ĐỀ TÀI THẢO LUẬN CỦA NHÓM 11:
So sánh thực trạng ứng dụng thương mại điện tử ở nước ta trong 2
năm 2014-2015 và đưa ra nhận định về thực trạng đó .
BÀI LÀM
I.Thực trạng thương mại điện tử nước ta 2014
A. Số liệu :
( Các số liệu đều được trích dẫn từ báo cáo của Cục TMĐT và CNTT –
Bộ Công Thương)
1.1. GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ DOANH NGHIỆP VỚI
NGƯỜI TIÊU DÙNG (B2C)
a. Sử dụng email trong kinh doanh
Tương tự như năm 2013, email tiếp tục là một công cụ quan trọng hỗ trợ
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Việc khai thác lợi ích của email đã
đi vào chiều sâu nhằm giao kết và thực hiện hợp đồng. Không có sự thay đổi lớn
trong việc sử dụng email để giao dịch và chăm sóc khách hàng.
b. Website thương mại điện tử
Tỷ lệ doanh nghiệp có website là 45%, tăng không đáng kể so với tỷ lệ
này của năm 2013. Trong đó, 47% doanh nghiệp cho biết đã cập nhật thông tin
hàng ngày trên website, 32% cập nhật hàng tuần, còn lại 21% doanh nghiệp
trung bình mỗi tháng chỉ cập nhật một lần. 41% doanh nghiệp đã cử cán bộ phụ
trách website. Tỷ lệ website có tính năng đặt hàng trực tuyến là 58%, cao hơn
đáng kể so với năm 2013.Trong khi đó tỷ lệ website có tính năng thanh toán trực
tuyến là 15% và hầu như không đổi so với năm 2013. Đón nhận xu hướng người
tiêu dùng ngày càng chuyển mạnh sang mua sắm trên các thiết bị di động, 15%
doanh nghiệp đã xây dựng phiên bản di động cho website của mình. Năm 2014
chứng kiến mạng xã hội được sử dụng nhiều nhất để quảng bá website với tỷ lệ
lên tới 50%, tiếp đó là các công cụ tìm kiếm.
c. Sàn thương mại điện tử
Tỷ lệ các doanh nghiệp tham gia các sàn thương mại điện tử của năm
2014 là 15%, tăng hơn tỷ lệ 12% của năm 2013 và 11% của năm 2012. Các tỷ lệ
1
nghiệp triển khai phần mềm quản lý nhân sự.Các tỷ lệ này không thay đổi nhiều
so với năm 2013. Tương tự, đối với nhóm phần mềm quản lý khách hàng
(CRM), quản lý chuỗi cung ứng (SCM) và quản trị nguồn lực doanh nghiệp
(ERP), tình hình chung không có sự khác biệt so với năm trước. 24% doanh
2
2
nghiệp tham gia điều tra cho biết đã ứng dụng phần mềm CRM, 22% sử dụng
phần mềm SCM và 17% đã ứng dụng phần mềm ERP.
b. Nhận đơn đặt hàng qua các phương tiện điện tử
Năm 2014 có 78% doanh nghiệp đã sử dụng email để nhận đơn đặt hàng
và 29% doanh nghiệp đã nhận đơn đặt hàng qua website. Quy mô của các hợp
đồng bán hàng trực tuyến có thể được thể hiện qua tỷ lệ tổng giá trị các đơn
hàng doanh nghiệp đã nhận qua hai hình thức trên so với tổng doanh thu của
doanh nghiệp. Kết quả cho thấy phần lớn các doanh nghiệp (51%) có giá trị giao
kết hợp đồng trực tuyến dưới 20% doanh thu, 33% doanh nghiệp có giá trị này
bằng 21-50% doanh thu và chỉ có 16% doanh nghiệp có giá trị giao kết hợp
đồng trực tuyến chiếm từ 51% trở lên. Chất lượng xử lý các đơn mua hàng trực
tuyến và dịch vụ chuyển phát chưa cao, năm 2014 mới có 22% doanh nghiệp
cho biết việc xử lý đơn đặt hàng và phân phát sản phẩm có thể được tiến hành tự
động và được giám sát qua hệ thống kiểm tra trực tuyến.
c. Đặt hàng qua các phương tiện điện tử
Tương tự như năm 2013, có sự không đối xứng của việc sử dụng website
để đặt hàng và nhận đơn đặt hàng. Trong khi chỉ có 29% doanh nghiệp chấp
nhận đặt hàng qua website của mình thì có tới 40% doanh nghiệp đặt hàng qua
website của các đối tác kinh doanh. Trong khi đó, đối với email có sự đối xứng
rõ ràng giữa việc đặt hàng với nhận đơn đặt hàng. Tỷ lệ đặt hàng (mua) qua
email là 76% khá cân bằng với tỷ lệ 78% nhận đơn đặt hàng (bán) qua email.
1.4. MỨC ĐỘ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG
CỘNG ĐỒNG Năm 2014.
Cục TMĐT và CNTT – Bộ Công Thương tiến hành khảo sát tình hình
ứng dụng TMĐT với hơn 900 cá nhân có sử dụng Internet trong phạm vi cả
nước. Hình thức khảo sát phần lớn là trả lời trực tuyến và điền phiếu trực tiếp
1.4.1. Mức độ sử dụng Internet
Theo khảo sát của Cục TMĐT và CNTT có 10% số người tham gia khảo
sát cho biết thời lượng sử dụng Internet mỗi ngày là dưới 3 giờ. 36% số người
tham gia khảo sát sử dụng Internet từ 3 – 5 giờ mỗi ngày.Thời điểm được nhiều
người truy cập Internet nhất là từ 20h đến 24h (53%), theo sau là thời gian từ 8h
đến 12h (24%), và 16h đến 20h (13%).
4
4
Máy tính xách tay và điện thoại di động tiếp tục là phương tiện phổ biến
nhất được người truy cập Internet sử dụng, với tỷ lệ tương ứng là 75% và 65%.
Số lượng người dân truy cập Internet qua các thiết bị khác như máy tính bảng
cũng tăng mạnh với 19% từ năm 2010 đến năm 2014. Máy tính để bàn từng là
phương tiện phổ biến nhất năm 2010, chiếm 84% lượng người sử dụng; năm
2014 chỉ còn 33% người tham gia khảo sát tiếp cận qua phương tiện này.90% số
người khảo sát cho biết địa điểm truy cập Internet thường xuyên là tại nhà. Địa
điểm phổ biến thứ hai là nơi làm việc chiếm 48%.Các địa điểm công cộng,
trường học, cửa hàng Internet chiếm tỷ lệ tương ứng là 22%, 16% và 5%.
Cập nhật thông tin tiếp tục là mục đích sử dụng Internet hàng ngày phổ
biến nhất, tăng từ 87% năm 2013 lên 93,5% năm 2014. Đa số người tham gia
khảo sát sử dụng Internet hàng ngày để tham gia các diễn đàn, mạng xã hội
(81,2%), truy cập e-mail (73,8%), xem phim ảnh, nghe nhạc (64,8%), và nghiên
cứu học tập (63,9%). Đối với các hoạt động như mua bán cá nhân, phần lớn
17% mua trên 15 sản phẩm dịch vụ.Giá trị sản phẩm dịch vụ người mua hàng
chọn mua nhiều nhất là mức từ 1 đến 3 triệu đồng, chiếm 29%. Theo sau là mức
trên 5 triệu đồng với 26% người chọn mua, và mức được ít người chọn mua nhất
là từ 3 đến 5 triệu đồng với 11%.Khảo sát cũng cho thấy uy tín của người bán
hay website bán hàng chính là yếu tố người mua sắm trực tuyến quan tâm nhất,
740 người đã lựa chọn yếu tố này, tương ứng với tỷ lệ 81%. Yếu tố giá cả cũng
được 80% người mua quan tâm, theo sau là cách thức đặt hàng, thanh toán và
giao nhận hàng hóa (68%), và thương hiệu của sản phẩm, dịch vụ (64%).
6
6
B. THỰC TẾ
Năm 2014 là năm bùng nổ của ứng dụng thương mại điện tử.
“Khách hàng mong muốn được nhận hàng ngay, hưởng thụ dịch vụ
ngay lập tức. Để đáp ứng nhu cầu đó, buộc các doanh nghiệp phải có công
cụ kết nối với người tiêu dùng. Thay vì làm web, dịch chuyển công cụ bằng
app dành cho thiết bị di động sẽ nối kết khách hàng nhanh hơn”, bà Phạm
Trang Phương Dung, quản lý cấp cao của Uber tại Việt Nam, nhận xét.
Với tiêu chí này, các nhà bán lẻ, từ nhỏ đến lớn, đua nhau giới thiệu ứng
dụng riêng (gọi tắt là app) dành cho các thiết bị di động: smartphone, tablet… để
khách hàng mua sắm bất kỳ ở đâu, miễn là có sóng 3G hoặc wifi.
Đầu năm 2014, Lazada là nhà kinh doanh theo phương thức TMĐT đầu
tiên tung ra app. Sau đó, đến lượt sàn giao dịch Sendo (FPT), Tiki, Zalora, Chợ
Tốt, Thế Giới Di Động, Nguyễn Kim… cũng tung ra app.
Theo số liệu của Google Play, hiện app của Lazada (phiên bản 2.0) có
nhiều người dùng tải nhất, trên 11 triệu lượt tải. Tiki, Sendo, Thế Giới Di Động,
Chợ Tốt… đã vượt qua con số hàng triệu lượt tải.
nghệ.
- Thói quen thích nhìn tận mắt, sờ tận tay
- Thói quen thanh toán bằng tiền mặt
1.3. Hạ tầng thanh toán
- Thanh toán qua thẻ còn ít
- Các bước thanh toán qua internet banking rắc rối và không nhất quán
giữa các
ngân hàng
- Thẻ chủ yếu dùng để nhận lương và rút tiền tại ATM
- Chi phí giao dịch cao
- Hình thức thanh toán chưa đa dạng
- Cơ chế hoàn tiền còn chậm và chưa rõ ràng
1.4. Dịch vụ giao nhận
- Chưa có đơn vị thứ 3 thực sự chuyên nghiệp để đảm bảo tốt dịch vụ
giao nhận mà không ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ, hầu hết các đơn vị làm
9
9
TMĐT đều phải tự xây dựng đội ngũ giao nhận để nắm quyền chủ động trong
việc kiểm soát và điều phối hiệu quả cũng như chất lượng phục vụ khách hàng.
Nhận ra những bất cập năm 2014, vào đầu năm 2015 các ông lớn vào
cuộc:
Ông Nhật Linh của Thế Giới Di Động nói rằng, để khách hàng chú ý
nhiều đến mua sắm online, quan điểm của Thế Giới Di Động là “cân bằng
những giá trị dành cho khách hàng, từ web đến web mobile và app.Không chỉ
cho họ những ưu đãi tốt nhất mà còn tạo những thông tin hấp dẫn để khách hàng
thường xuyên quay trở lại”.
Ông Nguyễn Bá Diệp, phó chủ tịch hội đồng quản trị công ty
biết tỷ lệ giao dịch trên mobile của trang này đạt được mức kì vọng 65% trong
năm 2015. Trước đó vào năm 2014, giao dịch trên mobile chỉ chiếm khoảng
15% tại sàn thương mại điện tử đứng thứ hai Việt Nam về thị phần.
Giữa năm 2015, trang bán hàng chuyên về thời trang Zalora cũng cho biết
lượt truy cập trên di động chiếm khoảng 30% trong tổng truy cập đến trang
zalora.vn
Theo ông Trần Nhật Linh, quản lý bộ phận TMĐT của Thế Giới Di Động,
hiện lượng hàng truy cập bằng app và web mobile trên 100.000 lượt/ngày,
chiếm 60%, còn lượng hàng đặt thành công lên tới 40%
Như vậy,…
Những con số ấn tượng trên cho thấy thương mại điện tử trên di động
(m-commerce) không còn là xu hướng mà đã trở thành một công cụ chính yếu
trong mua sắm qua mạng. Hầu hết mọi doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này
đều đánh giá cao m-commerce, và dự báo cụm từ này sẽ dần thay thế ecommerce khi nói về thương mại điện tử.
B.
Thể hiện qua thực tế:
11
11
12
12
13
hút hơn với khách hàng đã trở thành một trong những chiến lược kinh doanh
then chốt của nhiều doanh nghiệp. Nhờ ưu điểm này, lượng khách hàng sử dụng
ứng dụng thương mại điện tử và coi đây là một công cụ thiết yếu dể giao dịch
tăng lên rất nhiều, mang lại sự tiện nghi cho khách hàng tuyệt đối, và góp phần
quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động kinh doah thành công của các doanh
nghiệp.
Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử tại Việt Nam trong năm 2015 so
với với năm 2014 khả quan hơn rất nhiều và phát triển vượt bậc,mở rộng phạm
vi phủ sóng và mức độ được người doanh nghiệp và người tiêu dùng sử dụng
thường xuyên, trở thành xu hướng mới trong kinh doanh và hứa hẹn ngày càng
phát triển hơn trong thời gian tới.
16
16