Luận văn tác động của sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu lào cai đến đời sống kinh tế xã hội của tỉnh - Pdf 35

LUẬN VĂN:

Tác động của sự phát triển khu kinh
tế cửa khẩu Lào Cai đến đời sống kinh
tế - xã hội của tỉnh


mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trung Quốc là nước láng giềng "núi liền núi, sông liền sông" với Việt Nam, có
nền kinh tế quy mô, tăng trưởng mạnh, đang thực thi chiến lược nhất thể hóa kinh tế khu
vực mà Việt Nam được coi là "cầu nối" giữa các nước phương Nam với Trung Quốc, là
"cầu nối" Đông Nam á với Đông Bắc á. Do vậy, củng cố, phát triển quan hệ hợp tác toàn
diện với Trung Quốc, phát huy vai trò "cầu nối" trước hết trong khuôn khổ khu vực mậu
dịch tự do ASEAN- Trung Quốc, tích cực khai thác thị trường Trung Quốc, đặc biệt là thị
trường Tây Nam Trung Quốc, sẽ là hướng chiến lược kinh tế đối ngoại quan trọng, góp
phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nhanh, ổn định lâu dài của Việt Nam. Trong
đó đẩy mạnh quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Vân Nam cũng như với Quảng Tây
có vai trò then chốt.
Từ thời Hán Tần, miền Tây Nam Trung Quốc đã có con đường giao thông quốc tế
qua Côn Minh để đi đến các nước phía Nam được gọi là "Trục thân độc đạo"- con đường
tơ lụa ngày xưa. Còn ngày nay, khi hai nước Việt - Trung bước vào thế kỷ XXI cùng nỗ
lực cải cách mở cửa nền kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế toàn cầu thì cơ hội phát triển
quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Vân Nam Trung Quốc vô cùng rộng lớn nhờ
những nhân tố khách quan và chủ quan sau đây:
Bước vào thế kỷ XXI mặc dù vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó lường,
song hòa bình và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo trong sự phát triển thế giới và khu vực;
hơn nữa đây còn là thời kỳ mở đầu thời đại tri thức hóa kinh tế toàn cầu; toàn cầu hóa, khu
vực hóa kinh tế phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy. Đây là xu thế phát triển khách quan
đang cuốn hút mọi quốc gia vào quĩ đạo kinh tế toàn cầu, mở ra cơ hội lớn cùng những

thông

với

Côn

Minh

-

Trung

Quốc.

Lào Cai còn có ưu thề về tiềm năng khoáng sản (35 loại khoáng sản), 150 điểm mỏ và nổi
tiếng là nơi nhiều tiềm năng phát triển du lịch với những danh lam thắng cảnh như Sa Pa,
Bắc Hà. Tuy nhiên, Lào Cai vẫn là một tỉnh nghèo, cơ cấu kinh tế là nông, lâm - công
nghiệp, xây dựng - thương mại, du lịch. Đến nay sau gần 10 năm thực hiện Quyết định
100/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách
đối với khu kinh tế cửa khẩu (KTCK) đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ qua hệ kinh tế thương mại của Lào Cai với Vân Nam Trung Quốc, cơ sở hạ tầng của khu KTCK đã được
nâng cấp với nhiều dự án. Việc hình thành và phát triển khu KTCK Lào Cai đã đẩy mạnh


hơn nữa giao lưu kinh tế qua cửa khẩu giữa hai nước, qua đó đẩy mạnh phát triển kinh tế
hàng hóa trong nước. Chúng ta cần nhìn nhận những tác động này không chỉ trong thời
gian trước mắt mà về lâu dài, khu KTCK Lào Cai sẽ có mức phát triển nhanh hơn, trở
thành vùng động lực kinh tế để kéo các vùng nghèo hơn cùng đi lên, cùng phát triển.
Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của việc phát triển khu KTCK Lào
Cai trong công cuộc đổi mới, cần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc phát triển kinh tế
của cửa khẩu Lào Cai, qua đó chỉ rõ sự tác động của khu KTCK Lào Cai đối với đời sống

đổi kinh tế - thương mại giữa hai quốc gia thông qua cửa khẩu biên giới còn rất hạn chế.
Nước ta là một quốc gia có đường biên giới trên bộ tiếp giáp với ba nước: Trung
Quốc, Lào, Campuchia. Trong ba nước này thì Trung Quốc là đất nước rộng lớn, có nét
tương đồng với nước ta về quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Trung Quốc lại là một thị
trường với hơn 1,3 tỉ dân, tốc độ phát triển cao từ nhiều năm nay. Lào và Campuchia tuy là
các quốc gia nhỏ có nhiều khó khăn về kinh tế nhưng cũng có vị trí hết sức quan trọng,
nằm trong tiểu vùng Mê Kông (gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Thai Lan - cửa ngõ
thông ra các nước trong khối ASEAN). Hiện nay, giữa các quốc gia tiểu vùng sông Mê
Kông đang có nhiều dự án xây dựng cầu, đường thúc đẩy phát triển kinh tế theo tuyến
hành lang Đông - Tây trên cơ sở dòng chảy tự nhiên của sông Mê Kông. Tất cả các điều
kiện thuận lợi trên chỉ có thể phát huy tốt khi có mô hình kinh tế thích hợp, đặc biệt phải
kể đến khu KTCK.
Khái niệm khu KTCK được hình thành trên cơ sở hàng loạt các khái niệm có liên
quan. Trước hết là khái niệm: "Giao lưu kinh tế qua biên giới". Theo nghĩa hẹp, khái niệm


này bao gồm các hoạt động trao đổi thương mại, trao dổi hàng hóa giữa các cư dân, các
doanh nghiệp nhỏ đóng tại địa bàn biên giới xác định, thường là những nơi có các cửa
khẩu biên giới. Trên thực tế, những hình thức này có thể được thực hiện ở các dạng chợ
biên giới, thậm chí ở các đường mòn biên giới với một khối lượng hàng hóa và giá trị theo
quy định của Nhà nước hoặc chính quyền địa phương. Với nhiều mức độ khác nhau, giao
lưu kinh tế biên giới theo nghĩa hẹp là hình thức diễn ra phổ biến ở tất cả các quốc gia có
đường biên giới chung trong điều kiện hòa bình. Tuy nhiên, có một điều dễ thấy là quy mô,
mức độ hoạt động kinh tế - thương mại diễn ra khác nhau giữa các vùng, miền, khu vực
biên giới cả nước vì nó phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân khác nhau: trình độ phát triển
kinh tế; điều kiện tự nhiên; vị trí địa lý; chính sách biên mậu; các tiềm năng, thế mạnh tại
chỗ; sự ổn định về an ninh chính trị... Vì vậy, xuất hiện một nội dung rộng hơn, bao quát
hơn trước tức giao lưu kinh tế qua biên giới là tất cả các hoạt động kinh tế - thương mại,
đầu tư khoa học và công nghệ qua các cửa khẩu biên giới, giữa các quốc gia có đường biên
giới chung. Nội dung của giao lưu kinh tế qua biên giới theo nghĩa rộng không chỉ đơn

khác nhau của liên kết kinh tế, căn cứ theo đặc điểm của một loại hình KTCK cho phép áp
dụng những chính sách riêng trong một phạm vi không gian, thời gian xác định mà ở đó đã
có giao lưu kinh tế biên giới phát triển sẽ hình thành khu KTCK.
Qua những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu: Khu kinh tế cửa khẩu là một
không gian kinh tế xác định gắn với cửa khẩu, có dân cư hoặc không có dân cư sinh sống
và được thực hiện những cơ chế, chính sách phát triển riêng phù hợp với đặc điểm ở đó
nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập.
Khái niệm về khu KTCK cho thấy có những điểm giống và khác so với các mô
hình kinh tế: Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao... Để rõ hơn về khu
KTCK, chúng ta xem xét nó trong sự so sánh với các mô hình kinh tế khác:
- Khu công nghiệp, là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định,
không có dân cư sinh sống, được hưởng một số chế độ ưu tiên của Chính phủ hay địa
phương, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
- Khu chế xuất, là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu,
thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu với hoạt động xuất khẩu, có ranh giới


xác định, không có dân cư sinh sống, được hưởng một số chế độ ưu tiên đặc biệt của Chính
phủ, do Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
- Khu công nghệ cao, là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao
và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, gồm nghiên cứu, triển khai
khoa học - công nghệ, đào tạo các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác định, được
hưởng chế độ ưu tiên nhất định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành
lập.
Như vậy, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao là ba loại hình của
đặc khu kinh tế, chúng có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ mục đích, đối tượng
tham gia, mối liên kết của chúng đối với nền kinh tế. Khu công nghiệp thường được thành
lập ở những vùng đình trệ về kinh tế, nơi có nhiều người thất nghiệp, nhưng lại có sẵn ưu

hình và địa phương nơi chúng được thành lập. Một vấn đề cần lưu ý là do đặc điểm riêng
có, khu KTCK đặt lên hàng đầu là các hoạt động về thương mại, dịch vụ, gắn với cửa khẩu
chịu tác động mạnh mẽ của khu vực kinh tế, chính sách biên mậu của các nước láng giềng
có đường biên giới chung. Do vậy, nguồn hàng hóa tại chỗ và từ nơi khác (các vùng kinh
tế, khu công nghiệp, khu chế xuất) là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả hoạt động của nó.
Mặt khác, hoạt động của khu KTCK còn liên quan nhiều đến thông lệ quốc tế, vấn đề chủ
quyền, an ninh biên giới, các chính sách chung của hai nước thông qua cặp cửa khẩu và hệ
thống các đường giao thông. Từ đó, một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra những mô
hình cụ thể về khu KTCK, trên cơ sở đó tùy điều kiện từng vùng (địa phương) có thể áp
dụng cho phù hợp.
* Mô hình không gian: Là mô hình đòi hỏi được xây dựng trên cơ sở các nguyên
tắc cơ bản như tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, thềm lục địa, các hiệp
định và hiệp ước quốc tế; đảm bảo sự phối hợp tốt tất cả các yếu tố để các quốc gia có
đường biên giới chung đều có lợi, đảm bảo về môi trường, sự phối hợp các nguồn lực khi
triển khai; tìm kiếm các yếu tố tương đồng, các vị trí tạo ra khả năng phát triển đối xứng,
Mặt khác, có mối liên hệ tốt trong nội địa dể bù đắp sự thiếu hụt về nguồn lực và trao đổi
hàng hóa, cũng như tránh các vị trí bất lợi xảy ra tranh chấp, lấn chiếm, nơi chứa chấp các
hoạt động tội phạm. Trong mô hình không gian có một số loại hình cụ thể sau:


- Mô hình đường thẳng: Đây là mô hình có ưu điểm là một mặt giảm sự tập trung
cao về biên giới, một mặt có thể sử dụng kênh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở
đường giao thông. Vì thế nó phải có các tuyến đường sắt, đường bộ hoặc đường sông, kèm
theo đó là các khu công nghiệp, đô thị, cảng biển ở mỗi bên với một cự ly hợp lý. Thông
thường, mô hình này được lựa chọn ở những nơi có lối mòn dân cư hai bên qua lại, do nhu
cầu trao đổi tăng, giao thông phát triển trở thành cửa khẩu. Đây là mô hình cơ sở cho các
mô hình khác (hình 1.1.a).
- Mô hình có quạt giao nhau ở cán: Là mô hình dựa trên cơ sở hai bên đã có hàng
loạt các đô thị, khu công nghiệp, các vùng sản xuất nông nghiệp có khoảng cách thích hợp
với đường biên giới, khoảng cách này được hình thành tự nhiên hoặc do quy ước giữa hai


Hình 1.1: Một số mô hình khu kinh tế cửa khẩu
* Mô hình một khu kinh tế cửa khẩu: Mô hình này phải đảm bảo một số nguyên
tắc cơ bản như thuận lợi cho việc kiểm soát các phương tiện, người, hàng hóa qua lại, được
thiết kế chi tiết cho hai khu đô thị giáp nhau, đồng thời được phối hợp, hỗ trợ các công
trình công cộng gồm điện, nước, chiếu sáng, cây xanh, môi trường đảm bảo dịch vụ tốt cho
người lưu trú, hàng hóa, phương tiện quá cảnh. Có hai mô hình cụ thể:
- Mô hình đối xứng, được xây dựng trên sự thỏa thuận của địa phương hai nước có
đường biên giới chung và cặp cửa khẩu đối diện nhau. Mỗi bên xây dựng khu KTCK độc
lập, cạnh tranh cùng phát triển. Do đó chúng có những điểm bố trí tương đồng nhau về kết


cấu, bao gồm: Khu dân cư; khu thương mại và dịch vụ; khu vui chơi giải trí; khu sản xuất
và khu hành chính.

Khu sản xuất

Các cửa kiểm soát

Khu hành chính

Các cửa kiểm soát

Khu hành chính

Khu thương mại
và dịch vụ

Dải phân cách


(công ty liên
doanh đầu tư
phát triển và kinh
doanh hạ tầng

Các cửa kiểm
soát

Khu hành chính

Khu thương mại
và dịch vụ


thuê đất)
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ khu KTCK đặc biệt
* Mô hình thể chế: Đây là phương thức để Nhà nước soạn thảo chính sách phù hợp
với thực tế hoạt động của khu KTCK ở các quốc gia có đường biên giới chung. Việc xây
dựng thể chế, chính sách phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, các hiệp định, thỏa
thuận song phương hoặc đa phương, truyền thống và tập quán, bản sắc văn hóa của mỗi
quốc gia. Đảm bảo giữ gìn hòa bình, cùng có lợi, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Chủ động cùng trao đổi với nhau những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc, tạo điều kiện tốt
nhất cho các doanh nghiệp, cư dân mỗi nước tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh.
Những thông tin về tình hình xây dựng cơ chế, chính sách phát triển khu KTCK mỗi nước
cần được trao đổi thường xuyên, cùng phối hợp điều chỉnh, thực hiện cho phù hợp. Các
nhóm thông tin cần thường xuyên trao đổi bao gồm:
- Khảo sát thực tế nguồn lực trong khu vực hai bên cùng quy ước: Điều kiện tự
nhiên; kinh tế, xã hội, văn hóa; dân tộc, tập quán, các thế mạnh và những hạn chế được bổ
sung.
- Những vấn đề về cơ chế, chính sách chung như đường lối, chủ trương, chính sách

biên giới chung.
4 - Thể chế kinh tế cửa

Sơ đồ 1.3: Mô hình thể chế
1.1.2. Vai trò của khu kinh tế cửa khẩu đến sự phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Cơ sở lý luận về sự tác động của khu KTCK đến sự phát triển kinh tế xã hội
Xét về mặt lý thuyết, các khu KTCK được hình thành nhằm mục đích phát huy lợi
thế về quan hệ kinh tế - thương mại cửa khẩu biên giới, thu hút các kênh hàng hóa, đầu tư,
dịch vụ và du lịch từ các nơi trong cả nước, từ nước ngoài vào nội địa thông qua các cơ
chế, chính sách ưu đãi tại khu KTCK. Chính sự thu hút này đã làm cho các ngành, các địa
phương trong cả nước, tùy theo quy mô, sự hấp dẫn của cơ chế, chính sách ưu đãi mà thực
hiện sự chuyển dịch sản xuất, lưu thông hàng hóa cho phù hợp. Trong điều kiện của Việt Nam,
nông nghiệp hàng hóa đang cần mở rộng thị trường đầu ra, cần sự đầu tư và trình độ khoa
học - công nghệ tiên tiến. Những nhu cầu này sẽ được đáp ứng tốt nếu chúng ta biết sử
dụng, khai thác có hiệu quả mô hình KTCK. Đối với các ngành thuộc lĩnh vực công


nghiệp, dịch vụ và du lịch cũng có yêu cầu như vậy, thậm chí còn cao hơn, vì thế phải mở
rộng quan hệ hợp tác quốc tế để nhanh chóng hội nhập với các nước trong khu vực, trên
thế giới. Điều này càng có ý nghĩa đối với nền kinh tế hàng hóa chậm phát triển, thị trường
nhỏ hẹp, sức mua thấp, khả năng cạnh tranh còn yếu như nước ta.
Khu KTCK là nơi tiếp giáp, cửa ngõ của mỗi quốc gia với bên ngoài. Trong điều
kiện hòa bình, hữu nghị đây thường là nơi qua lại thăm thân nhân và diễn ra trao đổi, buôn
bán giữa dân cư biên giới hai nước, bên cạnh đó khi môi trường kinh tế phát triển thuận lợi,
khu KTCK cũng là nơi thể hiện sự giao thoa về các chính sách kinh tế đối ngoại của các
quốc gia có đường biên giới chung. Cho nên, những nhu cầu về kinh tế cả cho sản xuất,
tiêu dùng ở phạm vi hẹp, trực tiếp phục vụ cho nhu cầu tại chỗ của địa phương, vùng lân
cận. ở phạm vi rộng, nó sẽ trực tiếp đáp ứng nhu cầu của địa phương các vùng trong cả
nước thông qua sự luân chuyển các kênh hàng hóa từ khu KTCK đến các nơi và ngược lại
theo sự vận động của quan hệ cung cầu, sự mách bảo của giá cả trên thị trường đối với các

thúc đẩy nhau cùng phát triển nếu trong quá trình thực hiện biết xác định đúng mục tiêu,
khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế và đảm bảo sự hỗ trợ kịp thời về mặt pháp lý của Nhà
nước các cấp từ Trung ương đến địa phương
1.1.2.2. Vai trò của sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu
* Thúc đẩy mở rộng thị trường và lưu thông hàng hóa
Khu KTCK phát triển tạo điều kiện để tỉnh Lào Cai và các địa phương khác trong
nước mở rộng thị trường XNK, giảm chi phí trung gian do đó nâng cao sức cạnh tranh
của hàng hóa, dịch vụ trao đổi. Khu KTCK Lào Cai thúc đẩy quá trình chuyển dịch nền
kinh tế tự cung tự cấp sang nền sản xuất hàng hóa, tạo ra sự phát triển ở các vùng để hình
thành nên một khu vực thị trường rộng lớn có khả năng thu hút và thâm nhập với các khu
vực thị trường khác. Sự phát triển của thị trường do khu KTCK tạo ra còn có tác động
thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội, tạo thêm những ngành nghề mới,
góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn người lao động không chỉ ở khu vực cửa khẩu
mà ở nhiều vùng lân cận. Trao đổi thương mại thông qua khu KTCK đã góp phần tạo ra
sự biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế của khu, vùng và cả nước, đặc biệt là các tỉnh
thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng từ tình trạng sản xuất
tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa.


* Thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội vùng cửa khẩu
- Thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn: Khu KTCK nói chung, Lào Cai
nói riêng góp phần hiện đại hóa nông thôn và thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Thông qua
hoạt động của khu KTCK, các sản phẩm nông nghiệp có được thị trường tiêu thụ, hạ giá
thành, nâng cao chất lượng. Mặt khác, chúng ta sẽ có điều kiện nhập từ nước khác nhiều
thiết bị, vật tư, giống cây trồng, vật nuôi cần thiết, học hỏi được nhiều kinh nghiệm của họ
để phát triển nông nghiệp. Sự phát triển khu KTCK nói chung, Lào Cai nói riêng còn tạo
điều kiện thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn, tạo thêm nhiều ngành công nghiệp,
dịch vụ thu hút lao động nông nghiệp, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn của tỉnh, của vùng và cả nước.
- Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp: Khu KTCK sẽ tạo môi trường thuận

cấu hạ tầng của tỉnh. Hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông, thông tin liên lạc... sẽ
từng bước được hiện đại hóa. Điều kiện kết cấu hạ tầng được cải thiện sẽ góp phần làm
cho thương mại phát triển, tăng sức đầu tư, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân.
- Mở rộng hoạt động du lịch: Phát triển khu KTCK sẽ tạo điều kiện để khai thác
tốt hơn tiềm năng du lịch. Khách du lịch nước ngoài sẽ có điều kiện tiếp cận với các trung
tâm du lịch của nhau, thông qua đó đến các khu du lịch khác trong tỉnh và cả nước.
- Góp phần tăng trưởng kinh tế: Trao đổi kinh tế thương mại ở khu KTCK góp
phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, vùng theo hướng phát triển
công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, khơi dậy tiềm năng thế mạnh của tỉnh,
vùng, từ đó giảm bớt những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, giúp địa phương và vùng
phụ cận cải thiện cơ bản tình hình kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự ra đời trong tương lai một
số trung tâm thương mại quan trọng. Hoạt động của khu KTCK còn tạo điều kiện để địa


phương thu hút đầu tư phát triển các ngành kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa,
phát triển các ngành dịch vụ. Kết quả những thay đổi nói trên bắt nguồn từ việc khai thác
có hiệu quả khu KTCK.
- Góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống vật chất, tinh thần, tạo thêm
công ăn, việc làm cho nhân dân địa phương.
Việc hình thành và phát triển khu KTCK thúc đẩy trao đổi thương mại, phát triển
ngành nghề sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế do đó kích thích tăng trưởng kinh tế và
thu nhập dân cư. Buôn bán tại khu KTCK cũng làm giảm bớt tỉ lệ đói nghèo, đời sống
nhân dân được nâng cao từng bước. Sự phát triển khu KTCK còn tạo điều kiện hình thành
các khu dân cư tập trung dọc biên giới, phát triển kết cấu hạ tầng, các tuyến đường giao
thông, hệ thống bưu chính viễn thông, hệ thống chợ, mạng lưới cung cấp điện... góp phần
cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của dân cư, đẩy mạnh giao lưu kinh tế văn hóa, đẩy lùi
các tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng khu vực biên giới, thắt chặt tình hữu nghị
giữa hai nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
- Thúc đẩy quan hệ hợp tác về khoa học, đào tạo và các lĩnh vực khác: Phát triển


hạ tầng du lịch như đường sá, khách sạn, dịch vụ y tế, khu vui chơi giải trí. Ngoài ra, hai
nước còn hợp tác trong việc bảo vệ môi trường, xã hội: sử dụng có hiệu quả tài nguyên
rừng, nước; ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường qua biên giới; hợp tác chống ma túy,
buôn lậu, gian lận thương mại; bảo vệ sức khỏe cộng đồng, ngăn ngừa các dịch bệnh lây
lan qua biên giới. Tuy nhiên, đi kèm với những vai trò tích cực do khu KTCK đem lại là
nhiều vấn đề xã hội nhức nhối như buôn lậu, ma túy, mại dâm, khoảng cách giàu nghèo...
ngày càng gia tăng


1.2. Sự cần thiết và những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển
khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai
1.2.1. Sự cần thiết hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai
Trong vài thập niên đây gần qua, khu vực Châu á - Thái Bình Dương được đánh
giá là khu vực phát triển kinh tế thương mại năng động nhất với sự cất cánh kinh tế của
nhiều quốc gia. Khu vực này tập hợp nhiều cường quốc kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản,
Trung Quốc, Liên bang Nga và nhiều nước khác đang trong thời kỳ phát triển nhanh như
Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Newzeland...Tại đây đã hình thành nhiều tổ chức liên kết
kinh tế khu vực: Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC); Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam á (ASEAN); Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA); Khu vực
Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc. Những hình thức liên kết nói trên sẽ tạo thêm
điều kiện để các quốc gia trong khu vực tận dụng những cơ hội toàn cầu hóa đẩy mạnh
kinh tế - xã hội phát triển. Đồng thời tạo ra sức mạnh của khu vực trong việc cạnh tranh
với các khu vực khác. Nhiều dự báo cho rằng, thế kỷ 21, trung tâm kinh tế - thương mại của
thế giới sẽ chuyển sang châu á- Thái Bình Dương. ở khu vực Đông Nam á, quá trình hợp
tác kinh tế cũng diễn ra hết sức mạnh mẽ với việc thành lập khu vực Mậu dịch tự do các
nước ASEAN (AFTA), Hợp tác các nước tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS)...
Bối cảnh quốc tế thuận lợi nói trên là một trong những điều kiện để Việt Nam và
Trung Quốc tăng cường mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại. Vì vậy, việc xây dựng
khu KTCK Lào Cai sẽ tạo điều kiện để hai nước mở rộng quan hệ hợp tác với các nước

quan trọng của cửa khẩu Lào Cai.
Song song với những thuận lợi trên, đối diện với cửa khẩu Lào Cai là cửa khẩu Hà
Khẩu của cả vùng Tây Nam Trung Quốc rộng lớn, bao gồm 12 tỉnh, thành phố với diện tích
hơn 5 triệu km2, chiếm 60 % diện tích toàn Trung Quốc, dân số hơn 300 triệu người. Đây
là vùng miền núi, nhiều dân tộc, trình độ sản xuất và mức sống của nhân dân chưa phát
triển bằng vùng duyên hải Trung Quốc như: Quảng Đông, Phúc Kiến, Thượng Hải. Nhằm
cải thiện đời sống nhân dân, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa miền Đông
và miền Tây, những năm gần đây, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành triển khai
chính sách "Đại khai phá miền Tây", với nhiều chủ trương, chính sách ưu đãi, tập trung
nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế thương mại cho vùng này.


Nhu cầu về hàng hóa ở đây rất đa dạng, yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa không
cao lắm, phù hợp với trình độ sản xuất hàng hóa hiện có của Việt Nam. Như vậy, Tây Nam
là một trong những thị trường giàu tiềm năng đối với các doanh nghiệp Việt Nam và việc
phát triển khu KTCK Lào Cai là tất yếu khách quan.
Thứ hai, xây dựng Khu KTCK Lào Cai là đòi hỏi của sự phát triển sâu rộng hợp
tác toàn diện kinh tế, thương mại Việt Nam - Trung Quốc.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng đang xây dựng, phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN, có mối quan hệ kinh tế, văn hóa từ lâu đời. Những
năm gần đây, quan hệ giữa hai nước đã bước vào giai đoạn phát triển mới với phương
châm đẩy mạnh hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó hoạt động
mậu dịch được tăng cường đáng kể, nhất là sau khi Hiệp định Thương mại Việt - Trung
được ký kết (1996).
Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa hai nước đã có bề dày truyền thống lịch sử lâu đời
mà chủ yếu xuất phát từ con đường biên mậu thông qua các cửa khẩu trên cơ sở lợi thế của
từng khu vực. Từ chỗ trao đổi tự nhiên các sản vật sẵn có, buôn bán biên giới Việt - Trung
qua các thời kỳ đã trở thành hoạt động thương mại ở nhiều quy mô. Sự hợp tác biên mậu
đã đạt được nhiều kết quả khả quan, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai phía. Tuy nhiên,
với điều kiện hiện nay, quan hệ kinh tế thương mại Việt - Trung cần được nâng lên ở trình

láng giềng. Cũng vào năm 1992, tại Hội nghị hiệp thương kinh tế của vùng Tây Nam, Thủ
tướng Quốc vụ viện Lý Bằng đã khuyến khích "các tỉnh, khu tự trị vùng Tây Nam liên hợp
lại, tăng nhanh nhịp độ cải cách, mở rộng cửa ngõ để bước vào Đông Nam á" [32, tr 36].
Về cơ bản, chiến lược mở cửa của Trung Quốc được thực hiện với phương châm phát triển:
"Mở cửa liên kết với bên ngoài, có chính sách ưu đãi, trao quyền tự chủ cho các địa
phương ven biên giới, lấy mở cửa hướng về Đông Nam á làm trọng điểm nhằm mở rộng
thị trường sang các nước láng giềng, trước hết là các nước Đông Dương, Mianma" [32, tr.
36]. Một điểm cần được nhấn mạnh trong chiến lược khai phá miền Tây Nam, Trung Quốc
hết sức coi trọng tuyến huyết mạch của vùng này qua cửa khẩu Lào Cai và cảng Hải Phòng.
Đây là cửa ngõ gần nhất để miền Tây Trung Quốc mở rộng trao đổi thương mại với khu
vực và các nước khác.


Chính sách phát triển các vùng núi phía Bắc cũng là một trong những chủ trương
lớn của Chính phủ Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010. Nhà nước ta xác định, vùng núi phía
Bắc có vai trò quan trọng trong quan hệ thương mại với Trung Quốc - một thị trường rộng
lớn đầy tiềm năng và có kim ngạch trao đổi thương mại ngày càng tăng với Việt Nam. Đây
cũng chính là cửa ngõ trên bộ thông thương với Trung Quốc. Hợp tác kinh tế giữa vùng
núi phía Bắc Việt Nam và Trung Quốc đã có lịch sử từ lâu đời và ngày nay được Chính
phủ Việt Nam xác định là hướng chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực này, tạo điều
kiện để thâm nhập sâu hơn vào thị trường Trung Quốc. Với chủ trương thúc đẩy hoạt động
biên mậu phát triển, tăng cường giao lưu kinh tế thương mại qua các cửa khẩu trên đất liền,
nâng cao đời sống của các dân tộc vùng núi phía Bắc, Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận
thức được tầm quan trọng của chính sách mở cửa, dành ưu tiên đặc biệt cho vùng núi phía
Bắc. Một mặt nhằm rút ngắn sự chênh lệch về mức sống giữa các vùng núi phía Bắc với
các vùng khác trên cả nước. Mặt khác, tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên, vị thế địa lý
mà Tây Nam Trung Quốc không có nhằm khai thác các nguồn lợi, đóng góp vào sự nghiệp
phát triển chung của đất nước.
Như vậy, với định hướng chiến lược hai nước đã đưa ra thì việc hình thành và phát
triển khu KTCK Lào Cai sẽ thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại của hai nước, đồng thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status