TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------***---------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Họ và tên sinh viên
Mã sinh viên
Lớp
Khóa
Người hướng dẫn khoa học
: Nguyễn Thị Thu Giang
: 0851020064
: Anh 6- Khối 3 Kinh tế
: 47
: PGS, TS Tăng Văn Nghĩa
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Lời cảm ơn
Qua khóa luận, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo;
PGS, TS Tăng Văn Nghĩa, giáo viên đã tận tình hướng dẫn cũng như giúp
đỡ em rất nhiều trong việc hoành thành khóa luận này. Em cũng xin chân
thành cảm ơn các thầy cô giáo của trường Đại học Ngoại thương, những
Cost, insurance and freight
Tiền hàng, bảo hiểm và cước phi
Carriage and insurance
paid to
DPP
Delivered duty paid
FOB
L/C
TNHH
Free on boat
Letter of Credit
Vietcombank
VNPT
WTO
Cước phi và phi bảo hiểm trả tới
Giao hàng đã thông quan nhập
khẩu
Giao hàng lên tàu
Thư tin dụng
Trách nhiệm hữu hạn
Ngân hàng Thương mại cổ phần
nhiên, việc sử dụng rông rãi, đặc biệt là khi bị lạm dụng, những điều kiện giao
dịch chung có thể gây bất lợi cho người phải chấp nhận chúng. Các doanh nghiệp
Việt Nam do kinh nghiệm còn non yếu nên thường chịu thiệt thòi trong các giao
dịch với các đối tác lớn từ nước ngoài. Vậy giải pháp nào giúp các doanh nghiệp
Việt Nam tận dụng hết các ưu điểm và hạn chế tối đa các nhược điểm trong việc
sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế?
Đề tìm câu trả lời cho những vấn đề trên cần phải có những nghiên cứu cụ
thể về lịch sử phát triển, nôi dung đặc điểm, bản chất pháp ly của các điều kiện
giao dịch chung từ các văn bản có liên quan và thực tiễn áp dụng các quy tắc này
trong hoạt đông kinh doanh trong và ngoài nước, từ đó đưa ra những kiến nghị,
đề xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng các điều kiện giao dịch chung cũng như
hạn chế tối đa các nhược điểm khi sử dụng các quy tắc này.
Trên đây cũng là ly do tôi chọn chủ đề: “Điều kiện giao dịch chung, ly
luận và thực tiễn áp dụng trong thương mại quốc tế” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đich nghiên cứu của khóa luận là làm rõ những vấn đề cơ bản về điều
kiện giao dịch chung nói chung và trong thương mại quốc tế; đồng thời phân tich
để thấy được thực tiễn sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong hoạt đông
thương mại tại Việt Nam; trên cơ sở đó đưa ra môt số giải pháp nhằm tăng cường
việc sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế đối với các
doanh nghiệp Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận này là điều kiện giao dịch chung của
doanh nghiệp được sử dụng trong thương mại quốc tế.
nước và ngoài nước, việc các doanh nghiệp tự mình xây dựng và vận dụng các
điều khoản ổn định để có thể áp dụng chung cho các giao dịch cùng loại ngày
càng trở nên phổ biến. Những điều khoản ấy được gọi là những điều kiện giao
dịch chung. Điều kiện giao dịch chung đã trở thành môt công cụ hữu hiệu tạo
điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong việc giao kết và thực hiện
hợp đồng, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ kinh doanh trong thương mại quốc tế.
Trên thực tế, điều kiện giao dịch chung đã được rất nhiều doanh nghiệp
trên thế giới áp dụng từ lâu. Phần dưới đây của luận văn sẽ đề cập chi tiết hơn về
lịch sử ra đời phát triển cũng như khái niệm cơ bản, nôi dung và đặc điểm của
các điều kiện giao dịch chung được áp dụng rông rãi trong thương mại quốc tế.
1. Lịch sử ra đời và sự phát triển của các điệu kiện giao dịch chung
1.1. Lịch sử ra đời các điều kiện giao dịch chung
Các điều kiện giao dịch chung xuất hiện lần đầu trong các giao dịch về
bảo hiểm tại Châu Âu vào Thế kỷ XV và ngày càng trở nên phổ biến. Đến Thế
kỷ XVII, các điều kiện này được sử dụng rông rãi và phổ biến trong các hợp
đồng thuê tàu và vận đơn đường biển...
Trước cách mạng công nghiệp, nền sản xuất còn mang tinh tự cung tự cấp,
số lượng hàng hóa it, kém đa dạng phong phú, số lượng khách hàng cũng chưa
nhiều, qui mô thị trường vì thế nhỏ lẻ và các giao dịch thương mại diễn ra chưa
sôi đông, tấp nập. Chinh vì vậy, đặc điểm của tập quán mua bán trong thời gian
này là người mua và người bán có vị thế gần như ngang bằng, chinh vì vậy họ
thường đàm phán, thương lượng với nhau về các điều khoản trong hợp đồng
trước khi ky kết. Thông thường là môt bên đưa ra toàn bô các điều kiện trong
hợp đồng rồi yêu cầu bên kia xem xét và ky chấp nhận trong môt thời gian hợp
ly, tuy nhiên cũng chỉ giới hạn trong ngành bảo hiểm và hàng hải. Đối với ngành
4
bảo hiểm, môt hãng bảo hiểm, thông thường, phải cung cấp dịch vụ đồng nhất,
5
Sau khi các điều kiện giao dịch chung được sử dụng rông rãi, các thương
nhân – những người luôn đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận lên hàng đầu cũng
nhận ra rằng tiêu dùng thường chấp nhận hoàn toàn các điều kiện giao dịch
chung, chinh vì vậy doanh nghiệp có thể ẩn chứa những điều kiện có lợi cho
mình trong những điều khoản này, nhất là khi những điều kiện thương mại này
mang tinh đại trà, đồng loạt… thì lợi ich của họ thu về càng lớn. Theo thời gian,
các doanh nghiệp cùng với các hiệp hôi ngành nghề đã xây dựng và phát triển
nhiều loại hợp đồng cụ thể, từ đó xây dựng cho mình những Luật chơi riêng
nhằm tối đa hóa lợi nhuận, tăng thêm sức mạnh trên thị trường, tạo lợi thế cạnh
tranh so với các doanh nghiệp khác hoạt đông trong cùng lĩnh vực. Đó là nguyên
nhân vì sao việc sử dụng các điều kiện giao dịch chung trở thành tất yếu do nhu
cầu tối đa hóa quyền lợi của các doanh nghiệp.
1.2. Lịch sử hình thành các điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc
tê
Lịch sử phát triển của các điều kiện giao dịch chung trong thương mại
quốc tế ra đời muôn hơn lịch sử phát triển của các giao dịch thương mại xuyên
biên giới. Xuất phát từ mục đich bảo vệ quyền lợi của các thành viên của mình,
các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn thường đưa các điều quy định, những cách
ứng xử cho việc mua bán hàng hóa. Thời kỳ này, các hợp đồng mẫu được các tập
đoàn, hiệp hôi soạn thảo để các thành viên tham khảo và sử dụng, tuy nhiên
phạm vi sử dụng vẫn còn hạn chế trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Giai đoạn từ 1820 cho tới cuối 1870 là thời kỳ đánh dấu mở cửa nền
kinh tế, khi thuế quan giảm và tỷ lệ thương mại tăng mặc dù vẫn có môt số ngoại
lệ. Đây là thời kỳ thống trị của Đế chế Anh cả trong thương mại lẫn chinh trị
quốc tế. Hệ thống thương mại quốc tế có mức đô mở cửa lớn. Môt nhân tố tác
đông mạnh mẽ cho sự mở cửa là việc ky kết Hiệp ước Anh - Pháp năm 1860 và
Nhằm mục đich đẩy mạnh tốc đô và nâng cao hiệu quả giao dịch, các
doanh nghiệp đã xây dựng môt hệ thống các điều khoản ổn định để áp dụng cho
nhiều lần giao dịch với nhiều khách hàng khác nhau. Các điều khoản ổn định ấy
chinh là các điều kiện giao dịch chung.
Trong thương mại quốc tế, điều kiện giao dịch chung (General terms and
condittions) thường được hiểu là những điều khoản có tinh ổn định trong hợp
đồng, được chủ thể kinh doanh sử dụng lặp đi lặp lại với các đối tác kinh doanh
khác nhau. Điều kiện giao dịch chung là môt bô phận của hợp đồng, tuy đã được
sử dụng phổ biến từ rất lâu nhưng đến nay vẫn chưa có khái niệm chinh thức nào
về điều kiện giao dịch chung trong các văn bản pháp ly hay các nguyên tắc quốc
tế. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy những đề cập sơ bô về Điều kiện giao
dịch chung trong các tài liệu nghiên cứu và các văn bản pháp luật có liên quan.
Viện quốc tế về thống nhất Tư pháp quốc tế (UNIDROIT) đã đưa ra
bản Principles of International Commercial Contract (PICC), với tên gọi tiếng
Việt là “Nguyên tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế”, đã quy định về hợp đồng
sử dụng các điều kiện giao dịch chung (Contracting under standard terms) từ điều
2.1.19 đến điều 2.1.22, trong đó có nêu:
8
Điều 2.1.19 khoản 2:
“Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản trong hợp đồng được
một bên chuẩn bị trước và để sử dụng chung với đối tác khác lặp đi lặp lại mà
không cần phải thỏa thuận lại.”2
Có thể thấy theo PICC, điều kiện giao dịch chung không phải việc các
điều kiện này được trình bày ở dạng nào, môt văn bản hay môt hợp đồng in
sẵn…, cũng không phải ở việc bên nào soạn thảo ra các điều kiện đó hay số
lượng các điều khoản được phép trở thành những điều kiện giao dịch chung…
Mà PICC chỉ tập trung vào yếu tố được soạn thảo trước, để sử dụng chung và
9
chấp nhận hoàn toàn nếu như muốn giao dịch, không cần đàm phán hay thương
lượng. Tuy nhiên có thể thấy rằng định nghĩa được nêu trong Nghị định của EU
có phạm vi hẹp hơn quan điểm của PICC. Theo PICC, điều kiện giao dịch chung
trong hợp đồng thương mại quốc tế do môt bên soạn thảo và được sử dụng nhiều
lần thì với cách định nghĩa trong Nghị định chỉ quan niệm điều kiện giao dịch
chung là do bên bán hàng hoặc những người cung cấp dịch vụ soạn thảo và đưa
ra cho người tiêu dùng để chấp nhận hoàn toàn các điều khoản ấy. Bên cạnh đó,
Nghị định cũng không đề cập đến mức đô sử dụng để điều khoản ấy khi nào
được xem là điều kiện giao dịch chung (môt lần hay được lặp lại nhiều lần). Như
vậy, dù có đưa ra định nghĩa về điều kiện giao dịch chung, song Nghị định chỉ
đưa ra những quy định rất chung về phạm vi, đối tượng áp dụng …
Về định nghĩa điều kiện giao dịch chung tại Việt Nam, hiện nay, Pháp
luật Việt Nam chưa có văn bản riêng biệt quy định về điều kiện giao dịch chung.
Tuy nhiên có thể tìm thấy định nghĩa liên quan đến bản chất pháp ly của các điều
kiện giao dịch chung tại Điều 407, Bô luật Dân sự Việt Nam 2005, trong đó có
nêu khái niệm hợp đồng dân sự theo mẫu như sau:
“Hợp đồng dân sự theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do môt
bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong môt thời gian hợp ly, nếu bên được
đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bô nôi dung hợp đồng theo
mẫu mà bên đề nghị đưa ra”
Khái niệm hợp đồng mẫu không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm điều
kiện giao dịch chung, tuy nhiên có thể hiểu đây là quy định sơ khai của Pháp luật
về điều kiện giao dịch chung tại Việt Nam. Hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch
chung đều có những điểm tương đồng về nôi dung như: do môt bên soạn sẵn, đưa
ra làm việc giao kết hợp đồng trở nên dễ dàng và trở thành nôi dung của hợp
đồng nếu được bên kia chấp nhận. Trong hoạt đông thương mại, hợp đồng mẫu
ra đời trước hết nhằm mục đich tham khảo và tạo điều kiện dễ dàng cho việc giao
điều kiện giao dịch chung ghi lại những thỏa thuận. Đặc biệt, những thỏa thuận
này do chinh y chi của người ban hành đưa ra mà không bị cấm hay vi phạm
pháp luật. Nếu doanh nghiệp không đưa ra các điều khoản thì các điệu kiện như
vậy không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các bên. Loại điều kiện giao dịch
chung này mới có y nghĩa và thực sự quan trọng đối với bên chấp nhận điều kiện
giao dịch chung.
3.2. Căn cứ và sự xuất hiện của các điều kiện giao dịch chung
4
Tăng Văn Nghĩa, Bàn về điều kiện giao dịch chung của doanh nghiệp, 1999, Tạp chí Dân chủ
và pháp luật. Bộ Tư pháp, Số 3/ 2009, trang 21-29
11
Có thể phân thành 3 loại:
Điều kiện giao dịch chung nằm trong hợp đồng: tức là trong môt văn
bản hợp đồng đã được ky kết, điều kiện giao dịch chung và điều khoản được thỏa
thuận riêng nằm trong cùng môt văn bản.
Điều kiện giao dịch chung nằm ngoài hợp đồng, nhưng là môt phần của
hợp đồng. Đây là những điều khoản được dẫn chiếu trong hợp đồng. Với loại
điều kiện giao dịch này, các điều kiện giao dịch chung nằm ở môt văn bản khác
nên đối tác của doanh nghiệp cần có sự cân nhắc thich đáng khi ky kết.
Điều kiện giao dịch chung nằm trong hợp đồng nhưng được in bằng
kiểu chữ, cỡ chữ khác biệt so với các điều khoản thỏa thuận riêng.
4. Đặc điểm và nội dung của các điều kiện giao dịch chung
4.1. Đặc điểm các điều kiện giao dịch chung
Được soạn thảo trước và sử dụng nhiều lần cho nhiều khách hàng
mà không cần qua thương lượng lại.
về bảo vệ lợi ich của bản thân trong quan hệ hợp đồng, họ luôn tìm cách kiếm lợi
cho công ty mình đồng thời hạn chế trách nhiệm của mình trong hợp đồng. Có
thể thấy rất nhiều điều khoản trong điều kiện giao dịch chung được đưa ra nhằm
bảo vệ lợi ich bên soạn thảo, đôi khi các điều khoản này gây bất công bằng cho
phia đối tác phải chấp nhận. Nói cách khác, ngôn ngữ của các điều kiện giao dịch
chung thường thể hiện y chi chủ quan của môt số người, nhằm mục đich nhất
định trong giao dịch, nhất là khi giao dịch mang tinh hàng loạt thì hiệu quả việc
sử dụng các điều kiện giao dịch này sẽ càng cao.
4.2. Một số nội dung điển hình trong các điều kiện giao dịch chung
Những điều khoản trong điều kiện giao dịch chung thông thường là
những điều khoản về nguyên tắc, trừ trường hợp hợp đồng được thiết kế riêng
cho môt mặt hàng cụ thể hoặc đối tượng khách hàng nào đó của doanh nghiệp.
Phần nôi dung tiếp theo của khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu môt số điều khoản
điển hình được lựa chọn trong điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng mua
bán hàng hóa.
4.2.1. Điều khoản giao hàng
Đây là điều khoản rất quan trọng của hợp đồng, vì nó sẽ quy định nghĩa
vụ cụ thể của người mua và bán; đồng thời cũng là ràng buôc các bên hoàn thành
trách nhiệm của mình đối với đối phương. Nếu không có điều khoản này, hợp
đồng mua bán coi như không có hiệu lực. Các điều kiện giao dịch chung quy
định về việc giao hàng thường đưa ra các nguyên tắc quy định nghĩa vụ của hai
13
bên song song với các điều khoản đã được quy định cụ thể trong hợp đồng mua
bán. Cụ thể điều khoản giao hàng có những nôi dung sau:
Thời gian giao hàng
Về thời gian giao hàng, điều kiện giao dịch chung thường dẫn chiếu tới
còn phụ thuôc vào chủ quan đương sự. Có thể thấy ở môt vài bản điều kiện giao
dịch chung xuất hiện môt điều khoản đặc biệt, gọi là “điều khoản gia hạn”
(extension clause), cho đương dự được quyền hoãn giao hàng trong môt vài ngày
(có thể tối đa là 8 ngày), miễn là phải trả cho đối tác của mình môt khoản tiền
thich ứng. Như vậy, người bán có quyền lựa chọn việc giao hàng đúng hạn với
việc hoãn giao hàng và chịu phạt. 5
4.2.2. Điều khoản vận tải.
Trong thương mại quốc tế, vận tải đường biển chiếm đến 70% các
thương vụ. Trong đó có đến hơn 90% các mẫu hợp đồng buôc người bán tổ chức
chuyên chở hàng hóa bằng tàu chuyến 6. Vì vậy, quy định của các hợp đồng soạn
thảo sẵn cũng thường theo hướng này.
Nếu các điều kiện giao dịch chung được soạn thảo cho nghiệp vụ mua
hàng và quy định người bán lo việc chuyên chở thì điều khoản vận tải quy định
rằng: tàu chở hàng phải có khả năng đi biển, chưa quá tuổi sử dụng hoặc được
xếp hạng tốt bởi môt công ty đăng kiểm có tin nhiệm. Quy định này là cần thiết
cho việc bảo vệ quyền lợi của người mua vì theo Incoterms, người bán hàng
không buôc phải thuê tàu có khả năng đi biển mà chỉ cần thuê tàu đi biển để
chở hàng.
Tùy theo loại hàng hóa, nôi dung điều khoản này cũng sẽ thay đổi. Vi
dụ: điều kiện giao dịch chung về buôn bán gỗ cho phép hàng được xếp trên
boong. Điều kiện giao dịch chung về hàng ngũ cốc cũng cho phép chở hàng trên
boong, nhưng đó là hợp đồng theo điều kiện Rye terms, nghĩa là người bán phải
chịu trách nhiệm về việc hàng bị hư hỏng do nước biển.7
Nguyễn Hữu Tửu, 2006, Giáo trình Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ngoại Thương, Nhà xuất bản Giáo
Dục, trang 20-24
6
Theo J. Zielenewski, Ba Lan
7
Giá cả của hợp đồng
Điều kiện giá cả trong bản điều kiện giao dịch chung không phải để ghi
mức giá cố định cho hợp đồng mà là điều khoản quy định về đặc điểm của giá,
những yếu tố tác đông tới giá chinh thức của hợp đồng.
Bên soạn thảo có rất nhiều lợi thế trong việc quy định những nguyên tắc
làm thay đổi mức giá đặc biệt là trong môt số ngành đặc trưng (như buôn bán các
mặt hàng như quặng, kim loại, lương thực, thực phẩm…). Cụ thể là giá cả được
Nguyễn Hữu Tửu, 2006, Giáo trình Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ngoại Thương, Nhà xuất bản Giáo
Dục, trang 61-65
8
16
xác định theo hàm lượng của chất hữu ich trong háng hóa mua bán. Nếu hàm
lượng chất đó càng nhiều thì giá càng cao, ngược lại càng it thì giá càng thấp.
Trong nhiều hợp đồng, giá cả được xác định ngay khi ky kết, nhưng kèm theo đó
là các điều khoản về mức tăng giá khi hàng hóa được giao có hàng lượng chất
hữu ich cao hơn quy định của hợp đồng. Mức tăng giá đó gọi là mức tăng về chất
lượng hàng. Ngược lại, khi hàm lượng chất hữu ich trong hàng hóa thấp hơn so
với mức quy định của hợp đồng gọi là giảm giá chất lượng hàng.9
Thanh toán
Incoterms quy định nghĩa vụ người bán phải giao hàng đúng như hợp
đồng và được thanh toán, nghĩa vụ của người mua là phải nhận hàng và thanh
toán cho người bán. Vì vậy cũng như điều khoản giao hàng, điều khoản thanh
toán giữ vị tri rất quan trong trong hợp đồng ngoại thương, vì nó liên quan trực
tiếp đến quyền lợi của cả hai bên. Do vậy khi đàm phán ky kết hợp đồng ngoại
thương về điều khoản thanh toán các bên cần phải thống nhất những nôi dung
chinh dưới đây.
Nôi dung của điều khoản này khá đa dạng, phong phú theo từng đối
quan hệ, giá trị và thời hạn thực hiện hợp đồng mà các bên thống nhất lựa chọn
phương thức thanh toán nào cho phù hợp, thuận tiện và đảm bảo quyền lợi cho
các bên tham gia hợp đồng.10
Muốn lựa chọn môt phương thức thanh toán hợp ly trong quá trình mua
bán trao đổi hàng hoá với nước ngoài, ngoài việc nắm vững các quy trình nghiệp
vụ mỗi thương nhân còn phải biết vận dụng chúng môt cách linh hoạt, ứng xử
nhanh trong nhiều trường hợp vì nghiệp vụ thanh toán quốc tế là môt nghiệp vụ
rất phức tạp, đặc biệt là với các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn non nớt trong
việc sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong khi các đối tác nước ngoài đã
có nhiều kinh nghiệp, nếu gặp phải các đối tác không trung thực, có nhiều thủ
đoạn thì rất dễ rơi vào bẫy của họ và sẽ khó có thể tránh khỏi tình trạng tiền mất
tật mang.
II. Điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế
1. Khả năng áp dụng điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế
Trong bối cảnh nền kinh doanh quốc tế ngày nay, sự ra đời của nhiều tập
đoàn lớn với những mục đich khác nhau trong việc tập trung nguồn lực để dành
ưu thế cạnh tranh trên thị trường đã tạo nên môt môi trường cạnh tranh sôi đông.
Khi các doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh thì các hoạt đông kinh doanh của
doanh nghiệp cũng ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp hơn. Chinh sự đa
dạng, phức tạp này lại ẩn chứa nhiều rủi ro đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có sự
chuẩn bị tốt cho các thương vụ trước khi tiến hành kinh doanh quốc tế. Trong đó,
10
Nguyễn Hữu Tửu, 2006, Giáo trình Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ngoại Thương, Nhà xuất bản Giáo
Dục, trang 98-102
18
những công thức để xử ly vấn đề nghiệp vụ cụ thể. Chẳng hạn như điều kiện giao
19
dịch chung dẫn chiếu tới môt số điều khoản trong Incoterms, mà mỗi điều khoản
trong Incoterms lại quy định trách nhiệm và quyền hạn của người bán với người
mua khác nhau. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững công thức của
các điều kiện vận tải trong Incoterms để biết được quyền lợi và nghĩa vụ của
mình với hàng hóa đó. Bản điều kiện giao dịch chung được soạn thảo với mục
đich ban đầu để đảm bảo quyền lợi cho bên soạn thảo, sau khi đã ky kết hợp
đồng thì toàn bô nôi dung sẽ có giá trị ràng buôc cả hai bên chinh vì vậy ngôn từ
được sử dụng thường chặt chẽ, chuẩn xác và ổn định, tránh gây hiểu lầm trong
việc thực hiện hợp đồng.
2.1.2. Phòng ngừa tranh chấp phát sinh
Điều kiện giao dịch chung cũng đưa ra những khả năng xảy ra, các căn
cứ miễn trách và thường xác định cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp nếu phát
sinh. Các điều khoản trong điều kiện giao dịch chung thường là nôi dung có tinh
nguyên tắc, ổn định trong các giao dịch của doanh nghiệp, vi dụ như: điều khoản
về nguyên tắc giao hàng, điều khoản về nguyên tắc thuê tàu… Các điều khoản
này đã được đúc kết dựa trên những kiến thức về hợp đồng và kinh nghiệm từ
thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp. Với tư cách là người soạn thảo ra các
điều kiện giao dịch chung, bằng kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu sắc về nghiệp
vụ, doanh nghiệp có thể dự đoán được các khả năng xảy ra và các rủi ro dẫn đến
tranh chấp trong quá trình giao dịch. Từ đó điều chỉnh hành vi người tiêu dùng
trên diện rông nhằm chủ đông bảo vệ lợi ich doanh nghiệp cũng như hạn chế rủi
ro có thể xảy ra.
Tất nhiên không có bất cứ doanh nghiệp nào mong muốn xảy ra tranh
chấp trong hoạt đông kinh doanh của mình, đặc biệt là với các doanh nghiệp hoạt
đông trong môi trường kinh doanh quốc tế. Bởi vì tranh chấp xảy ra dễ gây tốn
bên kia đề nghị xem xét lại điều kiện giao dịch chung. Nếu được bên đưa ra điều
kiện giao dịch chung chấp nhận xem xét lại có nghĩa họ sẵn sàng ky môt hợp
đồng mới mà không sử dụng điều kiện giao dịch chung. Trong những trường hợp
đó, những điều khoản được xem xét lại thường là những điều kiện nhạy cảm dễ
xảy ra tranh chấp như điều khoản vi phạm, điều khoản luật áp dụng hoặc điều
khoản bồi thường… Nhưng rõ ràng, khi xem xét lại mọi việc sẽ được tiến hành
trên điều khoản đã có sẵn này nên diễn ra nhanh chóng hơn việc soạn thảo mới.
Dù nhìn nhận theo cách nào, điều kiện giao dịch chung cũng đã giúp thời gian
đàm phán giữa các bên được rút ngắn rất nhiều.
2.1.4. Tạo thuận lợi cho bên đưa ra các điều kiện giao dịch khi ký kết hợp đồng
21
Như đã phân tich ở trên, mục tiêu lớn nhất của các doanh nghiệp là lợi
nhuận, và để có được lợi nhuận các doanh nghiệp tìm mọi cách để giành lợi thế
trên thị trường. Thương trường biến đông từng ngày và khó có doanh nghiệp nào
dự đoán được hết những rủi ro có thể xảy ra, vi dụ như: rủi ro thiên thai, rủi ro
giao hàng chậm, rủi ro chất lượng hàng hóa bị ảnh hưởng trên đường vận
chuyển… Chinh vì vậy, giảm thiếu tối đa các rủi ro là điều mà mọi doanh nghiệp
quan tâm hàng đầu trước khi tiến hành các thương vụ. Cách ngăn chặn rủi ro an
toàn hiệu quả nằm ở các điều khoản hợp đồng, khi môt doanh nghiệp đưa ra điều
kiện giao dịch chung cho phia đối tác chấp nhận đã hàm chứa mục tiêu giảm
thiếu tối đa rủi ro cho mình. Và điều tất yếu là khi bên bán có lợi thì bên mua sẽ
rơi vào tình thế bất lợi hơn, vì thế việc soạn thảo ra các điều kiện giao dịch chung
là việc mà các doanh nghiệp đều hướng tới để đạt được mục tiêu lợi nhuận.
2.2. Các hạn chê của điều kiện giao dịch chung
Điều kiện giao dịch chung ra đời môt phần nhằm mục đich vụ lợi của
môt doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có vị thế thống lĩnh trên thị trường.
Do vậy, ngay từ khi soạn thảo hợp đồng, sự bất cân bằng về quyền lợi các bên đã