SKKN: VẬN DỤNG HIỂU BIẾT VỀ NGỮ ÂM VÀ CHỮ VIẾT TIẾNG VIỆT ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHÍNH TẢ THEO MẸO LUẬT (ÂM ĐẦU LN) CHO HỌC SINH LỚP 3 - Pdf 35

SKKN: VẬN DỤNG HIỂU BIẾT VỀ NGỮ ÂM VÀ CHỮ VIẾT TIẾNG VIỆT
ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHÍNH TẢ THEO MẸO LUẬT (ÂM ĐẦU L/N)
CHO HỌC SINH LỚP 3
PHẦN 1 – ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Theo quan điểm xây dựng chương trình SGK năm 2000, là xây dựng chương
trình theo hướng giao tiếp, đề cao tri thức ngôn ngữ. Học sinh phải tích cực hoạt
động. Chương trình SGK được tích hợp nhiều phân môn. Do đó đòi hỏi mỗi
giáo viên phải nghiên cứu, rà soát, tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học
phù hợp, để đánh giá được những ưu điểm và những hạn chế trong từng phương
pháp dạy học. Từ đó để đưa ra những biện pháp khắc phục nhằm nâng cao được
chất lượng dạy và học cho học sinh.
Muốn đựoc như vậy thì cần phải tạo dựng một nền móng vững chắc cho thế hệ
trẻ. Mà nền móng đó không đâu xa chính là tiếng mẹ đẻ của mình, phải đọc
đúng, viết đúng chính tả Tiếng Việt. Do vậy ở lớp 1 khi các em biết đọc cũng là
lúc giáo viên hình thành kĩ năng viết đúng chính tả. Khi lên lớp 2, lớp 3 nâng
cao dần kĩ năng nghe viết đúng chính tả nhằm bổ sung những môn học khác.
Bởi vậy mà phân môn chính tả trong nhà trường Tiểu học có nhiệm vụ giúp cho
học sinh nắm vững các qui tắc, các mẹo luật chính tả và hình thành kĩ năng
chính tả. Nói cách khác là giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết
đúng chính tả. Vậy mà thực tiễn hiện nay ở trường tiểu học THTH vẫn có những
học sinh viết sai lỗi chính tả (âm đầu l/n). Có sự sai lỗi chính tả này là do các em
không để ý khi viết. Vì thế nếu không sửa chữa, uốn nắn cho các em học sinh thì
việc sai lỗi chính tả sẽ ảnh hưởng đến quá trình học tập của các em. Sau này khi
tốt nghiệp ra trường các em sẽ tạo ra những văn bản sai lỗi chính tả, làm hạn chế
việc giao tiếp trong xã hội của chính bản thân các em.
Từ những thực trạng nói trên. Vậy có phương pháp nào để hạn chế việc viết
sai lỗi chính tả phụ âm đầu l/n cho học sinh lớp 3B ở trường tiểu học THTH nói
riêng và trong cả nước nói chung. Đó chính là câu hỏi mà tôi luôn băn khoăn,
1


3.

Tổ chức thực nghiệm để xem xét tính khả thi của việc dạy học chính tả

theo mẹo luật (phụ âm đầu l/n) cho học sinh lớp 3. Từ đó rút ra bài học kinh
nghiệm trong việc dạy học chính tả theo mẹo luật (âm đầu l/n) và đề ra những
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
1. Nhóm nghiên cứu lí luận.
- Đọc và thu thập tài liệu về ngữ âm và chữ viết Tiếng Việt để tổ chức dạy học
chính tả theo mẹo luật (âm đầu l/n) cho học sinh lớp 3.
- Lập đề cương nghiên cứu về dạy học chính tả theo mẹo luật (âm đầu l/n) cho
học sinh lớp 3.
2


- Viết bản thảo.
- Viết bản chính.
2. Nhóm nghiên cứu thực tiễn.
- Khảo sát, dự giờ, phân loại để có những đánh giá chính xác về thực tiễn dạy
học chính tả theo mẹo luật (âm đầu l/n) cho học sinh lớp 3.
- Xây dựng phiếu hỏi, phiếu bài tập để khảo sát thực tế dạy học chính tả theo
mẹo luật (âm đầu l/n) cho học sinh lớp 3.
3. Các phương pháp bổ trợ:
- Thống kê trong toán học.
- Dùng các bảng biểu, biểu đồ hình cột.

3




/ z / =gi

/ g / = gh

/ c / = ch
c. Có một âm vị ghi bằng 3 con chữ ghép lại, trong trường hợp / ng / khi đứng
trước / ê /, / i /, / e / thì sẽ viết thành ngh.
d. Sự thể hện các phụ âm đầu trên chữ viết không phải là thống nhất trong mọi
trường hợp. Có 5 âm vị ghi:
Ghi thành “ k ” khi đứng trước / ê /, / i /, / e /
Ghi thành “c” khi đứng trước các nguyên âm
/ k / : Hàng sau: /u, a, o /
Ghi thành “q” khi đứng trước âm đệm / ư /
/ / : Ghi bằng “gh” khi đứng trước / e /, / i /, / /
Ghi bằng “g” trong các trường hợp còn lại.
4


/

/ : Ghi bằng “ngh ” khi đứng trứoc / i/, / e/, / /.
Ghi bằng “ ng ” khi đứng trước các trường hợp còn lại.

/

/ : Ghi bằng “r” trong cách phát âm của Trung Nam Bộ.
Ghi bằng “gi” trong cách phát âm của nhà trường Miền Bắc.

/Z/ :


ia

tia

ya

khuya



tiền

/ư /


ưa

khuyên
mưa

/ u/

ươ
ua

mượn
mua



1.1

. Cơ sở chữ viết:

Theo giáo trình Tiếng Việt 2 – Nhà xuất bản ĐHSP, chữ viết TiếngViệt là chữ
viết ghi âm vị. xây dựng trên cơ sở chữ La Tinh dễ học, dễ viết. Tuy nhiên, chữ
viết Tiếng Việt còn có những hạn chế sau: Không đảm bảo sự tưng ứng một đối – một giữa âm và chữ. Âm vị / k / ghi bằng 1 trong 3 con chữ “c, k, q”. Con
chữ “g” ghi bằng 1 trong 2 âm vị /gi, z /…..
Có những nhóm 2, 3 con chữ không cần thiết để ghi âm vị ph, ngh …
Nhược điểm đó gây nên những hiệu quả không tốt. Việc dạy và học gây những
khó khăn vô ích, Việc in sách báo tạo những tốn kém (công của và thời gian),
không đángcó. Do đó từ lâu, từ cuối thế kỉ XI X, vấn đề cải tiến chữ viết đã
được đặt ra. Và xưa nay, cứ cách ít lâu lại có đề nghị sửa đổi chữ viết về một
mặt nào đó, tổng cộng số người đề nghị khoảng 20 người, nếu kể cả những hội
nghị chuyên bàn về vấn đề này (1902, 1906, 1960, 1978) thì số người tham gia ý
6


kiến còn đông hơn gấp bội. Đáng tiếc là mặc dù vậy cho đến nay, vấn đề này
vẫn chưa được giải quyết.
(Đỗ Xuân Thảo – Lê Hữu Tỉnh) - Giáo trình Tiếng Việt 2. NXB Đại học Sư
phạm
2. Cơ sở tâm lí giáo dục
2.1 Cơ sở tâm lí học:
ậ lứa tuổi học sinh tiểu học, mục đích dạy chính tả là hình thành cho học sinh
năng lực viết thành thạo, thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo các chuẩn chính tả,
nghĩa là giúp học sinh hình thành các kĩ sảo chính tả. KháI niệm kĩ sảo trong
tâm lí học được hiểu “Những yếu tố tự động hoá của hoạt động có ý thức, được
ra trong quá trình thực hịên hoạt động đó ”.
Theo định nghĩa của B.M.Chép Lốp, dẫn theo định nghĩa Đ.N.Bô gôi avlen x

2.2. Cơ sở giáo dục:
a) Dạy chính tả theo khu vực:
Dạy chính tả theo khu vực nghĩa là nội dung giảng dạy chính tả phải sát hợp với
phương ngữ. Nói cách khác là phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính
tả ở từng khu vực, từng vùng miền để hình thành nội dung giảng dạy, phải xác
định được trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh
ở từng khu vực, từng địa phương. Vì vậy giáo viên cần chú ý vận dụng nguyên
tắc dạy chính tả theo địa phương, theo khu vực. Nguyên tắc
này yêu cầu giáo viên trước khi dạy cần tiến hành điều tra cơ bản để nắm lỗi
chính tả phổ biến của học sinh. Từ đó lựa chon nội dung giảng dạy thích hợp,
xây dựng nội dung bài sao cho sát hợp với từng đối tượng học sinh lớp mình
dạy.
b) Kết hợp chính tả có ý thức với chính tả không có ý thức. Trong quá trình
dạy học chính tả cho học sinh, giáo viên không chỉ sử dụng một phương pháp,
mà phải sử dụng phối hợp hai phương pháp này một cách hợp lí nhằm đạt tới
một hiệu quả dạy học cao.
Trong nhà trường, giáo viên vần sử dụng khai thác tối đa phương pháp có ý
thức. Muốn vậy, giáo viên cần phải được trang bị những kiến thức
cơ bản về ngữ âm học, từ vựng, ngữ nghĩa học có liên quan đến chính tả. Cụ thể
là giáo viên phải biết vận dụng những kiến thức về ngữ âm học. Tiếng Việt vào
8


việc phân loại lỗi chính tả, phát hiện đặc điểm của từng loại lỗi, nhất là việc xây
dựng các qui tắc chính tả, các “ mẹo ” chính tả, giúp học sinh viết một cách khái
quát, có hệ thống. Ví dụ như khi phân biệt l/n trong thổ ngữ ở một số vùng Bắc
Bộ, tác giả Phan Ngọc đã đưa ra các mẹo sau:
b1, Mẹo 1: Một chữ ta không thể biết là l hay n, nhưng nó đứng đầu một từ láy
âm không phải điệp âm đầu thì dứt khoát là l chứ không phải là n như:
l láy với b: lệt bệt

Bên cạnh phương pháp tích cực (cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả,
hướng học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kĩ sảo chính tả) .Cần
phối hợp, áp dụng các phương pháp tiêu cực (tức là đưa ra nhữngtrường hợp viết
sai chính tả, hướng dẫn học sinh phát hiện, sữa chữa, rồi từ đó hướng học sinh đi
đến cái đúng. Hướng học sinh loại bỏ các lỗi chính tả trong các bài viết. Học
sinh có 3 loại lỗi chính tả hay mắc phải, đó là:
+ Lỗi chính tả do không nắm vững trình tự.
+ Lỗi chính tả do không nắm vững cấu trúc âm tiết Tiếng Việt.
+ Lỗi chính tả do viết theo lỗi phát âm địa phương. Loại lỗi này do mỗi địa
phương sai một khác. Nơi có nhiều dân ở nơi khác nhập cư đến để làm ăn mà có
rất ít người dân chính gốc ở tại đó nên đa số các em sai l thành n. Để sửa loại lỗi
này thì học sinh cần nắm vững chính âm trong chính tả Tiếng Việt. Cần tập phát
âm đúng, chuẩn, tập viết nhiều lần những lỗi chính tả này. Người giáo viên nên
xây dựng các mẹo để giúp học sinh viết đúng chính tả. Trong qui trình giảng dạy
chính tả, giáo viên cần phối hợp một cách hợp lí, hài hoà và có hiệu quả phương
pháp tích cực và phương pháp tiêu cực để giúp học sinh viết đúng chính tả.
II. Cơ sở thực tiễn:
1, Chương trình sách giáo khoa
1.1 Những ưu điểm:
Chương trình phân môn chính tả ở lớp 3, mỗi tuần có 2 tiết gồm: chính tả nghe
đọc (giáo viên đọc, học sinh viết lại bài chính tả tập đọc đã học) và bài chính tả
so sánh, phân biệt (viết các cặp từ dễ lẫn lộn phụ âm đầu, thanh). Học sinh lớp 3
vẫn còn có một số bài tập chép ở đầu học kì I (tức là nhìn bảng lớp hoặc nhìn
SGK để chép lại bài) Tốc độ viết khoảng 55 chữ trong 15 phút. Phần chính tả
10


trong SGK lớp 3 được bố trí xen kẽ với các phần tập đọc, luyện từ và câu, tập
làm văn theo từng tuần. Cấu tạo của một bài chính tả trong SGK nhìn chung đều
có các phần sau:


11


- Dạng bài chính tả nghe - đọc: Giáo viên đọc thong thả từng câu. Khi gặp câu
dài giáo viên đọc từng cụm từ, từ. Sau khi học sinh viết xong thì giáo viên đọc
lại toàn bộ văn bản để học sinh kiểm tra lại được bài viết của mình.
- Dạng bài chính tả so sánh: Giáo viên phát âm chuẩn khi đọc mẫu làm chỗ dựa
cho học sinh viết đúng: Giáo viên đã nêu được những trường hợp chính tả cụ thể
cần so sánh, đối chiếu, cần phân biệt.
- Khi dạy chính tả phân biệt giáo viên đã kết hợp với phương pháp vẽ bản đồ tư
duy rất phong phú nên đã khích lệ được học sinh tìm tòi được nhiều từ chính tả
cần phân biệt. Sau đó với những từ khó hiểu giáo viên còn cho học sinh đặt câu
để hiểu nghĩa từ.
- Giáo viên uốn nắn từng học sinh viết chữ nên mặt bằng chung là học sinh viết
chữ rất đều tay, chữ viết mềm mại.
2.2 Những hạn chế:
Khi dạy chính tả, ở phần luyện tập, để định hướng cho học sinh trong việc làm
bài tập, giáo viên thường không làm mẫu nên học sinh khó phát hiện. Giáo vên
chọn các bài chính tả so sánh chưa thích hợp. Như ở từng lớp học sinh có sự sai
chính tả khác nhau, học sinh chủ yếu là chưa phân biệt được l và n. Nhưng giáo
viên lại chưa xoáy sâu vào trọng điểm chính tả ở từng lớp. Giáo viên còn chưa
xác định được trọng điểm chính tả cần dạy. Ngay từ đầu năm học. Giáo viên còn
chưa tiến hành điều tra, khảo sát, phân loại lỗi chính tả mà học sinh lớp mình
thường mắc lỗi. Bài dạy chính tả thường nặng về chữ viết hơn về lỗi chính tả.
3.Thực trạng học sinh viết chính tả.:
3.1.

Ưu điểm:


1. Phân tích cái mới của giáo án.
1.1 Trình bày giáo án:
Sau đây người viết xin trình bày giáo án được soạn theo phương pháp cải tiến,
khắc phục những hạn chế đã nêu ở phần cơ sở thực tiễn. Giáo án đã có những
điểm mới, những điểm mới này được xây dựng trên cơ sở lí luận và thực tiễn đã
phân tích
Thiết kế bài dạy chính tả - lớp 3
13


Tuần 1:

Tập chép: Cậu bé thông minh

Phân biệt l/n. an/ang, bảng chữ
I. Mục đích yêu cầu:
- Chép lại chính xác và trình bày đúng quy định bài CT ; không mắc quá 5 lỗi
trong bài. - Làm đúng BT 2a/ b ; điền đúng 10 chữ và tên của 10 chữ đó vào ô
trống trong bảng (BT3).
II. Đồ dùng dạy học:
- Bảng lớp viết sẵn đoạn văn cần tập chép, nội dung BT2a hay 2b (viết 2 lần).
- Bảng phụ kẻ bảng chữ và tên chữ ở BT3.
- Vở Bài tập Tiếng Việt.
III. Các hoạt động dạy học:
T/g
3’

Nội dung dạy học
Hoạt động của GV
I.Mở đầu:

câu? Cuối mỗi câu có dấu gì? chấm.
Chữ đầu câu viết như thế nào?

Chữ đầu câu phải viết hoa.

- Gv đọc các từ khó cho hs viết
bảng con.

- HS tập viết vào bảng con
hoặc giấy nháp vài tiếng khó:

14

chú


chim sẻ, xẻ thịt, kim khâu...
2.2. Hướng dẫn HS chép bài vào
10’

vở:
- HD cách ngồi viết, cầm bút,

- HS chép bài vào vở.

đặt vở, cách viết đề bài vào giữa

- Đọc, soát lỗi bài.

trang vở...

- hạ lệnh

- nấu cơm

- nộp bài

- ăn kĩ no lâu

- hôm nọ

- sáng loáng

Bài tập 3:
- Nêu yêu cầu của bài và treo
bảng phụ.

- 1 HS nhắc lại yêu cầu của
bài.

- HD HS làm bài.

- 1HS làm mẫu. Cả lớp theo

- Chốt lại lời giải đúng.

dõi.

- Xoá những chữ đã viết ở cột 2.

- HS học thuộc thứ tự của 10



non

lệt



núi

leo

Hs thi tếp sức lên nối giữa
hai tổ
+ Đúng và nhanh được 10

Gv nhận xét và phân thắng baị điểm
giữa hai đội.

+ Sai một từ trừ đi 2 điểm

- Dặn dò về nhà: Viết lại bài và
chuẩn bị bài sau
Gv nhận xét tiết học.

- Cho cả lớp đọc lại toàn bài

+Khen thưởng hs viết đẹp, đúng
bài chính tả và làm đúng bài tập
chính tả.

4 . Bài kiểm tra đầu vào:
4.1. Trình bày bài kiểm tra đầu vào của học sinh lớp 3B trường tiểu học THTH.
Sĩ số: 47 học sinh; Trong lớp có 3 loại đối tượng: Giỏi – Khá - Trung bình
Trường: tiểu học THTH
Lớp : 3B
Họ và tên: . ....................................
Bài kiểm tra
Môn: Chính tả
Câu 1: Đúng điền đ, sai điền s
 Lộp độp
 Khoác loác

 nền nhà
 lền nếp

Câu 2: Điền n hay l
Trưa. ..ay bà mệt phải. ..ằm
Thương bà, cháu cháu đã giành phần. ..ấu cơm
Bà cười: vừa. ..át vừa thơm
Sao bà ăn được nhiều hơn mọi. ..ần ?

17


Câu 3: Đánh dấu x vào trước từ viết đúng chính tả


Lã chã



giá, cho điểm tôi có bảng thống kê như sau:
Đạt điểm

Số lượng bài

Phần trăm

Điểm 9 – 10

8

17 %

Điểm 8 – 7

26

55, 3
18


Điểm 5 – 6

10

21, 2 %

Điểm 3 - 4

3



Bài kiểm tra đầu vào và bài kiểm tra đầu ra của cùng 1 học sinh lớp 3B trường
tiểu học THTH
Trường: tiểu học THTH
Lớp : 3B
Họ và tên: ……………………………………….
Bài kiểm tra
Môn: Chính tả
Câu 1: Đúng điền đ, sai điền s:


im lặng



gánh lặng




nặng nề
nặng lẽ

Câu 2: Điền n hay l
Một thiếu …iên ghì cương ngựa trước cửa hàng cơm. Chàng ….ai nịt gọn
gàng, đầu đội mũ len, cổ quấn một cái khăn …ụa trắng thắt ….ỏng, mối bỏ rủ
sau …ưng. Con ngựa của chàng sắc ….âu sẫm, dáng nhỏ thon. Trời …..ạnh buốt
căm căm mà mình ….ó ướt đẫm mồ hôi, đủ đoán biết chủ …ó từ xa ….aị.
Câu 3: Đánh dấu x vào trước từ viết đúng chính tả

của tôi thì bài kiểm tra đầu ra có tiến bộ hơn rất nhiều ,. Nó thể hiện qua bảng
thống kê sau:
Đạt điểm

Số lượng bài

Phần trăm

Điểm 9 – 10

30

63 %

Điểm 8 – 7

15

31, 9 %

Điểm 5 – 6

2

5, 1 %

Điểm 3 - 4

0



26

55,3

15

31,9 %

Trung bình

10

21,2 %

2

5,1 %

Yếu

3

6,59%

0

Đó là sự tiến bộ qua phần luyện viết. Còn phần luyện nói sau thực nghiệm cũng
không còn nói sai chính tả nữa. Sau thực nghiệm vẫn còn 2 bài chính tả xếp loại
21

PHẦN 3 – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Dạy chính tả trong trường Tiểu học giúp học sinh hình thành năng lực và thói
quen viết chính tả để làm cơ sở vững chắc cho các em học tốt các môn học khác.

22


Qua thực nghiệm tôi nhận thấy rằng: Muốn tổ chức dạy học chính tả theo mẹo
luật nói chung và theo mẹo luật chính tả âm đầu l/n cho học sinh lớp 3 nói riêng
thì cần phải phối hợp nhiều phương pháp với nhau trong từng trường hợp cụ thể,
từng tiết học khác nhau sẽ có những phương pháp dạy học phù hợp với từng bài.
Chính sự phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học sẽ giúp cho
việc lên lớp của giáo viên được nhẹ nhàng không bị gò bó, áp đặt.
Học sinh thì tự được phát hiện ra, chiếm lĩnh được kiến thức mới. Từ đó các em
sẽ say mê, hứng thú hơn trong học tập. Các hiện tượng sai chính tả sẽ được em
nhớ và khắc phục một cách dễ dàng.
II. Kiến nghị
Trong quá trình dạy học giáo viên phải luôn quan sát, kiểm tra, đánh giá ….
Để từ đó sớm phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc hoặc những lỗi mà học
sinh hay mắc phải để kịp thời sửa chữa, uốn nắn. Giáo viên phải tự tìm tòi,
nghiên cứu tài liệu giảng dạy, học hỏi thêm đồng nghiệp, tham gia tất cả buổi
sinh hoạt chuyên môn để có thể đưa ra những phương pháp giảng dạy phù hợp
với từng đối tượng học sinh, nhằm tạo hứng thú học tập cho các em theo hướng
lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên cần sưu tầm, chọ các bài tập chính tả thích
hợp, tương ứng với những trọng điểm chính tả cần dạy ở từng khu vực, lớp mình
phụ trách. Muốn vậy, ngoài những trường hợp chính tả có nguyên tắc mà sgk
nêu ra, giáo viên có thể bổ sung thêm những trường hợp chính tả mẹo luật khác
nếu thấy cần thiết, sao cho sát hợp và có hiệu quả. Từ đó sẽ giúp cho học sinh
ghi nhớ rất tốt chính tả để hạn chế tới mức tối đa các lỗi chính tả trong luyện nói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status