ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Cộng hòa XHCN Việt Nam
ĐẠI HỌC BANG SOUTHERN LUZON
Cộng hòa Philippines
MỨC ĐỘ TỰ CHỦ TRONG QUẢN LÝ Ở CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI, VIỆT NAM
NGHIÊN CỨU ĐƯỢC TRÌNH LÊN KHOA SAU ĐẠI HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
BANG SOUTHERN LUZON - PHILIPPINES
VÀ ĐAI HỌC THÁI NGUYÊN - VIỆT NAM
ĐƯỢC THỰC HIỆN THEO YÊU CẦU CỦA BẬC HỌC TIẾN SĨ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Phạm Quang Vinh (Stone)
Thái Nguyên, 2013
CHƯƠNG I
THIẾT LẬP VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Giới thiệu
Quyền tự chủ của các tổ chức trong lĩnh vực giáo dục được hiểu là quyền tự quyết
định, tự chịu trách nhiệm theo pháp luật và các yêu cầu của xã hội cho tất cả các hoạt động
của tổ chức đó như tài chính, nhân sự và cơ cấu tổ chức, chương trình đào tạo, kế hoạch
chiến lược, vv.
Nâng cao quyền tự chủ không có nghĩa là buông lỏng quản lý của nhà nước. Ngược
lại, tăng cường tự chủ cho các trường học được coi là một trong những giải pháp quan
trọng nhất để mang lại động lực, sức sống mới cho các cơ sở đào tạo trên cơ sở nâng cao
hiệu quả, chất lượng giáo dục và trách nhiệm xã hội của nhà trường.
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa - quan liêu - bao
sách giáo dục nghề nghiệp ở một số nước tiên tiến. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ chỉ ra
những bài học hữu ích để xây dựng khung chính sách của ngành giáo dục nghề nghiệp tại
Việt Nam.
Phát biểu vấn đề nghiên cứu
•
Các thông tin cơ bản của người được phỏng vấn:
− Tuổi
− Trình độ giáo dục
− Vị trí trong công việc
− Giới tính
− Kinh nghiêm làm việc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
•
Hiện trạng về mức độ tự chủ trong quản lý ở các trường dạy nghề của thành
phố Hà Nội, Việt Nam trong các yếu tố sau:
− Tự chủ về tổ chức
− Tự chủ tài chính
− Tự chủ đối với nhân viên
− Tự chủ về học thuật
•
Những yếu tố nào có ảnh hưởng nhiều nhất hoặc ít nhất đến quyền tự chủ
trong các trường dạy nghề theo cảm nhận của người trả lời?
•
Những nội dung nào cần được xem xét mở rộng để tăng cường mức độ tự
nghề, cao đẳng nghề.
•
Trường dạy nghề: là trường học trong đó người học được dạy các kỹ năng cần thiết
để thực hiện một công việc cụ thể. Theo truyền thống, các trường dạy nghề đã
không tồn tại trong lĩnh vực khoa học xã hội, mà là để chỉ dạy các kỹ năng nghề cụ
thể. Như vậy, trường dạy nghề là mô hình tốt cho đào tạo nghề liên quan đến các
lĩnh vực thương mại, kỹ thuật, y tế, nghệ thuật…
Trong phạm vi luận án này,
khái niệm trường dạy nghề ở Việt Nam được hiểu là một cơ sở đào tạo thuộc hệ
thống Giáo dục nghề nghiệp.
Những vấn đề về tự chủ và tự chủ trường học
•
Tự chủ: Tự chủ là một nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực quản trị tổ chức (de
Boer, 2010; Jongbloed, 2010). Nó được hiểu là quyền tự đưa ra và thực hiện các
quyết định của một tổ chức. Tất nhiên quyền tự chủ phải gắn liền với trách nhiệm
giải trình của họ về hậu quả của các quyết định này với cơ quan chủ quản, với các
bên liên quan và với cộng đồng.
•
Hiệu quả của tự chủ: Tự chủ tạo ra môi trường cần thiết để vận hành đúng đắn mối
quan hệ tương tác giữa ba yếu tố Tự chủ - Đánh giá - Trách nhiệm giải trình trong
một tổ chức. Với một trường dạy nghề, nếu quyền tự chủ thực sự được đảm bảo, nó
sẽ trở thành động lực khai thác mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài tổ chức nhằm
nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo của trường đó. Quyền tự chủ nhà trường
3. Nhiệm kỳ của
lãnh đạo;
4. Lựa chọn và kết
nạp các thành viên
bên ngoài vào ban
lãnh đạo;
5. Khả năng quyết
định cấu trúc học
thuật;
6. Khả năng thành
lập các pháp nhân
của trường;
Tự chủ về tài chính
1. Thời hạn và loại
kinh phí công;
2. Khả năng được
giữ lại phần thặng
dư;
3. Khả năng vay
tiền;
4. Khả năng sở hữu
nhà và đất;
5. Khả năng quyết
định mức thu học
phí;
Tự chủ về nhân sự
1. Khả năng quyết
định trong quá trình
Các nghiên cứu khác của Estermann & Nokkala (2009), Thomas Estermann
(2011), Hsu Yu-Ling Flora (2012) và nguồn tư liệu từ Eurydice (2007) đã chỉ rõ các
mô tả cụ thể cho từng tiêu chí được mô tả trong bảng 2.2. Nội dung cụ thể của các
mô tả này được trình bày chi tiết trong các bảng hỏi của phiếu điều tra ở phần phụ
lục A của luận án.
Tổng quan về hệ thống giáo dục quốc dân và tự chủ trường học ở Việt Nam
•
Cấu trúc của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam: Được trình bày trong luận án
(trang 34-37).
•
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Trình bày lịch sử hình thành và phát triển của các các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp (các trường dạy nghề) từ thời Pháp thuộc cho đến nay.
•
Tự chủ trường học ở Việt Nam: Trình bày nội dung cơ bản của Nghị định số
43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4/ 2006 của Chính phủ xác định quyền tự chủ, tự trách
nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức, biên chế và tài chính của các trường
công lập ở ba cấp độ: (i) Tự đảm bảo chi phí hoạt động: Nhà trường có doanh thu
lớn hơn hoặc bằng với chi phí hoạt động thường xuyên; tự đảm bảo tất cả các chi
phí cho hoạt động thường xuyên; (ii) Tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động:
Trường học có thu nhập tự đảm bảo từ 10% đến dưới 100% chi phí hoạt động
thường xuyên, phần còn lại được phân bổ của nhà nước ngân sách; (iii) Phụ thuộc
hoàn toàn vào ngân sách nhà nước: các trường có nguồn thu dưới 10% chi phí hoạt
động thường xuyên, hoặc không có thu nhập; kinh phí hoạt động thường xuyên sẽ
ĐỘNG CỦA
TRƯỜNG
Nhân sự
Tự chủ về
Học thuật
QUYỀN TỰ
CHỦ
ĐỘNG LỰC
CÁC HOẠT
ĐỘNG
9
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng các công cụ và phương pháp phân tích định lượng
để đánh giá thực trạng áp dụng quyền tự chủ trong các trường dạy nghề tại thành phố Hà
Nội và đề xuất các giải pháp đổi mới nhằm nâng cao quyền tự chủ quản lý trong các trường
dạy nghề này.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các trường dạy nghề công lập và tư thục ở thành
phố Hà Nội, Việt Nam. Trong đó có 184 nhà quản lý, họ là các thành viên ban lãnh đạo
trường, 355 người trả lời là giáo viên hoặc giảng viên giảng dạy tại các trường nghề đó.
Dữ liệu yêu cầu
Điều tra
Điều tra
Điều tra
Điều tra
10
CHƯƠNG 4
TRÌNH BÀY CÁC PHÂN TÍCH VÀ MÔ TẢ SỐ LIỆU
Trong chương này, dữ liệu thu thập đã được trình bày, phân tích và giải thích để trả
lời các vấn đề được nêu ra trong nghiên cứu này.
Đánh giá của các nhà quản lý và các giảng viên về thực trạng mức độ tự chủ trong
quản lý ở các trường dạy nghề tại Hà Nội
Bảng 4.2.3. Thực trạng mức độ tự chủ về quản lý ở các trường dạy nghề tại Hà Nội
trong các nội dung của Tự chủ về tổ chức bộ máy
Các chỉ số
Các trường
công lập
Các trường
tư thục
Đánh giá
2.89
AV
2.Tiêu chuẩn lựa chọn người đứng đầu
điều hành
3.12
AV
3.05
AV
3.09
AV
3. Thực hiện việc bãi miễn người đứng
đầu điều hành
2.86
AV
2.62
AV
3.09
AV
6. Khả năng quyết định cấu trúc học thuật
3.25
AV
3.15
AV
3.2
AV
7. Năng lực để tạo ra tư cách pháp nhân –
đưa ra quyết định đúng theo luật định
3.4
HI
3.3
AV
3.35
thống quy định cho phép các trường dạy nghề thành lập các pháp nhân trong trường.
Bảng 4.2.6. Những tồn tại của mức độ tự chủ trong quản lý ở các trường dạy nghề tại Hà
Nội như trong các nội dung của tự chủ tài chính
Các chỉ số
1.Thời hạn và các loại công quỹ
2.Khả năng lưu giữ các khoản dư tài
chính
3.Khả năng vay mượn tài chính
4.Khả năng sử dụng nguồn tài chính để
xây dựng các công trình của trường
5.Khả năng tính toán để quyết định mức
học phí
Trung bình
Các trường
công lập
Các trường
tư thục
Đánh giá
chung
Trung
bình
Mô
tả
Trung
2.94
AV
3.09
AV
3.07
AV
3.08
AV
2.91
AV
2.75
AV
2.84
AV
3.01
công.
Bảng 4.2.9. Những tồn tại của mức độ tự chủ trong quản lý ở các trường dạy nghề tại Hà
Nội như trong các nội dung của tự chủ nhân sự
Các chỉ số
1.Khả năng quyết định về thủ tục tuyển
dụng (người có học vấn cao hoặc vị trí
quản lý cấp cao)
2. Khả năng quyết định về tiền lương
(cho người có học vấn cao hoặc quản lý
cấp cao)
3. Khả năng quyết định bãi miễn đối với
nhân sự (với người có học vấn cao hoặc
Các trường
công lập
Trung Mô
bình
tả
Các trường
tư thục
Trung Mô
bình
tả
Đánh giá
chung
Trung Mô
bình
tả
AV
3.12
AV
12
quản lý cấp cao)
4.Năng lực quyết định chính sách
khuyến khích tạo động lực (cho người có
trình độ học vấn và quản lý cấp cao)
Trung bình
2.67
AV
2.76
AV
2.72
AV
3.07
tả
Trung
bình
Mô
tả
Trung
bình
Mô
tả
1.Có khả quyết định tổng số lượng sinh
viên các hệ đào tạo
3.03
AV
2.95
AV
3
AV
2.Có quyền quyết định lựa chọn sinh viên
vụ
2.76
AV
2.62
AV
2.69
AV
5. Có quyền thiết kế các nội dung của
chương trình đào tạo trong nhà trường
2.54
LO
2.41
LO
2.48
LO
Average
hết các trường dạy nghề ở Hà Nội chưa xây dựng thành công cơ chế đảm bảo chất lượng
đào tạo hiệu quả; Các quy định về xây dựng chương trình đào tạo còn cứng nhắc và các
trường thiếu chuyên gia và các nguồn lực để xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng nhu
cầu thị trường lao động.
Đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố tự chủ trong các trường dạy nghề
Đánh giá chung về tầm quan trọng của các nội dung hoạt động tự chủ tại các trường
dạy nghề tại Hà Nội, kết quả đã được trình bày trong bảng 4.3.5
Bảng 4.3.5. Tổng hợp sự đánh giá về vai trò của các nội dung tự chủ
trong quản lý trường dạy nghề ở Hà Nội
Các chỉ tiêu
Đánh giá chung
Số bình quân
Mô tả
Xếp hạng
•
Tự chủ trong tổ chức
3.21
AV
2
•
AV
Đánh giá chung
Những yếu tố cần thiết cần được xem xét mở rộng để tăng cường mức độ tự chủ dựa
trên các chỉ số đã được nêu ra bởi các trường dạy nghề được khảo sát
Các trường dạy nghề ở Hà Nội nên quan tâm thêm các nội dung sau đây để phát
huy quyền tự chủ trong các hoạt động quản lý của nhà trường (xếp theo mức độ ưu tiên):
1) Hợp tác với các trường học, các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức phi chính
thức khác;
2) Chính quyền địa phương kiểm soát việc mở các trường mới hoặc hợp nhất các
trường;
3) Quyền lực của các cơ quan quản lý nhà nước bằng luật pháp đối với các trường
học.
Sự khác biệt đáng kể giữa thông tin nhân khẩu học của các nhà quản lý và giáo viên
trong các trường dạy nghề và nhận thức của họ về mức độ tự chủ trong quản lý ở các
trường dạy nghề đó ở Hà Nội
14
Có ý sự khác biệt quan trọng trong mối quan hệ giữa vị trí làm việc của người trả lời và
nhận thức của họ về tự chủ quản lý trong các trường dạy nghề được thể hiện ở nội dung “Tự chủ
tổ chức bộ máy” (đối với cả trường công lập và tư thục).
Ở các trường công lập, có sự khác biệt đáng kể trong mối quan hệ giữa công việc được
phân công của người trả lời phỏng vấn và nhận thức của họ đối về tự chủ trường học trong nội
dung “Tự chủ nhân sự”. Còn ở các trường tư thục lại có sự khác biệt đáng kể trong mối quan
hệ giữa vị trí làm việc của người trả lời phỏng vấn với nhận thức của họ về nội dung “Tự
thúc đẩy mối quan hệ giữa nhà trường với các doanh nghiệp và cộng đồng. 3) Các tổ chức
pháp nhân do các trường dạy nghề tạo ra còn bị hạn chế quyền tự chủ rất nhiều 4) Các
trường dạy nghề đã được trao quyền tự chủ nhiều hơn trong việc quyết định cấu trúc học
thuật, nhưng họ chưa sử dụng nó một cách hiệu quả. 5) Hệ thống quản lý nhà nước về giáo
dục nghề nghiệp ở Việt Nam bị phân chia không hợp lý (thuộc quyền quản lý của hai bộ
MOET và MOLISA) gây chồng chéo, xung đột, lãng phí và hiệu quả thấp.
Tự chủ về tài chính: 6) Các trường dạy nghề ở Hà Nội đều quan tâm đến các khoản
vay và đầu tư dài hạn để tăng cường chất lượng và quy mô đào tạo. Tuy nhiên, họ đã gặp
rất nhiều khó khăn và rào cản khi muốn vay tiền từ các tổ chức tín dụng hoặc ngân sách
nhà nước. 7) Các quy định pháp lý hiện hành đã không khuyến khích các trường dạy nghề
tích lũy và sử dụng phần giá trị thặng dư để tái đầu tư cho mục đích phát triển nhà trường.
8) Các trường nghề công lập không phải là người sở hữu đầy đủ các bất động sản (đất và
nhà xưởng) của họ, còn hầu hết các trường tư thục chỉ là người đi thuê. Vì vậy, nhìn chung
các trường đều thiếu quyền tự chủ với bất động sản họ đang được sử dụng, dẫn đến thiếu
động lực để đầu tư và sử dụng hiệu quả các bất động sản này. 9) Chính phủ chưa có những
chính sách hữu hiệu để khuyến khích phát triển các trường dạy nghề tư thục (đất đai, hỗ trợ
tài chính…). Có sự chênh lệch trong đầu tư của nhà nước giữa các trường nghề công lập và
các trường dạy nghề tư nhân. Với mức tiền lương thấp sau tốt nghiệp của sinh viên các
trường dạy nghề như hiện nay, các trường dạy nghề tư thục không thể thu được mức phí
cao để đảm bảo chất lượng đào tạo và cạnh tranh với các trường công lập.
Tự chủ về nhân sự: 10) Quyền tự chủ về nhân sự trong các trường dạy nghề tại Hà
Nội được đánh giá ở mức trung bình. Việc áp dụng các thành tựu trong quản lý nguồn nhân
lực (HRM) ở các trường mới chỉ bắt đầu. Chính sách của họ về tuyển dụng, tiền lương,
miễn nhiệm, đánh giá, khen thưởng phụ thuộc rất nhiều vào các quy định mang tính cứng
nhắc và lỗi thời. Vì vậy, rất khó để có thể lựa chọn nhân viên thích hợp và cũng rất khó để
sa thải nhân viên, không tạo ra động lực tích cực cho người lao động
Tự chủ về học thuật: 11) Các trường dạy nghề ở Hà Nội đang phải đối mặt với khó
khăn về tuyển sinh. Họ không có nhiều cơ hội để lựa chọn sinh viên. 12) Hệ thống quản lý
chất lượng đào tạo của các trường dạy nghề còn kém hiệu quả. Mặc dù các cơ quan quản lý
nhà nước khuyến khích các trường tiếp cận với các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến,
Tự chủ về tổ chức bộ máy: 1) Chính phủ cần thống nhất quản lý nhà nước và và cải
tiến hệ thống các quy định trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp để giúp các trường dạy
nghề có điều kiện phát triển thuận lợi. Các trường cần được trao quyền tự chủ nhiều hơn
trong việc thành lập các pháp nhân thuộc trường để nâng cao năng lực và hiệu quả các hoạt
động của nhà trường. 2) Các trường dạy nghề phải bổ nhiệm/ miễn nhiệm cán bộ quản lý
17
dựa trên kinh nghiệm, năng lực và hiệu quả công tác quản lý của họ. Các trường cũng cần
mở rộng phạm vi tìm kiếm cả trong và ngoài trường để chọn được cán bộ quản lý phù hợp.
3) Các trường dạy nghề cần đề cao vai trò của Hội đồng trường để mở rộng dân chủ, tăng
quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội của trường; Bổ sung các
thành viên từ bên ngoài vào Hội đồng trường. 4) Chính phủ cần giao quyền quyết định về
cấu trúc và nội dung học thuật cho các trường dạy nghề trên cơ sở khung trình độ quốc gia.
Tự chủ tài chính: 5) Cho phép các trường công lập huy động vốn từ các tổ chức tín
dụng, các quỹ và ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển quy mô và nâng cao chất lượng
đào tạo. Tạo điều kiện thuận lợi cho các trường tư thục dễ dàng tiếp cận với các khoản tín
dụng ưu đãi đầu tư dài hạn cho lĩnh vực đào tạo. 6) Cần có chính sách khuyến khích các
trường dạy nghề tích lũy và tái đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo. 7) Cho phép các trường
công lập toàn quyền sở hữu và sử dụng bất động sản đã giao cho họ vì mục đích giáo dục –
đào tạo. Hỗ trợ các trường tư thục mua hoặc thuê nhà/ đất dài hạn với giá ưu đãi để khuyến
khích phát triển dạy nghề. 8) Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ công bằng giữa trường
công và trường tư căn cứ vào chất lượng và hiệu quả đào tạo của mỗi trường. Phải từng
bước tăng thu nhập cho lao động trong nước đã qua đào tạo nghề và tăng cường xuất khẩu
lao động kỹ thuật cao ra nước ngoài.
Tự chủ về nhân sự: 9) Trao quyền cho người đứng đầu để gắn mọi quyết định của
họ với trách nhiệm giải trình cũng như chất lượng và hiệu quả quản lý của họ. Áp dụng các
công cụ quản lý nguồn nhân lực (HRM) để xây dựng các chính sách của trường trong tuyển
dụng, đào tạo, trả lương, đánh giá năng lực, khen thưởng nhân viên dựa trên năng lực, chất
lượng và hiệu quả công việc của họ.
Họ và tên: PHẠM QUANG VINH
Ngày, tháng , năm sinh: 02 - 01 -1972
Quá trình Đào tạo:
Cấp độ
Năm tốt
nghiệp
Trường tốt nghiệp, nước
Chuyên ngành
tốt nghiệp
Cao đẳng
1992
Cao đẳng Sư phạm Hà Nội
Toán
Đại học
1997
Đại học Mở Hà Nội
Toán – Tin học
-
Địa chỉ liên hệ:
xóm Tây, thôn Bầu, Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội
-
Điện thoại:
0913.537.881 / 0978.899.199
-
Email:
Các lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy:
Môn học giảng dạy: Cơ sở dữ liệu; Cấu trúc dữ liệu và giải thuật; Mạng máy tính; Cấu
trúc máy tính
Các công trình khoa học
1. Sách, giáo trình đã xuất bản:
-
Các sách chủ biên: Giáo trình Tin học văn phòng, 1999 (lưu hành nội bộ).
2. Đề tài, chương trình, dự án KH&CN đã chủ trì:
2.1. Đề tài KH&CN các cấp đã chủ trì:
Hoạt động đào tạo
1. Đào tạo sau Đại học:
2. Tham gia giảng dạy tại nước ngoài:
20