Tiềm năng, triển vọng, thực trạng khai thác, quản lý, định hướng sử dụng NĂNG LƯỢNG GIÓ của Việt Nam - Pdf 35

1

Đề tài : tài nguyên năng lượng gió
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan Hương
Mã sinh viên: 11141985
Lớp : bản đồ học _1

Mục lục
Lời nói đầu................................................................................................1
Nội dung
1.Tổng quan về năng lượng gió................................................................................2
a. khái niệm năng lượng gió.................................................................................2
b. Các lợi thế chính của năng lượng gió và phân loại............................................3
c. Biểu đồ phân bố gió ở Việt Nam ở độ cao 80m ...................................................................4

2.Năng lượng gió của Việt Nam, tiềm năng và triển vọng......................................6
a.Tình hình cung - cầu điện năng ở Việt Nam......................................................6
b.Giá thành của điện gió, liệu có đắt ....................................................................7
3. Hiện trạng khai thác, quản lý, sử dụng ................................................................8
a.Năng lượng gió tại Việt Nam..............................................................................8
b. dự án điện gió Bình Thuận .............................................................................10
c.Dự án điện gió Bạc Liêu ..................................................................................11
4.Định hướng sử dụng trong thời gian tới...............................................................12


2

a. đề xuất một số khu vực xây dựng điện gió cho Việt Nam................................12
b.Một số lựa chọn chính sách của Việt Nam........................................................14
c. học tập các nước trên thế giới......................................................................... 15
d.Một viễn cảnh tươi sáng của điện gió.................................................................15

Mặt khác, chúng ta nên xây dựng cơ chế để đảm bảo công bằng sân chơi cho năng
lượng gió; tăng cường nghiên cứu khoa học về các ngành năng lượng mới; xây
dựng các trang trại điện gió ngoài biển, tận dụng tốt không gian và lượng gió.
Với những chính sách phù hợp và sự hưởng ứng của xã hội và nguồi dân, điện gió
ở nước ta sẽ phát triển nhanh và mạnh, trở thành nguồn năng lượng sạch, đồng thời
đảm bảo an ninh năng lượng trong tương lai. Việc phát triển điện gió cũng giúp
làm giảm thiểu lượng CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Vì vậy, chỉ có phát triển kinh tế
đi đôi với bảo vệ môi trường mới đảm bảo nước ta phát triển nền công nghiệp xanh
và bền vững.

Nội dung
1.Tổng quan về năng lượng gió
a.khái niệm năng lượng gió


4

Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển Trái
Đất. Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời. Sử dụng
năng lượng gió là một trong các cách lấy năng lượng xa xưa nhất từ môi trường tự
nhiên và đã được biết đến từ thời kỳ Cổ đại.
Bức xạ Mặt Trời chiếu xuống bề mặt Trái Đất không đồng đều làm cho bầu khí
quyển, nước và không khí nóng không đều nhau. Một nửa bề mặt của Trái Đất, mặt
ban đêm, bị che khuất không nhận được bức xạ của Mặt Trời và thêm vào đó là
bức xạ Mặt Trời ở các vùng gần xích đạo nhiều hơn là ở các cực, do đó có sự khác
nhau về nhiệt độ và vì thế là khác nhau về áp suất mà không khí giữa xích đạo và 2
cực cũng như không khí giữa mặt ban ngày và mặt ban đêm của Trái Đất di động
tạo thành gió. Trái Đất xoay tròn cũng góp phần vào việc làm xoáy không khí và vì
trục quay của Trái Đất nghiêng đi (so với mặt phẳng do quỹ đạo Trái Đất tạo thành
khi quay quanh Mặt Trời) nên cũng tạo thành các dòng không khí theo mùa.

chênh lệch về nhiệt độ và áp suất, thổi ở độ cao khoảng 1000 m so với mặt đất,
không phụ thuộc nhiều vào bề mặt Trái Đất. Đây chính là loại gió được đề cập ở
trên. Loại gió này không là nguồn năng lượng cho điện gió.
Gió bề mặt (surface wind): thổi trên mặt đất cho đến độ cao 100 m. Loại gió
này phụ thuộc mật thiết vào điều kiện mặt đất, địa hình (giảm vận tốc gió). Lưu ý
là hướng gió thổi gần mặt đất khác rất xa hướng gió thổi trên cao (hướng gió
geostrophic). Gió bề mặt là nguồn năng lượng chính yếu cho điện gió.
Gió địa phương (gió biển, gió bờ ...): gió bề mặt phụ thuộc mật thiết vào
điều kiện khí hậu tại điện phương. Gió địa phương hầu hết được sử dụng tại các hệ
thống điện gió, đặc biệt là gió biển (sea breeze) và gió bờ (land breeze).
+







c. Biểu đồ phân bố gió ở Việt Nam ở độ cao 80m
Theo các kết quả đánh giá tiềm năng gió của Ngân hàng Thế giới (2001) thông
qua một nghiên cứu được thực hiện cho bốn quốc gia trong khu vực Đông Nam Á,
Việt nam được xác định là quốc gia có tiềm năng gió lớn nhất so với các nước láng
giềng trong khu vực như Lào, Campuchia và Thái Lan. Tiềm năng năng lượng gió
của Việt Nam được ước tính vào khoảng 513.360 MW, cao hơn gấp sáu lần so với
tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Trong đó, những khu vực
hứa hẹn nhất cho phát triển điện gió chủ yếu nằm ở các vùng ven biển và cao
nguyên miền nam trung bộ và miền nam của Việt nam. Cũng theo nghiên cứu của
Ngân hàng Thế giới, ước lượng khoảng 8,6% tổng diện tích lãnh thổ Việt nam có
tiềm năng gió với mức từ “cao” đến “rất cao”, phù hợp cho việc triển khai tuabin
gió cỡ lớn (với tốc độ gió trên 7,0 m/s).

Bảng 1: So sánh các kết quả giữa EVN và Ngân hàng Thế giới
Vận tốc gió trung bình ở độ cao
STT Địa điểm
65 m trên mặt đất (m/s)
EVN
WB
Móng Cái, Quảng
1.1 Ninh
5,80
7,35
1.2 Van Lý, Nam Định
6,88
6,39
1.3 Sầm Sơn, Thanh Hóa 5,82
6,61
1.4 Kỳ Anh, Hà Tĩnh
6,48
7,02
Quảng Ninh, Quảng
2.1 Bình
6,73
7,03
2.2 Gio Linh, Quảng Trị 6,53
6,52
Phương Mai, Bình
2.3 Định
7,30
6,56
2.4 Tu Bong, Khánh Hòa 5,14
6,81

Việt Nam có tới 8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ “tốt“ đến
“rất tốt“ để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là
0,2%, ở Lào là 2,9%, và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2%. Tổng tiềm năng điện gió của
Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện
Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Tất
nhiên, để chuyển từ tiềm năng lý thuyết thành tiềm năng có thể khai thác, đến tiềm
năng kỹ thuật, và cuối cùng, thành tiềm năng kinh tế là cả một câu chuyện dài;
nhưng điều đó không ngăn cản việc chúng ta xem xét một cách thấu đáo tiềm năng
to lớn về năng lượng gió ở Việt Nam.
Nếu xét tiêu chuẩn để xây dựng các trạm điện gió cỡ nhỏ phục vụ cho phát triển
kinh tế ở những khu vực khó khăn thì Việt Nam có đến 41% diện tích nông thôn có
thể phát triển điện gió loại nhỏ. Nếu so sánh con số này với các nước láng giềng thì
Campuchia có 6%, Lào có 13% và Thái Lan là 9% diện tích nông thôn có thể phát
triển năng lượng gió. Đây quả thật là một ưu đãi dành cho Việt Nam mà chúng ta
còn thờ ơ chưa nghĩ đến cách tận dụng.
b.Giá thành của điện gió, liệu có đắt như định kiến?
Cho đến tận những năm 1990, nhiều người vẫn cho rằng giá thành (bao gồm giá
lắp đặt và vận hành) của các trạm điện gió khá cao. Nhưng ngày nay, định kiến này
đang được nhìn nhận và đánh giá lại, đặc biệt khi quan niệm giá thành không chỉ
bao gồm chi phí kinh tế mà còn gồm cả những chi phí ngoài (external cost – như
chi phí về xã hội do phải tái định cư, hay về môi trường do ô nhiễm).
Thử lấy một ví dụ cụ thể để so sánh giá thành của điện gió và thủy điện. Nhà máy
thủy điện Sơn La với 6 tổ máy, tổng công suất thiết kế là 2400 MW, được dự kiến
xây dựng trong 7 năm với tổng mức đầu tư là 2,4 tỷ USD. Giá thành khi phát điện
(chưa tính đến chi phí môi trường) là 70 USD/MWh. Như vậy để có được 1 KW
công suất cần đầu tư 1.000 USD trong 7 năm. Trong khi đó theo thời giá năm 2003
đầu tư cho 1 KW điện gió ở nhiều nước Châu Âu cũng vào khoảng 1.000 USD.
Đáng lưu ý là giá thành này giảm đều hàng năm do cải tiến công nghệ. Nếu thời
gian sử dụng trung bình của mỗi trạm điện gió là 20 năm thì chi phí khấu hao cho
một KWh điện gió là sẽ 14 USD. Cộng thêm chi phí thường xuyên thì tổng chi phí

vệ sức khỏe cộng đồng vào giá thành điện sản xuất. Theo nghiên cứu có xét đến các chi phí
phụ (hỗ trợ từ ngân sách, tác động tới môi trường và nguy cơ hạt nhân) thì giá thủy điện 7,6
cent một KWh, giá điện gió là 8,1 cent một KWh, điện khí 9 cent một KWh, nhiệt điện từ than
bùn và than đá (15,6 và 14,8 cent một KWh) và điện hạt nhân 16,4 cent một KWh (nếu tính các
chi phí khác, giá điện hạt nhân 42,2 cent một KWh ). Từ đó có thể thấy điện gió nguồn điện
“xanh” rẻ trên thế giới hiện nay.
Sự chênh lệch giữa giá điện gió và các năng lương tuyền thống (thủy điện, điện gió) không lớn
đối với nước phát triển. Nhưng đối với các nước đang phát triển, phụ thuộc công nghệ như Việt
Nam, việc đầu tư phát triển điện gió khá khó khăn do chi phí hạ tầng cơ sở, lưới điện; chưa làm
chủ được công nghệ, phụ thuộc nhiều vào nước ngoài. Do đó, giá điện gió khi bán ra tương đối
cao (ví dụ như điện gió Bạc Liêu đề nghị giá bán 12 UScents một kWh cho EVN trong 4 năm
đầu). Ở đây chưa xét tới chi phí môi trường, tài nguyên. Trong khi giá điện EVN mua từ công ty
tư nhân 700 đồng một KWh (3,33 cent một KWh).
Đa phần trang thiết bị kích thước lớn dẫn đến khó khăn trong việc vận chuyển. Nhiều nơi có
tiềm năng điện gió rất cao nhưng khó vận chuyển được do đường xá khó chịu được trong tải
lớn, thiếu nguồn đầu tư. Ngoài ra, thông tin chưa đầy đủ về tiềm năng gió từng vùng miền tại
Việt Nam. Các nhà đầu tư chưa mạnh dạn đầu tư, sợ lỗ do thiếu cơ chế, chính sách hợp lý giá
mua của Nhà nước.
Việc phát triển điện gió làm giảm thiểu lượng CO2, gây hiệu ứng nhà kính, góp phần bảo vệ
môi trường, đảm bảo nước ta phát triển nền công nghiệp xanh và bền vững.

b. Năng lượng gió tại Việt Nam

Việt Nam có một vị trí địa lý tương đối thuận lợi để khai triển điện gió, trong đó
phải nhắc đến vai trò quan trọng của hệ thống gió mùa trong khu vực. Theo Tài
liệu "Bản đồ Năng Lượng Gió Khu Vực Đông Nam Á" công bố vào năm 2001,
Việt Nam có một tiềm năng vô cùng lớn cho việc khai triển điện gió thương mại.
Trong các nghiên cứu gần đây, tiềm năng điện gió qui mô lớn được đánh giá có
công suất lý thuyết lên đến 120-160 GW, với phần lớn các tiềm năng khai thác nằm
dọc ở khu vực bờ biển Đông-Đông Nam. Bảng 6.1 tóm tắt công suất tiềm năng của

(> 9 m/s)

Đảo Côn Sơn, Qui Phan Rang, dãy
Nhơn, Tuy Hòa, Trường Sơn
biên giới ViệtTrung, dãy Trường
Sơn, Vinh
2187
113
8748

452

Tiềm năng to lớn về năng lượng gió dọc bờ biển Trung-Nam Bộ là từ cơ chế gió
mùa trong khu vực. Các dãy núi cao ở Trung và Nam Bộ nằm ở một vị trí đặc biệt
thuận lợi do chúng hình thành một hàng rào cản gió gần như thẳng góc với hướng
gió mùa Đông Bắc trong khoảng tháng 10 đến tháng 5, và từ Tây Nam trong
khoảng tháng 6 đến tháng 9 mỗi năm.
Từ tháng 12 đến tháng 2 mỗi năm, hướng gió chính chủ yếu thổi từ Đông Bắc, tuy
nhiên gió mạnh lại thổi ở khu vực đồng bằng mạn Tây dải Trường Sơn. Nguyên do
là khối khí nhiệt độ cao và ẩm thổi từ đại dương bị giảm nhiệt đột ngột khi nó thổi
lên cao ở sườn núi và đồng thời độ ẩm cũng hạ đáng kể, từ đó khối khí này trở nên
nặng hơn và thổi mạnh xuống khu vực đồng bằng theo suờn Tây của dãy Trường
Sơn. Gió mùa Đông Bắc cũng thổi mạnh về phía bờ biển Nam Bộ do gió đông bắc
tạo một vùng áp thấp ở phía Nam và Tây cuối dãy Trường Sơn, do đó tăng cường
thu hút gió biển và kéo gió ngoài khơi thổi vòng qua bán đảo. Mặt khác, khu vực
gió lớn ở khoảng 14 độ vĩ Bắc là kết quả của gió thổi hướng Đông Bắc xuyên qua
các khoảng trống lớn dọc theo các dãy núi.


12

cánh quạt 77 m, công suất 1,5 MW/tuabin; tức tổng công suất của giai đoạn này là
30 MW. Và mỗi năm dự tính sản xuất khoảng gần 100 triệu kWh điện. Đến cuối
quý 1 năm nay, giai đoạn 1 đã hoàn thành cơ bản; bao gồm các khâu lắp đặt, đưa
vào vận hành và đấu nối với lưới điện quốc gia. Và Nhà máy điện gió Tuy Phong 1
đã chính thức được khánh thành, đi vào hoạt động từ ngày 18/4/2012. Đây cũng là
nhà máy điện gió đầu tiên của cả nước chính thức đi vào hoạt động.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2 của dự án chuẩn bị khởi công xây dựng và lắp đặt 60
trụ điện gió (hay tuabin), nâng tổng công suất của toàn bộ Nhà máy Phong điện
Tuy Phong lên 120 MW.


13

Ở tỉnh Bình Thuận, sau Dự án Tuy Phong đã hòa mạng lưới điện quốc gia giai
đoạn 1 và chuẩn bị thi công giai đoạn 2, dự án điện gió ở đảo Phú Quý với 3
tuabin, tổng công suất 6 MW đã lắp đặt xong và thử vận hành an toàn, bình
thường. Nguồn điện gió Phú Quý, khi chính thức hòa vào dòng điện của nhà máy
điện Diesel hiện có tại đảo, thì đảo Phú Quý sẽ có điện 24/24 giờ.
Ngoài ra, cũng ở Bình Thuận, một dự án điện gió tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc
Bình cũng trong giai đoạn thi công và một số dự án khác đang chuẩn bị triển khai.
Với các dự án nói trên, rõ ràng, tỉnh Bình Thuận đang đi đầu trên con đường phát
triển điện gió ở Việt Nam.
c.Dự án điện gió Bạc Liêu
Dự án điện gió trên biển đầu tiên nước ta ở tỉnh Bạc Liêu đã hoàn thành giai đoạn
1 với tuabin thứ 10 lắp đặt thành công vào chiều ngày 2/10/2012.
Toàn bộ Nhà máy điện gió Bạc Liêu được đặt dọc theo đê biển Đông, kéo dài từ
phường Nhà Mát đến ranh giới tỉnh Sóc Trăng và chiểm tổng diện tích gần 500 ha.
Ở đây, các tuabin gió được sản xuất tại Mỹ, làm bằng thép đặc biệt không gỉ, cao
80m, đường kính 4m, mỗi tuabin có 3 cánh quạt, mỗi cánh dài 42 m, làm bằng
nhựa đặc biệt, có hệ thống điều khiển giúp cánh quạt tự gập lại khi gặp thời tiết

các khu vực giàu tiềm năng nhất là Quảng Ninh, Quảng Bình, và Quảng Trị. Ở phần
phía nam đèo Hải Vân, mùa gió mạnh trùng với mùa gió tây nam, và các vùng tiềm
năng nhất thuộc cao nguyên Tây Nguyên, các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu
Long, và đặc biệt là khu vực ven biển của hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận.
Theo nghiên cứu của NHTG, trên lãnh thổ Việt Nam, hai vùng giàu tiềm năng nhất
để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đồi cát ở độ cao 60100m phía tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Gió vùng này không những có
vận tốc trung bình lớn, còn có một thuận lợi là số lượng các cơn bão khu vực ít và
gió có xu thế ổn định là những điều kiện rất thuận lợi để phát triển năng lượng gió.
Trong những tháng có gió mùa, tỷ lệ gió nam và đông nam lên đến 98% với vận tốc
trung bình 6-7 m/s tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm điện gió công suất 3 3,5 MW. Thực tế là người dân khu vực Ninh Thuận cũng đã tự chế tạo một số máy
phát điện gió cỡ nhỏ nhằm mục đích thắp sáng. Ở cả hai khu vực này dân cư thưa
thớt, thời tiết khô nóng, khắc nghiệt, và là những vùng dân tộc đặc biệt khó khăn
của Việt Nam.
Mặc dù có nhiều thuận lợi như đã nêu trên, nhưng khi nói đến năng lượng gió,
chúng ta cần phải lưu ý một số đặc điểm riêng để có thể phát triển nó một cách có
hiệu quả nhất. Nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ thuộc vào điều
kiện thời tiết và chế độ gió. Vì vậy khi thiết kế, cần nghiên cứu hết sức nghiêm túc
chế độ gió, địa hình cũng như loại gió không có các dòng rối vốn ảnh hưởng không
tốt đến máy phát. Cũng vì lý do phụ thuộc trên, năng lượng gió tuy ngày càng hữu
dụng nhưng không thể là loại năng lượng chủ lực. Tuy nhiên, khả năng kết hợp giữa
điện gió và thủy điện tích năng lại mở ra cơ hội cho chúng ta phát triển năng lượng
ở các khu vực như Tây Nguyên vốn có lợi thế ở cả hai loại hình này. Một điểm cần
lưu ý nữa là các trạm điện gió sẽ gây ô nhiễm tiếng ồn trong khi vận hành cũng như
phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến tín hiệu của các sóng vô tuyến.
Do đó, khi xây dựng các khu điện gió cần tính toán khoảng cách hợp lý đến các khu
dân cư, khu du lịch để không gây những tác động tiêu cực.
Nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, trong trung hạn Việt Nam cần
tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống. Về dài hạn, Việt Nam cần
xây dựng chiến lược và lộ trình phát triển các nguồn năng lượng mới. Trong chiến
lược này, chi phí kinh tế (bao gồm cả chi chí trong và chi chí ngoài về môi trường,

một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, và Malaysia.
Như vậy, việc tăng thêm giá điện 10-15% trong năm nay và những năm kế tiếp sẽ
ảnh hưởng tiêu cực tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vốn đã bị giảm liên tục
trong mấy năm trở lại đây.
Trong trung hạn và dài hạn, Việt Nam cần có chiến lược đảm bảo an ninh năng
lượng bằng cách một mặt mở rộng khai thác những nguồn năng lượng truyền
thống; mặt khác, thậm chí còn quan trọng hơn phát triển các nguồn năng lượng
mới, đặc biệt là các nguồn năng lượng sạch và có khả năng tái tạo. Khả năng này
phụ thuộc rất nhiều vào những phát triển của công nghệ trong tương lai cũng như
vào mức giá tương đối của các nguồn năng lượng khác nhau. Cho đến thời điểm
này, chúng ta mới chú trọng đến phương án thứ nhất, tức là tiếp tục khai thác các
nguồn năng lượng truyền thống, chủ yếu là thủy điện. Về kế hoạch phát triển
nguồn năng lượng mới, ngày 3/1/2006 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
''Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình tới năm 2020''.
Theo dự báo của Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia thì vào năm 2020, nếu theo


16

đúng tiến độ thì công suất điện hạt nhân sẽ đạt mức 2000 MW, bằng 7% tổng công
suất. Cũng theo dự báo này, khi ấy nhiệt điện khí sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất (38%),
sau đó là đến thủy điện (29%), nhiệt điện than (17%) và nhập khẩu (9%)
Một điều đáng lưu ý là trong hàng loạt giải pháp phát triển nguồn điện để đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế (như nhập khẩu điện, phát triển thủy điện, hay điện hạt
nhân), dường như Việt Nam còn bỏ quên điện gió, một nguồn điện mà trong mấy
năm trở lại đây có tốc độ phát triển cao nhất trên thị trường điện thế giới, hơn nữa
giá thành ngày càng rẻ và rất thân thiện với môi trường.
c. học tập các nước trên thế giới
Phát triển năng lượng gió được tài trợ tại nhiều nước không phụ thuộc vào đường
lối chính trị, ví dụ như thông qua việc hoàn trả thuế (PTC tại Hoa Kỳ), các mô hình

17

truyền thống nhưng tiềm ẩn rủi ro cao như điện hạt nhân và thủy điện lớn, và vào
năm 2030 năng lượng gió sẽ trở thành nguồn năng lượng chiếm tỷ trọng lớn thứ
hai, chỉ đứng sau nhiệt điện .
Hội đồng Năng lượng Gió Thế giới cũng đưa ra những dự báo hết sức khả quan
cho triển vọng phát triển năng lượng điện gió. Theo Hội đồng này, đến năm 2020
sản lượng điện gió sẽ chiếm tới 12% trong tổng sản lượng điện năng của thế giới.
Để đạt được mục tiêu này, thế giới sẽ đầu tư khoảng 100 tỷ USD mỗi năm vào điện
gió, đồng thời tạo ra 2,3 triệu việc làm và giảm được một lượng đáng kể khí CO2
gây hiệu ứng nhà kính. Một thị trường về năng lượng gió sẽ phát triển mạnh mẽ
đưa giá thành lắp đặt cũng như vận hành điện gió xuống mức rẻ nhất, với chi phí
lắp đặt khoảng 600 USD trên một đơn vị kW công suất và giá điện thương phẩm sẽ
dưới 3 USD/kWh.i
Các nghiên cứu về năng lượng gió cũng như những thảo luận hiện nay đã tạo nên
một không khí sôi nổi tại các hội nghị khoa học và trong dư luận xã hội. Năng
lượng gió ngày càng được quan tâm hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền
vững về mặt năng lượng, đồng thời bảo đảm an ninh và sự tự chủ về năng lượng
cho các quốc gia. Hơn nữa, điện gió còn tạo nên được một thị trường mới với các
sản phẩm có giá trị gia tăng cao và giúp tạo thêm nhiều việc làm mới cho xã hội.
Các dự báo về tốc độ phát triển của năng lượng gió thường xuyên phải điều chính
để phản ánh chính xác hơn tốc độ tăng trưởng vượt bậc của ngành công nghiệp
điện gió. Chúng ta chắc chắn sẽ thấy được đóng góp tích cực của ngành công
nghiệp điện gió một cách toàn diện vào đời sống kinh tế - chính trị thế giới trong
một tương lai không xa.
Đức và sau đó là Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Đan Mạch và Ấn Độ là những quốc gia
sử dụng năng lượng gió nhiều nhất trên thế giới.
Trong số 20 thị trường lớn nhất trên thế giới, chỉ riêng châu Âu đã có 13 nước với
Đức là nước dẫn đầu về công suất của các nhà máy dùng năng lượng gió với
khoảng cách xa so với các nước còn lại. Tại Đức, Đan Mạch và Tây Ban Nha việc

03

Tây Ban Nha

15.145

04

Ấn Độ

8.000

05

Trung Quốc

6.050

06

Đan Mạch

3.125

07

Ý

2.726


13

Nhật

1.538

14

Áo

982

15

Hy Lạp

871

16

Úc

824

17

Ai Len

805


công suất tổng cộng là 19,25 MW.
Trong năm 2004, với 25.000 GWh, lần đầu tiên tại Đức sản xuất điện từ năng
lượng gió đã vượt qua được nguồn cung cấp điện từ năng lượng tái sinh khác được
sử dụng nhiều nhất cho đến thời điểm này là thủy điện với 20.900 GWh.


19

e.Những lợi ích về môi trường và xã hội của điện gió
Năng lượng gió được đánh giá là thân thiện nhất với môi trường và ít gây ảnh
hưởng xấu về mặt xã hội. Để xây dựng một nhà máy thủy điện lớn cần phải nghiên
cứu kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra với đập nước. Ngoài ra, việc di dân cũng như
việc mất các vùng đất canh tác truyền thống sẽ đặt gánh nặng lên vai những người
dân xung quanh khu vực đặt nhà máy, và đây cũng là bài toán khó đối với các nhà
hoạch định chính sách. Hơn nữa, các khu vực để có thể quy hoạch các đập nước tại
Việt Nam cũng không còn nhiều.
Song hành với các nhà máy điện hạt nhân là nguy cơ gây ảnh hưởng lâu dài đến
cuộc sống của người dân xung quanh nhà máy. Các bài học về rò rỉ hạt nhân cộng
thêm chi phí đầu tư cho công nghệ, kĩ thuật quá lớn khiến càng ngày càng có nhiều
sự ngần ngại khi sử dụng loại năng lượng này.
Các nhà máy điện chạy nhiên liệu hóa thạch thì luôn là những thủ phạm gây ô
nhiễm nặng nề, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe người dân. Hơn thế
nguồn nhiên liệu này kém ổn định và giá có xu thế ngày một tăng cao.
Khi tính đầy đủ cả các chi phí ngoài – là những chi phí phát sinh bên cạnh những
chi phí sản xuất truyền thống, thì lợi ích của việc sử dụng năng lượng gió càng trở
nên rõ rệt. So với các nguồn năng lượng gây ô nhiễm (ví dụ như ở nhà máy nhiệt
điện Ninh Bình) hay phải di dời quy mô lớn (các nhà máy thủy điện lớn), khi sử
dụng năng lượng gió, người dân không phải chịu thiệt hại do thất thu hoa mầu hay
tái định cư, và họ cũng không phải chịu thêm chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe do
ô nhiễm.

nhanh số lượng các nhà máy điện gió ở Việt Nam. Trong tương lai không xa, các
nhà máy điện gió ở Việt Nam hoàn toàn có khả năng góp phần vào việc cân bằng
năng lượng điện của Việt Nam và trước hết góp phần đảm bảo tỉ lệ 10-15% sử
dụng năng lượng sạch trong tổng năng lượng điện của Việt Nam, mà ngành điện
Việt Nam đã nhất trí ký kết trong hội nghị toàn ngành điện của các nước ASEAN
năm 2005. Về dài hạn, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và lộ trình phát triển các
nguồn năng lượng mới. Trong chiến lược này, chi phí kinh tế (gồm cả chi chí nội
và ngoại về môi trường, xã hội) cần Hình 6. Lộ trình phát triển thị trường điện của
Việt Nam .
phải được phân tích một cách kỹ lưỡng, có tính đến những phát triển mới về mặt
công nghệ, cũng như trữ lượng và biến động giá của các nguồn năng lượng thay
thế. Trong các nguồn năng lượng mới này, năng lượng gió nổi lên như một lựa
chọn xứng đáng, và vì vậy cần được đánh giá một cách đầy đủ. Việt Nam có nhiều
thuận lợi để phát triển năng lượng gió. Việc không đầu tư nghiên cứu và phát triển
điện gió là một lãng phí lớn trong khi nguy cơ thiếu điện luôn thường trực, ảnh
hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong khi
đó, hiện nay chiến lược quốc gia về điện dường như mới chỉ quan tâm tới nhiệt
điện và thủy điện lớn. Liệu Việt Nam có thể „đi tắt, đón đầu“ trong phát triển năng
lượng gió hay không phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách của nhà nước.
Nếu nhìn ra thế giới thì việc phát triển điện gió đang là một xu thế lớn, thể hiện ở
mức tăng trưởng cao nhất so với các nguồn năng lượng khác. Khác với điện hạt
nhân vốn cần một quy trình kỹ thuật và giám sát hết sức nghiêm ngặt, việc xây lắp
điện gió không đòi hỏi quy trình khắt khe đó. Với kinh nghiệm phát triển điện gió
thành công của Ấn Độ, Trung Quốc và Philippin, và với những lợi thế về mặt địa
lý của Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển năng lượng điện gió để đóng
góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Liệu Việt Nam có thể "đi tắt, đón đầu"


21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status