược, những trại ruộng của Bửu Sơn Kỳ Hương trở thành
căn cứ chuẩn bị khởi nghĩa chống Pháp. Điển hình là cuộc khởi nghĩa của Quản Cơ Trần
Văn Thành (1867 – 1873). Nhiều đệ tử của Phật thầy Tây An anh dũng chống Pháp đã
được tín đồ tôn thờ và cúng viếng hằng năm như: Đức Cố Quản Trần Văn Thành, Ông
Đình Tây (Bùi Văn Tây), Ông Cử Đa (Nguyễn Thành Đa).


Sau khi các cuộc khởi nghĩa chống Pháp nói trên bị thất bại, thực dân Pháp thẳng
tay đàn áp tàn bạo, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không còn phát triển như trước (khẩn hoang,
lập trại ruộng) mà xuất hiện dưới hình thức giảng đạo. Phật giáo Hoà Hảo và Tứ Ân Hiếu
Nghĩa cũng là chi phái của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.
Đức Bổn Sư (Ngô Lợi), là môt trong các học trò ưu tú của Phật thầy Tây An, đã
sáng lập ra đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tại Châu Đốc năm 1867. Ông Ngô Lợi (1831 – 1890)
quê quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, tham gia nghĩa quân chống thực dân Pháp.
Bị đàn áp, Ông trốn lên vùng Bảy Núi khai hoang và lập ấp. Năm 1851 đến 1866,
Ông viết một số sách kinh, đi rao giảng và khuyên người đời không nên ham lấy công
danh phú quý, phải biết yêu thương đồng bào, nhân loại, có trách nhiệm với đất nước khi
có ngoại xâm. Ông vừa khuyên người đời nên tu nhân tích đức, vừa bốc thuốc chữa bênh
(lúc này bệnh dich đang hoành hành), nên thu hút hàng vạn người tìm đến để chữa bệnh
và học đạo.
Mồng 5 tháng 5 âm lịch (1867), Ông chính thức truyền đạo và dạy nghi thức hành
đạo. Ban đàu ông cho lập chùa tại xã Bình Long (Châu Phú, An Giang). Nhưng do thực
dân Pháp nghi ngờ, nên Ông dẫn nhiều tín đồ vào núi Tượng để “trảm khảo, khai sơn”,
xây dựng xóm làng mới. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa phát triển nhanh và gắn liền với quá
trình hình thành và phát triển những làng đạo, vùng đất mới của những người nông dân

nhiều lần sửa sang, đến năm 1972, Miếu được xây dựng lại qui mô và tráng lệ theo kiểu
hình khối tháp, có bốn tầng mái cong lợp ngói óng, tráng men xanh với nghệ thật chạm gỗ
rất tinh xảo. Toàn khu Miếu Bà là một công trình nghệ thuật tiêu biểu cho sự hài hòa của
nền kiến trúc truyền thống, dân tộc và hiện đại tạo thành khu danh thắng của An Giang.
Miếu đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận và xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa năm
1989.
Pho tượng Bà Chúa Xứ gắn liền với huyền thoại, với nhiều cách giải thích. Có một
truyền thuyết được dân gian truyền tụng từ đời này qua đời khác và được nhiều sách vở
ghi chép lại cho đến nay như sau: cách đây gần 200 năm, lúc bấy giờ tượng Bà còn ngự
trên đỉnh núi Sam, bị giặc Xiêm phá hoại. Chúng tìm cách khiêng đi nhưng không thể nào
xê dịch được. Sau đó, có một bé gái được Bà đập đồng mách bảo: “Hãy chọn chín cô gái
đồng trinh để đem bà xuống núi”. Dân làng làm theo và lạ thay pho tượng được chuyển đi
dễ dàng, nhưng khi đến chân núi thì không thể xê dịch được nữa. Từ đó dân làng dựng lên


ngôi miếu để thờ. Hôm đó là ngày 25 tháng 4 âm lịch, dân làng lấy ngày này làm ngày lễ
vía Bà. Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam hàng năm thoạt đầu chỉ do dân làng tham gia cúng tế,
dần dần lượng du khách từ khắp nơi trong cả nước về đây trẩy hội rất đông. Có thể nói
đây là một lễ hội dân gian lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long. Những năm gần đây, di
tích đã thu hút hàng triệu lượt du khách đến chiêm bái và tham quan .
Như trên đã trình bày, An Giang là tỉnh có nhiều tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo
ngoại nhập và tôn giáo nội sinh. Tôn giáo nào cũng ra sức củng cố đức tin cho tín đồ
thông qua lễ nghi sinh động, giáo luật luôn cải sửa cho thích nghi với đời sống xã hội, cơ
sở thờ tự tu sửa khang trang, nhiều tu sĩ được đào tạo ...nên hoạt động thu hút đông đảo
tín đồ đến nơi thờ tự. Một số tín đồ trẻ, tuy có ý thức thoát ly dần sự ràng buộc của giáo
hội để lao vào cuộc sống tìm cơ hội lập thân, lập nghiệp, nhưng khi gặp khó khăn trắc trở,
họ chưa đủ sức vượt qua, nên lại tìm đến giáo hội cầu xin sự hỗ trợ vật chất hoặc chỗ dựa
tinh thần. Do đó, tín đồ các tôn giáo này vẫn không ngừng tăng lên.
Sau ngày giải phóng (1975) đồng bào có đạo ở An Giang ngày càng tin tưởng sâu
sắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thấu suốt chính sách nhất quán đúng đắn của Đảng và Nhà

nhân dân An Giang có những nét đặc sắc riêng.
Phật giáo
ở An Giang Phật giáo có 778.431 tín đồ (87.450 người Khmer) trong đó có 645
chức sắc, sinh hoạt tại 319 cơ sở thờ tự (64 chùa Khmer). Dưới chế độ mới các hoạt động
của Phật giáo gắn bó với dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục phát huy được truyền thống
yêu nước, tích cực hoạt động từ thiện cứu trợ. Một số tăng ni phật tử đã lợi dụng sinh hoạt
tôn giáo để vụ lợi .
Đa số sư sãi người Khmer còn trẻ, trình độ học còn hạn chế nên vai trò xã hội
giảm. Tuy đã tách dần khỏi sự chi phối của Phật giáo ở Campuchia, gắn bó chặt chẽ trong
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhưng Phật giáo ở An Giang vẫn còn chịu ảnh hưởng nhất
định từ bên ngoài.
Những hoạt động chính trị quá khích của nhóm Phật giáo Thống nhất cũ, tuy có tác
động đến Phật giáo An Giang, nhưng không làm ảnh hưởng nhiều đến mặt tích cực của
Phật giáo trong tỉnh.
Công giáo.


Công giáo có 60.225 tín đồ, 56 chức sắc (2 giám mục, 58 linh mục) 261 tu sĩ, 52
cơ sở thờ tự và 1 Toà Giám mục Giáo Phận. Tôn giáo ở An Giang hoạt động theo Thư
chung của Hội đồng Giám mục “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc, phục vụ hạnh phúc
đồng bào” ý thức dân tộc và trách nhiệm công dân của giáo dân nâng lên. Một mặt họ
luôn luôn tôn trọng và “thân thiện với chính quyền”, không vi phạm pháp luật, tạo căng
thẳng, nhưng mặt khác họ tranh thủ chính sách đổi mới và khai thác những sơ hở của ta
để tập trung củng cố tổ chức cơ sở, củng cố đức tin ở thanh thiếu niên và thường thông
qua hoạt động công tác từ thiện phát triển tín đồ.
Hội đồng Giáo Xứ với hoạt động tích cực của các hội đoàn đã vượt qúa nhu cầu tín
ngưỡng tôn giáo. Một số hội đoàn bất hợp pháp tuy đã bị giải tán, nhưng vẫn lén lút tìm
cách khôi phục lại để phục vụ mục tiêu của Giáo hội là phát triển đạo và nắm quần chúng.
Phật giáo Hòa Hảo
Phật giáo Hòa Hảo có 791.715 tín đồ, 110 chức viện (đại diện Phật giáo Hòa Hảo),

Tín đồ Hồi giáo có thân nhân nước ngoài khá đông và thường xuyên quan hệ qua
lại. Họ luôn bị nhiều thế lực Hồi giáo cực đoan lôi kéo, tuy có bị ảnh hưởng nhất định
nhưng chưa thấy có vấn đề chính trị phức tạp.
Cao Đài
Cao Đài có 80.424 tín đồ, đa số là tín đồ Cao Đài Tây Ninh, 17 lễ sanh, 126 chánh,
phó trị sự và thông sự; 30 thánh thất, 4 điện thờ Phật mẫu và 6 chùa. ở An Giang có 5 hệ
phái: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Ban Chỉnh Đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Chiếu
Minh, Thiên Khai Huỳnh Đạo. Tín đồ đạo Cao Đài chủ yếu là nông dân, chấp hành đúng
pháp luật, chính sách của Nhà nước. Song 40 năm qua, có hàng trăm tên chức việc và Cao
Đài Tây Ninh (theo Hộ pháp Phạm Công Tắc) luôn chống lại Hội Thánh, nay cấu kết với
Lê Quang Tấn hoạt động trái phép, làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội.
Tứ Â n Hiếu Nghĩa
Tứ Ân Hiếu Nghĩa có hơn 41.297 tín đồ, 25 trưởng gánh, 119 cư sĩ, 28 cơ sở thờ tự
(chùa). Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tu hành theo sự hướng dẫn của trưởng gánh và cư sĩ trong
gánh; không có tổ chức hành chính trong Giáo hội.
Tín đồ của đạo Tứ Ân HIếu Nghĩa, hầu hết là nhân dân lao động, có truyền thống
yêu nước và cách mạng, nên hoạt động tôn giáo của họ luôn gắn với dân tộc, tuân thủ chủ
trương chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Họ tham gia tích cực các phong trào


xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở địa phương. Nhưng do hình thức sinh hoạt
tôn giáo theo từng gánh tập thể riêng rẽ, nên trong nội bộ đạo, giữa gánh này với gánh
khác đôi lúc có xảy ra mâu thuẫn, mất đoàn kết, tạo nên sơ hở để bọn xấu lợi dụng.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có hơn 10.596 tín đồ, 08 cơ sở thờ tự. Tín đồ Bửu Sơn
Kỳ Hương tu tại gia, gắn với nền nếp thờ cúng ông bà theo truyền thống của dân tộc Việt,
chỉ riêng những ngày lễ quan trọng như lễ Kỷ niệm Phật thầy Đoàn Minh Huyên thì họ
mới tập trung đến chùa làm lễ. Chùa do chủ tự trông coi, thắp hương hằng ngày. Hiện
Bửu Sơn Kỳ Hương không có người đứng đầu và không có tổ chức giáo hội. Do đó, hoạt
động của tôn giáo này suốt từ khi thành lập đến nay tương đối trật tự.

góp phần tạo nên một môi trường xã hội lành mạnh, một đời sống tinh thần ấm áp cho
người dân.
Bên cạnh đó, do quá nặng nề về lễ nghi tôn giáo, nên tín đồ các tôn giáo thường có
ít thời gian, công sức dành cho phát sản xuất và các hoạt động văn hoá, xã hội nên đời
sống chậm phát triển. ở An Giang Sự phụ thuộc quá lớn về giáo lý, giáo luật của một số
tôn giáo như Phật giáo Tiểu thừa Nam Tông của dân tộc Khmer và Hồi giáo của dân tộc
Chăm đã làm chậm quá trình phát triển của cộng đồng dân cư. Đây là một trong những
nguyên nhân đã làm cho cộng đồng người Khmer và người Chăm bị tụt hậu hơn so vơi
cộng đồng dân cư khác trong Tỉnh về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội. Bên cạnh đó, do ảnh
hưởng của kinh tế thị trường, các giá trị chuẩn mực đang ít nhiều bị đảo lộn và tác động
đến đời sống nhân dân trong Tỉnh nói chung và đời sống người dân có đạo nói riêng. Đời
sống của người dân trong Tỉnh đã bộc lộ nhiều điều đáng lo ngại: Đó là sự phục hồi
những phong tục tập quán cũ có cả lạc hậu và mê tín, thể hiện trong lễ hội định kỳ của các
tôn giáo. Hơn nữa có những biểu hiện của sự xa rời những giá trị văn hóa truyền thống,
thay vào đó là tệ sùng bái nước ngoài, lối sống thực dụng, xem hưởng thụ vật chất là tối
thượng dẫn đến các tệ nạn xã hội. Ngoài ra nhiều phong tục tập quán của dân tộc, tôn giáo
đã và đang trở thành gánh nặng cho đồng bào trong khi đời sống của họ rất khó khăn
nghèo túng. Mặt khác họ bị các thế lực xấu lợi dụng nên một số gia đình đã từ bỏ tôn giáo
nhiều đời của gia đình dòng họ mình để đi theo tôn giáo mới. Những quan niệm lạc hậu
trọng nam khinh nữ (phụ nữ chỉ lo việc bếp núc, chăm lo gia đình, không cần học chữ,..),
hay chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại trong cộng đồng dân tộc.


Trong thời kỳ đổi mới, đời sống của nhân dân ngày càng phát triển. Song song với
đời sống vật chất được nâng cao, đời sống tinh thần, trong đó có hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo của nhân dân cũng được nâng cao theo. Các giá trị văn hoá, đạo đức truyền thống
đang từng bước được duy trì và phát triển thông qua phong trào quần chúng hướng về cội
nguồn, đền ơn đáp nghĩa, xoá đói giảm nghèo, chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp
đỡ nhau trong lao động sản xuất, sống bao dung trọng nghĩa trọng tình. Nhiều gia đình
dân tộc thiểu số và người dân có đạo đã đã biết tính toán làm ăn có hiệu quả, phụ nữ có

ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu”(1). Như vậy, tôn giáo là sản
phẩm của lịch sử, do con người sáng tạo ra, rồi bị tôn giáo chi phối trở lại. “Con người
sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”(2)(C.Mác và Ăngghen
toàn tập Nxb CTQG HN 1995 t1 tr 569)
Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử văn hoá
nhân loại, Hồ Chí Minh cho rằng, tôn giáo là một hiện tượng có tính lịch sử, xã hội và văn
hóa, tham gia vào quá trình sáng tạo văn hoá nhân loại. Trong Nhật ký trong tù ở mục
Đọc sách, Người viết: “ý nghĩa của văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa
hoc, tôn giáo, văn học, nghệ thật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các
phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát sinh đó tức là văn hóa”(Hồ Chí
Minh ttNxb CTQG, HN 1995 t3 tr 431)
Như vậy, tôn giáo là một thực thể xã hội, luôn gắn liền với đời sống kinh tế, xã hội,
văn hoá của một nước, là nhu cầu tinh thần của đại bộ phận nhân dân. Theo Các Mác:
“ngay trong một nước mà giải phóng chính trị đã hoàn thành, tôn giáo không những vẫn
tồn tại mà còn biểu hiện sức sống và sức mạnh, thì điều đó chứng tỏ rằng tồn tại của tôn
giáo không mâu thuẫn với tính chất hoàn thiện của nhà nước”(2). Tôn giáo do con người
sáng tạo ra và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội loài người. Để đáp ứng nhu cầu tôn
giáo, bất cứ một nhà nước nào, tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhằm tổ chức mối quan
hệ giữa cái trần tục và cái siêu nhiên, phục vụ cho yêu cầu của chế độ, cũng phải định ra
một thái độ ứng xử đối với tôn giáo. Đó là chính sách tôn giáo.
Nhà nước phong kiến, cả phương Đông và phương Tây, thường dựa vào một tổ
chức tôn giáo để điều hành đất nước. Hơn thế ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, chủ
nghĩa thực dân cũng thường sử dụng tôn giáo làm công cụ để xâm lược và thống trị. Các
dân tộc này bị ép buộc vứt bỏ tôn giáo của cha ông, cưỡng bức theo một tôn giáo của kẻ

1

V.I.Lê nin toàn tập, tập 12, Nxb tiến bộ Maxcơva, 1979, tr169.
(C.Mác và Ăngghen toàn tập Nxb NXBCTQG HN 1995 t1 tr 569

Đảng cộng sản. Thực chất đây là công tác dân vận của Đảng. ở nước ta công tác tôn giáo là
việc tuyên truyền vận động bà con tín đồ, chức sắc hiểu rõ và thực hiện đúng quan điểm, đường
lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, tuân thủ pháp luật, đoàn kết tôn giáo, bảo đảm
tôn giáo đồng hành gắn bó với dân tộc, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đảm
bảo giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.
1
2

V.I.Lênin: sdd, 1979, tập 12, tr.169-175
V.I.Lênin: sdd, 1979, tập 12, tr.169-175


Thông qua công tác tôn giáo, Đảng và Nhà nước có điều kiện thường xuyên chăm lo
đời sống vật chất và văn hoá tinh thần, nâng cao trình độ mọi mặt cho đồng bào là tín đồ các
tôn giáo. Thực hiện tự do tín ngưỡng, tích cực vận động đồng bào có đạo tăng cường đoàn kết
xây dựng cuộc sống mới, sống “tốt đời đẹp đạo”, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững
ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng.
Thông qua công tác tôn giáo, Nhà nước có điều kiện tăng cường công tác quản lý, tạo
điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo pháp luật; mọi tín đồ, chức sắc, nhà tu
hành thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tích cực đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
xây dựng cuộc sống mới ở cơ sở, các khu dân cư. Hơn nữa các cấp chính quyền tạo điều kiện
tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ tín đồ và chức sắc tôn giáo nâng cao tinh thần
cảnh giác, chủ động ngăn ngừa và đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn
giáo của các thế lực thù địch chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
Qua thực tiễn của công tác tôn giáo, cần xây dựng, củng cố tổ chức đảng và hệ thống
chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh trên các địa bàn của đồng bào có đạo. Cán bộ, đảng
viên nói chung và đảng viên theo tôn giáo nói riêng cần phải gương mẫu thực hiện và vận động
các tín đồ tôn giáo thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
cần kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo ở các ngành, các cấp, có quy hoach, kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ cho công tác này. Mặt trận và các đoàn thể tăng cường công tác vận

phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”.(2) Tinh thần đó được ghi
nhận trong Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946: “Nhân dân ta có
quyền tự do tín ngưỡng” và trong Chính cương của Mặt trận Liên Việt, ở điều 7, điểm 1:
“Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng cho mọi người”. Điều này sau được
ghi trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam: “Điều 8: Tôn trọng và bảo vệ
quyền tự do tín ngưỡng của công dân”. Tinh thần đó được thể hiện trong Tám điều mệnh
lệnh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: “Điều 4: Bảo vệ đền, chùa, nhà thờ,
trường học, nhà thương và các cơ quan văn hoá xã hội khác.Chính quyền, quân đội và
toàn thể phải tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào”.
Chính quyền cách mạng non trẻ đã khẳng định một nguyên tắc bất di bất dịch là
đoàn kết, bình đẳng và tự do tín ngưỡng, bảo vệ các cơ sở thờ tự, nơi đất thiêng của các
1
2
1
2

Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000,tập 3 tr.8
Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000,tập 3 tr.205
Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4 tr 8
Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4 tr 9


tôn giáo; đồng thời chống lại âm mưu của các kẻ thù dân tộc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo.
Nguyên tắc đó đã được thể hiện ngày càng đầy đủ, cụ thể trong các văn kiện của Đảng,
Nhà nước và được thực hiện nhất quán trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, chống đế quốc Mỹ. Sau ngày hoà bình lập lại (1955), Sắc lệnh về vấn đề tôn giáo
ngày 14-6-1955 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Điều 1 khẳng định:
“Chính phủ đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai
được xâm phạm quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn
giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Sắc lệnh này cũng nêu rõ sự tôn trọng các hoạt

Đầu những năm 1980, do tình hình chính trị quốc tế phức tạp, chúng ta đã
rập khuôn máy móc, giáo điều cả về lý luận và hoạt động quản lý Nhà nước trên lĩnh vực
tôn giáo. Năm 1981, Ban Bí thư (khoá V) ban hành Nghị quyết 40/NQ.TƯ. Đây là một
nghị quyết quan trọng, đề cập khá toàn diện và đầy đủ các vấn đề tôn giáo, có vị trí quan
trọng trong chặng đường đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước theo mô
hình chủ nghĩa xã hội lúc bấy giờ. Nghị quyết 40/NQ.TƯ tuy có ưu điểm là đã đi sâu vào
các mặt công tác tôn giáo, có nhiều chủ trương cụ thể, nhưng lại đưa ra yêu cầu quá cao,
có thể nói là không tưởng “làm cho tôn giáo tuy tồn tại lâu dài nhưng chỉ là tôn giáo của
những người cao tuổi và mất dần rồi mất hẳn”(NQ40). Thời kỳ này ta phải đương đầu với
cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực đế quốc và phản động. Trên thế giới,
Công đoàn đoàn kết ra đời, chống phá quyết liệt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Ba Lan, dẫn
đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước này.
Năm 1984, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 48/CT.TƯ về tăng cường công tác
đạo Thiên Chúa ở miền Nam và chủ trương tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 40/NQTƯ.
Năm 1986, Đại hội VI mở đầu sự nghiệp đổi mới đất nước. Đại hội cũng gợi ra
cách tiếp cận mới về công tác tôn giáo: “Trong việc phát huy yếu tố con người và lấy việc
phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động, cần có kế hoạch chủ động
xây dựng cơ cấu giai cấp cho xã hội mới, cụ thể hoá và thực hiện đúng chính sách dân tộc
và chính sách tự do tín ngưỡng”(ĐH VI).
Những nhận thức lý luận về tôn giáo và đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo là cơ sở để các cấp, các ngành, các địa phương
trong cả nước tổ chức thực hiện. Đối với An Giang, sau khi xâm lược miền Nam, con bài
đầu tiên Mỹ sử dụng là tôn giáo. Lợi dụng tình hình phức tạp về chính trị, tôn giáo, dân
tộc trong chiến tranh, Mỹ – ngụy đã dựng lên 3 giáo hội Phật giáo Hòa Hảo phản động
(có đảng chính trị – Dân Xã Đảng và lực lượng vũ trang hơn 30 ngàn tên làm nồng cốt) để


lừa mị dân và kìm kẹp tín đồ, chống phá cách mạng. Chúng lợi dụng lực lượng 3K -khăn
trắng- sử dụng vùng Bảy Núi làm địa bàn hoạt động chống phá cách mạng.
Sau ngày 30.4.1975, hơn 24 ngàn tàn quân ngụy và Hoà Hảo tụ tập về trụ sở Trung

đối với các tôn giáo trong tình hình mới năm 1981 nhấn mạnh “ Tôn giáo phát sinh và tồn
tại là do sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai và áp bức xã
hội. Khi cuộc sống còn chưa tốt đẹp, trình độ văn hoá còn thấp kém và chưa có một thế
giới quan khoa học, thì con người còn tin ở sức huyền bí nào đó, còn tin ở các tôn giáo”.
Bên cạnh đó “nhiều cán bộ, đảng viên đã mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh, coi nhẹ công
tác quần chúng, trong đó có công tác vận động, tổ chức và xây dựng cơ sở chính trị cốt
cán trong cộng đồng các tôn giáo. Nhận thức, quan điểm về công tác tôn giáo của một số
cán bộ đảng viên có những lệch lạc. Việc tổ chức thực hiện công tác tôn giáo chưa phát
huy được sức mạnh tổng hợp; bộ máy làm công tác tôn giáo quá yếu; chậm có quy hoạch
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tôn giáo” (Nghị quyết 24.NQ.TƯ16.10.1990). Những
yếu kém trong công tác tôn giáo trên khiến các thế lực thù địch ra sức khai thác để chống
phá ta. Chúng vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vu cáo ta vi phạm nhân quyền,
Trong giai đoạn này Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo thực hiện công tác tôn giáo
cũng gặp nhiều khó khăn phức tạp, nhất là với đạo Phật giáo Hoà Hảo và đạo Cao Đài.
Năm 1989 các tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo đề nghị Nhà nước ta chấp thuận 3 vấn đề
sau:
1. Công nhận đạo Phật giáo Hòa Hảo được tồn tại trong xã hội.
2. Được tổ chức lễ ngày thành lập đạo 18.5 âm lịch một cách công khai.
3. Cho phép đọc sấm giảng Hòa Hảo trong tín đồ.
Khi được Nhà nước chấp thuận, một số phần tử phản động núp dưới chiêu bài giữ
đạo, lợi dung các cuộc tụ tập tín đồ hợp pháp như: Lập đoàn tín đồ đi viếng núi, chùa, dự
lễ giỗ Đoàn Minh Huyên, Ngô Lợi, Trần Văn Thành hoặc tung tin Nhà nước cho phép tổ
chức lễ 18.5 âm lịch sớm hơn mọi năm, để tập hợp tín đồ tuyên truyền sấm giảng, thuyết
pháp đạo. Nhiều băng cassette về sấm giảng, thuyết pháp đạo rộ lên và được phổ biến
khắp các huyện thị. Đồng thời trong tín đồ Phật giáo Hòa Hảo cũng lan truyền nhiều tin
đồn mê tín dị đoan, chiến tranh tâm lý như: năm Kỷ Tỵ sẽ tối trời tối đất, hoặc Việt Nam
rút quân khỏi Campuchia, chiến tranh sẽ xảy ra ác liệt hơn 1979,...nhằm gieo rắc tư tưởng
hoài nghi đối với chế độ và tâm lý không an tâm sản xuất trong quần chúng. Bọn phản
động, bọn xấu trong Phật giáo Hòa Hảo lợi dụng các chùa chiền, đình miếu có tổ chức lễ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status