Skkn một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép - Pdf 35

Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.

MỤC LỤC

Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

3
3
3
3
3
3

II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng
2.1. Thuận lơi – khó khăn
2.2. Thành công – hạn chế
2.3. Mặt mạnh – mặt yếu
2.4. các nguyên nhân, các yếu tố tác động, …
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề mà thực trạng đề tài đã đặt ra.
3. Giải pháp, biện pháp
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện phápKết quả thực hiện đề tài
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Biện pháp 1: Giáo viên cần có nắm các kiến thức về loại Từ

1
5

III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong

15
15
1


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
2. Kiến nghị

2

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong

16


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục bậc Tiểu học là một khoa học khó nhất. Nó là nền móng đầu tiên
giúp con người tồn tại và phát triển. Đặc biệt là môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng
trong tất cả các môn học ở Tiểu học, nó hình thành khả năng giao tiếp, là cơ sở để
phát triển tư duy cho trẻ, giúp học sinh tiếp thu các môn học khác.

3. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Học sinh lớp 4C trường Tiểu học Tây Phong năm học 2014 - 2015
5. Phương pháp nghiên cứu
4

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
- Phương pháp khảo sát thực trạng
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp thử nghiệm
- Phương pháp điều tra, xử lí số liệu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Như chúng ta đã biết môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình
thành năng lực hoạt động cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ của học sinh
thể hiện tốt hay không là nhờ vốn kiến thức về Tiếng Việt dồi dào và khả năng
chuyển tải kiến thức, nội dung hợp lý, sáng tạo của giáo viên. Do đó, vấn đề dạy
Tiếng Việt ở các trường Tiểu học nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng
là một yếu tố quan trọng giúp phát triển năng lực trí tuệ và những phẩm chất đạo
đức tốt đẹp cho học sinh. Luyện từ và câu giúp học sinh Tiểu học có hiểu biết về
quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong
giao tiếp. Thông qua việc dạy và học môn Tiếng Việt để góp phần rèn luyện các em
những thao tác tư duy về ngôn ngữ; cung cấp cho học sinh các kiến thức sơ giản về
Tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu về tự nhiên- xã hội, về con người, về văn

Nhiều học sinh yêu thích môn học, có ý thực tự học, ham hiểu biết, tự tin trao
đổi với bạn với thầy cô giáo khi chưa hiểu bài. Hơn nữa, học sinh có một số hiểu
biết nhất định về từ Tiếng Việt, nhiều em đã biết giải giải nghĩa từ, phân biệt được
một số từ đơn giản như từ chỉ hoạt động, từ chỉ sự vật, từ chỉ tính chất, …
Giáo viên có chuyên môn vững vàng, nắm được các kiến thức của môn học,
chịu khó học hỏi, trao đổi kinh nghiệm dạy học, mạnh dạn tự tin áp dụng một số
phương pháp dạy học mới, tận tụy với nghề, với học sinh.
6

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
Bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh chưa chủ động tiếp thu kiến thức, nắm
chưa tốt các kiến thức về từ láy, từ ghép, chưa phân biệt được các loại từ láy, các
loại từ ghép, nhiều em vốn từ còn quá ít(học sinh dân tộc). Đặc biệt là rất nhiều em
còn nhần lẫn khi phân biệt từ láy và từ ghép trong các trường dễ lẫn lộn.
2.3. Mặt mạnh – mặt yếu
Đội ngũ giáo viên trẻ, năng nổ nhiệt tình, có trình độ chuyên môn cao, tự tin
khi truyền đạt kiến thức cho học sinh. Học sinh đã có một lượng vốn từ cơ bản
được trang bị từ các lớp dưới và từ cuộc sống hằng ngày. Bên cạnh đó, đa số các
em ham hiểu biết, thích tìm tòi, tích cực chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập được
giao.
Nhiều giáo viên mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm nên còn lúng túng
trong việc lựa chọn các phương pháp dạy học hiệu quả.
Học sinh vẫn còn nhầm lẫn khi phân biệt từ láy, từ ghép.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi chuyên đề, hội giảng, thao giảng
để giáo viên có điều kiện trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy.
Bản thân giáo viên có ý thức tự rèn bồi dưỡng chuyên môn, nắm được các

kịp thời tạo tâm lí thoải mái giúp các em tự tin trao đổi, trình bày ý kiến .
Đa số học sinh trong trường đều là con của gia đình khó khăn, vì cuộc sống họ
phải bươn trải để lo cái ăn cái mặc nên ít quan tâm đến việc học của con em mình.
Bên cạnh đó, học sinh ở hai phân hiệu Buôn K62 và Buôn Cuê hầu hết là người Êđê vốn từ của các em khi đến trường rất hạn chế, đời sống gia đình thì khó khăn,
bản thân cha mẹ cũng ít được học hành nên ít quan tâm đến việc học tập của học
sinh. Thậm chí nhiều phụ huynh còn bắt học sinh nghỉ học để giữ em, chăn bò,…
Bên cạnh những học sinh có ý thức ham học, thích tìm tòi, chủ động tiếp thu
kiến thức thì rất nhiều học sinh chưa có ý thức trong việc học tập, nhiều em học

8

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
trước quên sau, khả năng ghi nhớ kiến thức còn chưa tốt, chưa chịu khó thực hành
làm bài tập cho nên khi tiếp thu mới rất lúng túng và khó khăn.
Bản thân giáo viên cũng rất lúng túng khi xác định loại từ đặc biệt là các từ dễ
lẫn lộn. Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4 thời gian dành cho mảng kiến thức về
từ láy, từ ghép chỉ có 3 tiết, nhiều khi giáo viên sợ mất thời gian nên chủ yếu là dạy
lí thuyết, ít quan tâm đến thực hành, hoặc khi thực hành làm bài tập thì gọi học sinh
học tốt lên làm bài điều này vô tình làm cho học sinh tiếp thu chậm ít cơ hội thực
hành. Hơn nữa sách cũng chỉ hướng dẫn học sinh phân biệt một số từ điển hình
nhìn là có thể nhận dạng được ngay. Trên thực tế còn rất nhiều từ học sinh không
biết hoặc lẫn lộn khi nhận diện chúng thuộc loại từ nào, điều đó dẫn đến việc sử
dụng từ sai khi giao tiếp.
3. Giải pháp, biện pháp
3.1. Mục tiêu
Nhằm giúp học sinh học biết nhận diện, phân biệt loại từ một cách chính xác
từ đó có thể sử dụng từ để viết câu, viết đoạn văn.

phân loại.
Từ ghép có nghĩa tổng hợp (Từ ghép hợp nghĩa, từ ghép song song, từ ghép
đẳng lập) là từ ghép mà nghĩa của nó biểu thị những loại rộng hơn, lớn hơn, khái
quát hơn so với các nghĩa từng tiếng trong từ.(Ví dụ: mặt mũi, tươi tốt, đi đứng,…)
Từ ghép có nghĩa phân loại (Từ ghép chính phụ) thường gồm hai tiếng trong
đó có một tiếng chỉ loại lớn (tiếng chính) tiếng còn lại có tác dụng chia loại lớn đó
thành nhiều loại nhỏ hơn.(Ví dụ: mặt bàn, hoa hồng, bút chì,..)
Từ láy là từ gồm hai hay nhiều tiếng láy nhau. Các tiếng láy có thể có một
phần hoặc toàn bộ âm thanh được láy lại.( Ví dụ: dịu dàng, ấm áp, suôn sẻ,…)
Căn cứ vào bộ phận lặp thì từ láy chia thành 4 kiểu láy: Láy âm, láy vần, láy
tiếng, láy cả âm lẫn vần.
10

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
Căn cứ và số tiếng được lặp lại thì từ láy chia thành các dạng: Láy đôi, láy
ba, láy tư,…
Ngoài ra từ láy còn có hai loại đặc biệt khác đó là từ tượng thanh và từ tượng
hình.
Từ tượng thanh là từ láy mô phỏng, gợi tả âm thanh trong thực tế. Ví dụ: ầm
ầm, lạch bạch, thì thầm,…
Từ tượng hình là từ láy gợi tả hình dáng, hình ảnh của người vật; gợi tả màu
sắc, mùi vị.
Ví dụ: - Hình dáng: lè tè, lênh khênh, dong dỏng, chót vót
- Màu sắc: lấp lánh, long lanh, mênh mông
- Mùi vị: thoang thoảng, ngào ngạt
Biện pháp 2: Giáo viên khắc sâu kiến thức, trang bị thêm kiến thức trong
các tiết dạy lí thuyết cho học sinh.

phức.
- Vậy từ đơn là từ như thế nào ? từ phức - Từ đơn là từ có một tiếng. Từ phức là
là từ như thế nào ?

từ gồm hai hay nhiều tiếng

- Em có nhận xét gì về nghĩa của từ đơn. - Có nghĩa rõ ràng
- Giảng: Từ đơn là từ có một tiếng và có
nghĩa rõ ràng.
- Yêu cầu HS nhắc lại: từ như thế nào - Từ đơn là từ có một tiếng. Ví dụ: nhà,
gọi là từ đơn, từ như thế nào gọi là từ sách, vở, bút, ăn, uống, đi, …
phức và cho ví dụ minh họa.

- Từ phức là từ

gồm hai hay nhiều

tiếng: bàn ghế, giáo viên, nhẹ nhàng,
lung linh, …
* Dạy bài : Từ ghép và từ láy
Dựa vào các ví dụ trong sách giáo khoa giáo viên hình thành khái niệm về từ
láy và từ ghép cho học sinh:
Từ ghép là từ do hai hay nhiều tiếng có nghĩa ghép lại với nhau
Từ láy là từ do hai hay nhiều tiếng có âm đầu hay vần(hoặc cả âm đầu và vần)
giống nhau phối hợp tạo thành.
Ngoài việc hình thành kiến thức, khái niệm mới cho học sinh giáo viên khắc
sâu kiến thức cho học sinh:
Sự giống nhau và khác nhau của từ ghép, từ láy.
12


xinh xắn, xinh xinh,…

*Dạy bài : Luyện tập về từ láy và từ ghép
Cũng như ở bài từ đơn và từ phức từ bài tập trong sách giáo khoa giáo viên
cũng giúp học sinh nắm những khái niệm, kiến thức về các loại từ ghép và từ láy.
Từ ghép có hai loại: Từ ghép có nghĩa tổng hợp và từ ghép có nghĩa phân loại.
Từ ghép có nghĩa tổng hợp là từ ghép mà nghĩa của nó biểu thị những loại
rộng hơn, lớn hơn, khái quát hơn so với các nghĩa từng tiếng trong từ.(Ví dụ: mặt
mũi, tươi tốt, đi đứng,…)
Từ ghép có nghĩa phân loại là từ ghép thường gồm hai tiếng trong đó có một
tiếng chỉ loại lớn (tiếng chính) tiếng còn lại có tác dụng chia loại lớn đó thành
nhiều loại nhỏ hơn. (Ví dụ: mặt bàn, hoa hồng, bút chì,..)

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong

13


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
Căn cứ vào bộ phận lặp thì từ láy chia thành 4 kiểu láy: Láy âm, láy vần, láy
tiếng, láy cả âm lẫn vần.
- Láy âm đầu: tràn trề, hối hả,…
- Láy vần: lạt xạt, lạo xạo, loắt choắt,…
- Láy âm lẫn vần: he hé, rào rạo, lanh lảnh,…
- Láy tiếng: rào rào, cao cao, luôn luôn, bon bon,…
Trong bài này giáo viên cũng cung cấp thêm cho học sinh một số kiến thức
khác về từ láy như :
Căn cứ vào số tiếng được lặp lại thì từ láy chia thành các dạng: Láy đôi, láy
ba, láy tư,…(Ví dụ: sạch sẽ, sạch sành sanh, nhí nha nhí nhảnh, …
Ngoài ra giáo viên cũng giới thiệu mở rộng thêm cho học sinh biết 2 loại từ

Ví dụ:

- đi lên đối lập với đi xuống
Kết luận: đi lên là kết hợp của 2 từ đơn

- Nếu không thể có thì đó là từ ghép
Ví dụ:

- xòe ra chứ không thể có xòe vào

Kết luận: xòe ra là từ đơn
Cách 4: Xem đó có phải là một yếu tố được dùng thay cho cả tổ hợp hay
không, nếu có thì đó là từ ghép
Ví dụ: - Cánh én( chỉ con chim én) = > từ ghép
- Tay người( chỉ con người) = > từ ghép
Tuy nhiên có những tổ hợp mang tính chất trung gian, nghĩa của nó mang đặc
điểm của cả 2 loại (từ ghép và hai từ đơn). Trong từng trường hợp cụ thể mà ta kết
luận nó thuộc loại nào
Ví dụ:
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong

15


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
- Khi ăn nói chuyện không hợp vệ sinh.
- Anh ấy ăn nói khách sáo.
- Ăn nói là khả năng có sẵn của con người.
Ở ví dụ này thì ở trường hợp 2 “ăn nói” là từ ghép, còn ở trường hợp 1 và 3
“ăn nói” lại là từ đơn.

* Cách hữu hiệu nhất là xét nghĩa của từng tiếng trong từ
- Nếu tất cả tiếng trong từ đều có nghĩa(có quan hệ về nghĩa)hoặc đó là từ Hán
-Việt( gốc Hán) thì xếp nó vào từ ghép. Ví dụ: thúng mủng, tươi tốt, đi đứng, bình
minh, cần mẫn, tham lam, bảo bối, ban bố
- Nếu trong từ chỉ 1 tiếng có nghĩa, hoặc không xác định được tiếng gốc trong
từ đó thì ta xếp vào nhóm từ láy ( Ví dụ: chim chóc, đất đai, tuổi tác, thịt thà, cây
cối, máy móc, nhí nhảnh, băng khuâng, bát ngát...)
- Nếu tất cả các tiếng trong từ đều không có phụ âm đầu thì xếp nó vào nhóm
từ láy. Ví dụ: ồn ào, ầm ĩ, ấm áp, im ắng, ao ước ,yếu ớt,...
- Nếu từ các tiếng có phụ âm đầu được ghi bằng những con chữ khác nhau
nhưng có cùng cách đọc ( c/k/q ; ng/ngh ;g/gh ) cũng được xếp vào nhóm từ láy.
(Ví dụ : cuống quýt, cũ kĩ, ngốc nghếch, gồ ghề,...)
Biện pháp 4 : Tăng cường cho học sinh luyện tập
Luyện tập là một việc làm rất quan trọng, nó không chỉ giúp cho các em trải
nghiệm kiến thức mà nó còn giúp cho các em khắc sâu, ghi nhớ được lâu kiến thức
mình đã học. Chính vì vậy ngoài việc luyện tập làm các bài tập có trong sách giáo
khoa, ở vở bài tập thì trong các tiết luyện Tiếng Việt Giáo viên cho học sinh làm rất
nhiều bài tập với nhiều dạng mà giáo viên đã sưu tầm được từ một số tài liệu, sách
tham khảo.
Tuy nhiên thời gian cho mỗi tiết tăng cường cũng chỉ đủ cho học sinh thực
hiện được 2 đến 3 bài tập. Vì vậy giáo viên lựa chọn những bài tập đi từ dễ đến
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong

17


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
khó, bao quát được kiến thức đã học đồng thời rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử
dụng từ để viết câu, viết đoạn văn. Ngoài ra giáo viên cũng giao thêm bài tập về
nhà để học sinh được luyện tập nhiều hơn.


- Học sinh lắng nghe

để xác định đúng từ ghép hay tổ hợp hai
từ đơn .
Bài 2: Xếp các từ sau thành hai loại :
18

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
Từ ghép và từ láy
tươi tốt, tươi tắn, cuống quýt, bình minh,
ồn ào, chợ búa, nhí nhảnh, cây cối, vắng
lặng.

- Học sinh đọc đề, thảo luận và làm bài

- Yêu cầu học sinh đọc đề, thảo luận
nhóm 4 và làm bài vào bảng phụ.

- Các 2,3 nhóm lên đính kết quả và trình

- Yêu cầu học sinh lên bảng đính kết quả bày, các nhóm khác bổ sung nhận xét.
và trình bày
- Nhận xét, sửa sai, phân tích và chốt kết
quả
Kết quả đúng là:
+ Từ ghép: tươi tốt, bình minh, chợ búa,


- Học sinh đọc và nêu

- Yêu cầu HS đọc đoạn văn của mình và
nói rõ những câu nào sử dụng từ ghép,
đó là những từ nào, nó là từ ghép gì ?
những câu nào sử dụng từ láy, đó là
những từ nào, nó thuộc kiểu láy nào ?
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Để thực hiện việc dạy học như trên giáo viên cần có sự chuẩn bị, đầu tư thật
chu đáo cho mỗi tiết dạy. Giáo viên cần nắm được những điểm mẫu chốt cần nhấn
mạnh đồng thời tham khảo kiến thức từ nhiều tài liệu, sách tham khảo để không chỉ
giúp học sinh nắm vững những kiến thức bài học mà còn giúp các em có kĩ năng
nhận diện, phân biệt và sử dụng từ hợp lí.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Mỗi biện pháp, giải pháp trên đều hướng tới mục đích giúp cho học sinh nắm
được các kiến thức về từ, có thể nhận diện, phân biệt, từ đó biết sử dụng từ khi giao
tiếp. Nếu việc hệ thống các kiến thức giúp cho bản thân giáo viên có nền móng kiến
thức để truyền đạt đến học sinh thì việc khắc sâu kiến thức, đặc biệt việc trang bị
cho các em một số mẹo phân biệt một số trường hợp khó phân biệt, dễ nhầm lẫn
không chỉ giúp học sinh nắm được kiến thức mà có thêm một số kĩ năng nhận diện
phân biệt từ. Còn việc luyện tập sẽ giúp các em trải nghiệm những kiến thức đã
học, rèn luyện kiến thức cũng như kĩ năng dùng từ của học sinh. Các biện pháp này
quan hệ móc xích với nhau. Chính vì thế để cho học sinh nắm được các kiến thức
về từ, có thể nhận diện, phân biệt, từ đó biết sử dụng từ khi giao tiếp đạt hiệu quả
thì cần phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa, linh hoạt các biện pháp trên.
3.5. Kết quả khảo nghiệm
20

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong


47,6%

21

100%

33,3%

15

71,4

phân biệt từ đơn, từ láy, từ
ghép
2. Số học sinh biết sử dụng 7
từ đơn, từ láy, từ ghép khi
viết câu, viết đoạn văn.
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của đề tài
Sau một năm học áp dụng tôi nhận thấy đa số học sinh của mình đã phân biệt
nhanh và chính xác từ ghép với từ láy, không còn trường hợp lẫn lộn giữa từ ghép
và tổ hợp hai từ đơn, xác định đúng từ ghép tổng hợp với từ ghép phân loại, biết
dùng từ để viết đoạn văn đạt chất lượng cao hơn. Kiến thức nhờ đó được củng cố
và mở rộng thêm.
Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng đạt được kết quả như trên do một số
em là học sinh dân tộc, việc tiếp thu Tiếng Việt của em còn hạn chế, để có được kết
quả cao hơn thì cần tăng cường thêm Tiếng Việt cho các em nhiều hơn.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Tiếng Việt của chúng ta rất giàu và đẹp, nó có thể diễn tả được mọi sắc thái

phải tổ chức cho học sinh ôn bài hợp lí. Luôn luôn tạo điều kiện cho học sinh luyện
viết đoạn văn bằng cách vận dụng vốn từ ngữ được học để nâng cao chất lượng viết
văn cho các em. Bên cạnh đó cũng cần thống nhất trong tổ chuyên môn, để cùng

22

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
đầu tư suy nghĩ và chọn lọc kiến thức quan trọng, cần thiết cũng như phương pháp
dạy học hợp lí nhất để cùng soạn và dạy các tiết học.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với giáo viên: Cần chuẩn bị kĩ càng chu đáo phương tiện dạy học,
nội dung giáo án trước khi đến lớp. Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc
trong tất cả các tiết học để các em có thể tiếp thu kiến thức Tiếng Việt. Tăng cường
sưu tầm các kiến về từ từ nguồn sách tài liệu, sách tham khảo để có thêm phương
pháp phù hợp .
2.2. Về phía nhà trường: Cần tăng cường thêm vào thư viện các tài liệu về Từ
đơn, từ ghép, từ láy, từ điển Tiếng Việt để GV tiện tham khảo, tìm thêm bài tập cho
học sinh.
Tổ chức các chuyên đề, các tiết hội giảng về Từ đơn, từ ghép, từ láy. Phổ biến
rộng rãi các kinh nghiệm dạy học của đội ngũ giáo viên giỏi để cùng rút kinh
nghiệm và có cơ hội học tập lẫn nhau.
Mặc dù kết quả vẫn còn khiêm tốn nhưng đã có nhiều khả quan hơn trong
việc “Giúp học sinh học lớp 4 học tốt từ ghép, từ láy” và chắc chắn vẫn còn nhiều
thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được sự góp ý bổ sung với tinh thần xây dựng
của các bạn đồng nghiệp để những nội dung trình bày trên có thể được áp dụng
rộng rãi và hiệu quả hơn trong các trường Tiểu học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.

Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1 – NXB Giáo dục
Sách giáo viên Tiếng Việt 4, Tập 1- NXB giáo dục
Bài tập nâng cao Luyện từ và câu - NXB giáo dục

Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status