BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HOÀNG CÔNG MỆNH
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CÂY TRỒNG
NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
HÀ NỘI, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HOÀNG CÔNG MỆNH
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CÂY TRỒNG
NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 62 62 01 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. PHẠM TIẾN DŨNG
2. TS. HOÀNG TUẤN HIỆP
HÀ NỘI, NĂM 2013
tiến hành nghiên cứu tại Bộ môn.
+ Lãnh đạo Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Trung tâm Quy hoạch
và Hợp tác Việt Lào và các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác đã động viên, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu luận án này.
+ Tập thể cán bộ Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm Khuyến nông, Chi cục
Thống kê huyện Điện Biên; Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Điên Biên đã giúp đỡ tôi
rất nhiều trong thời gian tôi nghiên cứu tại địa bàn.
+ Tập thể cán bộ, công nhân viên Trại giống Thanh An - Công ty giống cây
trồng tỉnh Điện Biên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình
triển khai các thí nghiệm, thực hiện luận án này.
+ Tập thể lãnh đạo và các thầy cô thuộc Khoa Nông học, Ban Quản lý Đào
tạo - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, những người đã giúp đỡ, đóng góp ý
kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới bố, mẹ ,vợ, anh, chị, bạn bè đã động viên hỗ trợ
tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Hoàng Công Mệnh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CÁM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU
CNH - HĐH
Đ/c
C/k
FAO
GIS
GDP
HSTNN
HTNN
HTCTr
HTX
IRRI
IPM
IUCN
KHKTNN
NN & PTNT
NS
NSLT
NSTT
QCVN
SXHH
SXNN
TCVN
TCN
TGST
Tên đầy đủ tiếng Việt
Axít Abscisic
Biến đổi khí hậu
Lúa Bắc Thơm số 7
Thời gian sinh trưởng
v
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1. Đặc điểm một số yếu tố khí hậu tại trạm khí tượng Điện Biên
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng đất đai huyện Điện Biên qua các năm
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất trồng cây hàng năm huyện Điện Biên
năm 2010
Bảng 3.4. Năng suất cây trồng ở một số công thức trồng trọt chính trên
đất ruộng chủ động nước tại huyện Điện Biên năm 2010
Bảng 3.5. Hiệu quả kinh tế của một số công thức trồng trọt chính trên đất
ruộng chủ động nước tại huyện Điện Biên năm 2010
Bảng 3.6. Năng suất cây trồng ở một số công thức trồng trọt chính trên
đất ruộng không chủ động nước tại huyện Điện Biên năm 2010
Bảng 3.7. Hiệu quả kinh tế một số công thức trồng trọt chính trên đất
ruộng không chủ động nước tại huyện Điện Biên năm 2010
Bảng 3.8. Diện tích, cơ cấu các giống lúa tại cánh đồng Mường Thanh
huyện Điện Biên
Bảng 3.9. So sánh biến động năng suất các giống lúa vùng cánh đồng
Mường Thanh huyện Điện Biên năm 2010
102
Bảng 3.22. Tổng hợp diện tích các loại đất (ở độ cao < 600 m) vùng lòng
chảo Điện Biên huyện Điện Biên năm 2010
103
Bảng 3.23. Đặc điểm tầng canh tác (0-20 cm) các loại đất trồng lúa chính
vùng cánh đồng Mường Thanh và vùng lúa huyện Hải Hậu tỉnh
Nam Định
105
Bảng 3.24. Hệ số tương quan (r) giữa các tính chất đất với chỉ tiêu chất
lượng gạo Bắc Thơm số 7 tại cánh đồng Mường Thanh
106
Bảng 3.25. Đặc tính (nhận biết) các loại đất trồng lúa có chất lượng khác
nhau tại cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên
viii
109
Bảng 3.26. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu chất lượng gạo Bắc Thơm
số 7 trong vụ xuân năm 2012 tại cánh đồng Mường Thanh
116
Bảng 3.33. So sánh năng suất thực thu các giống lúa thí nghiệm vụ mùa
năm 2011 và 2012
117
Bảng 3.34. Kết quả phân tích chất lượng các giống lúa tham gia thí
nghiệm vụ mùa năm 2012 (Chi tiết xem phụ lục)
117
Bảng 3.35. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển các giống lạc thí nghiệm
vụ xuân năm 2011 trên đất ruộng nhờ nước trời
120
Bảng 3.36. Mức độ nhiễm sâu bệnh các giống lạc thí nghiệm trong vụ
xuân 2011 trên đất ruộng nhờ nước trời
121
Bảng 3.37. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống lạc thí
nghiệm vụ xuân năm 2011 và 2012 trên đất ruộng nhờ nước trời
122
Bảng 3.38. Năng suất thực thu các giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân
năm 2011 và 2012 trên đất ruộng nhờ nước trời
ix
Bảng 3.45. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống đậu
tương thí nghiệm trong vụ xuân trên đất ruộng nhờ nước trời
127
Bảng 3.46. Năng suất thực thu các giống đậu tương thí nghiệm trong vụ
xuân trên đất ruộng nhờ nước trời
127
Bảng 3.47. Kết quả theo dõi hình thái và một số chỉ tiêu các giống ngô
thí nghiệm trong vụ xuân năm 2011
128
Bảng 3.48. Mức độ nhiễm sâu bệnh các giống ngô thí nghiệm vụ xuân
năm 2011
128
Bảng 3.49. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống ngô
thí nghiệm trong vụ xuân năm 2011 và 2012 trên đất 1 vụ lúa
128
Bảng 3.50. Năng suất thực thu các giống ngô trồng trong vụ xuân trên
đất ruộng nhờ nước trời
129
Bảng 3.56. Những yếu tố cấu thành năng suất và năng suất khoai tây thí
nghiệm vụ đông năm 2011 và 2012 trên chân đất 2 vụ lúa
134
Bảng 3.57. Năng suất các giống khoai tây thí nghiệm trong vụ đông trên
đất 2 vụ lúa tại huyện Điện Biên
135
Bảng 3.58. Hiệu quả kinh tế các giống khoai tây thí nghiệm trong vụ
đông năm 2011 trên đất 2 vụ lúa (Tính trên 1 ha)
135
Bảng 3.59. So sánh hiệu quả của mô hình dự kiến với các công thức 3 vụ
truyền thống huyện Điện Biên (Tính trên 1 ha)
136
Bảng 3.60. Hiệu quả kinh tế tăng vụ trên đất ruộng chủ động nước năm
2012 tại huyện Điện Biên (Tính trên 1 ha)
137
Bảng 3.61. So sánh cơ cấu cây trồng mới với cây trồng cũ trên đất ruộng
tại huyện Điện Biên
138
đồng Mường Thanh và xã Hải Hà huyện Hải Hậu tỉnh Nam
Định......................................................................................................
Hình 3.4a. Mặt phẳng vùng cánh đồng Mường Thanh - Điện Biên................
Hình 3.4b. Ảnh 3D vùng cánh đồng Mường Thanh - Điện Biên....................
Hình 3.5. So sánh biên độ nhiệt giữa Trạm Khí tượng Điện Biên với
một số trạm vùng núi trung du và đồng bằng khác (số liệu nhiều
năm)....................................................................................................
Hình 3.6. Tổng hợp một số chỉ tiêu của Trạm Khí tượng Điện Biên
huyện Điện Biên qua các tháng trong năm (số liệu nhiều năm)
............................................................................................................
Hình 3.7. Bản đồ vùng đất sản xuất lúa chất lượng tại cánh đồng
Mường Thanh huyện Điện Biên (Tỷ lệ 1/100.000)............................
xii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích
sử dụng phục vụ phát triển kinh tế. Vì vậy, thâm canh tăng vụ đi đôi với việc bố trí
lại hệ thống cây trồng nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lợi tự nhiên, cho hiệu
quả cao là một vấn đề cấp thiết.
Trong những năm gần đây, chúng ta đã tiến hành phát triển nhiều hệ thống cây
trồng trên các vùng đất khác nhau, đặc biệt ở “vùng đất trung du và miền núi”, mang
lại hiệu quả nhất định, góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Huyện Điện Biên có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh Điện
Biên. Huyện nằm ở phía Nam của tỉnh, có diện tích tự nhiên 163.926 ha, bao quanh
Thành phố Điện Biên Phủ. Địa hình của huyện khá đa dạng, bao gồm các loại đất
đồi núi, đất vàn, đất trũng và đất bằng. Huyện Điện Biên nằm trong vùng nhiệt đới
gió mùa núi cao, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô thích hợp với nhiều loại
- Môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng;
- Điều kiện đất đai, lao động, tiền vốn và tập quán canh tác của nông hộ.
Quá trình sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện khách quan và kết
quả là năng suất và chất lượng nông sản rất khác nhau, không phù hợp với nền nông
nghiệp hàng hóa, giá thành sản xuất cao và khó áp dụng cơ giới trong sản xuất do
diện tích mảnh ruộng hẹp và phân tán, nhiều bờ thửa, bờ vùng nên sử dụng đất đai
còn lãng phí.
Một nền nông nghiệp phát triển nhanh và vững chắc phải sử dụng hợp lý các
nguồn lợi tự nhiên như: khí hậu, đất đai, v.v... và các nguồn lợi kinh tế, xã hội như:
lao động, vật tư, kỹ thuật. Một trong những biện pháp kinh tế và kỹ thuật nhằm tận
dụng các nguồn lợi tự nhiên và xã hội là bố trí hệ thống cây trồng hợp lý trong một
vùng hay một đơn vị sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Nương, 1997).
Trong chiến lược phát triển KT-XH của huyện, nhiệm vụ trọng tâm số 1 là
“Tập trung mọi nguồn lực, khai thác và phát huy có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế
để quy hoạch và phát triển nhanh, bền vững các ngành kinh tế theo hướng sản xuất
hàng hóa“. Trong đó, sản xuất nông, lâm nghiệp cần “Khai thác triệt để tiềm năng,
thế mạnh về đất đai, lao động; đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, sản xuất các loại cây
trồng chất lượng cao theo hướng hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm; đẩy
mạnh áp dụng khoa học lỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, bảo quản
và chế biến sau thu hoạch; trồng cây vụ 3 vùng lòng chảo thực sự trở thành vụ sản
2
xuất chính; phấn đấu mỗi năm có 3.000 ha lúa có chất lượng và thu nhập cao“
(Đảng bộ huyện Điện Biên, 2010).
Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
phát triển hệ thống cây trồng nông nghiệp tại huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên” để
góp phần phát triển nền nông nghiệp và kinh tế - xã hội của huyện được bền vững.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
- Xác định cơ sở khoa học cho việc phân vùng đất trồng lúa cho chất lượng
gạo khác nhau tại huyện Điện Biên.
- Kết quả của đề tài góp phần bổ sung cơ sở lý luận để phát triển hệ thống
cây trồng theo hướng hàng hoá.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần nâng cao chất lượng, giá trị hàng hóa của gạo Điện Biên.
- Giới thiệu các công thức luân canh cây trồng mới có hiệu quả cao hơn bằng
các giống cây trồng mới có năng suất cao, chất lượng và tăng vụ trên đất ruộng,
nâng cao thu nhập cho người nông dân.
5. Điểm mới của luận án
- Đưa ra cơ sở khoa học giải thích được những yếu tố chi phối tạo nên chất
lượng gạo ở “Điện Biên“ ngon hơn các vùng khác khi trồng cùng giống là do lúa
được trồng trên độ cao 450-550 m, có núi cao bao bọc; có số giờ nắng, lượng bức
xạ và ánh sáng dồi dào, biên độ nhiệt ngày đêm lớn.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng gạo ở Điện Biên
là: Xác định được các tiểu vùng trồng lúa sản xuất ra gạo ngon theo các cấp loại 1,
loại 2, loại 3 và bằng giống lúa chất lượng cao HT6 sẽ dần cải thiện hệ thống các
giống lúa hiện có, đang bị nhiễm một số loại sâu bệnh.
- Đề xuất hệ thống các yếu tố cây trồng mới được cải tiến là: giống lúa HT6,
giống lạc L20, giống đậu tương ĐT22, giống khoai tây Sinora; và công thức luân
canh mới trên đất ruộng chủ động nước là lúa - lúa - khoai tây đông; trên đất ruộng
không chủ động nước là lạc xuân - lúa mùa và đậu tương xuân - lúa mùa, hệ thống
cây trồng này có hiệu quả cao hơn hệ thống cũ, thích ứng ở địa phương và phát triển
bền vững.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
động sản xuất trồng trọt trong HTNN tạo ra hệ thống cây trồng tương ứng. Nguyễn
Duy Tính (1995), cho rằng hệ trồng trọt là hệ phụ trung tâm của HTNN, cấu trúc
của nó quyết định sự hoạt động của các hệ phụ như: chăn nuôi, chế biến... Vậy hệ
thống trồng trọt là gì?
Theo Dufumier (1997), hệ thống trồng trọt là thành phần các giống và loài
cây được bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp
nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội.
Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là một vấn đề phức tạp, vì nó liên quan đến
nhiều tài nguyên và môi trường như: tài nguyên đất, khí hậu, cây trồng, vấn đề sâu
bệnh, dịch hại, mức đầu tư và trình độ khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Mục đích
của các vấn đề nghiên cứu là nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài
nguyên đất, khí hậu và nâng cao năng suất cây trồng.
Theo Phạm Chí Thành và cs. (1996), hệ thống trồng trọt bao gồm: (i) Hệ
thống cây trồng; (ii) hệ thống công thức luân canh; (iii) hệ thống sử dụng phân bón;
(iv) hệ thống tưới tiêu; (v) hệ thống bảo vệ thực vật; (vi) hệ thống quản lý…
1.1.2. Hệ thống cây trồng
1.1.2.1. Khái niệm về hệ thống cây trồng (HTCTr)
Trên thế giới có rất nhiều cách hiểu khác nhau: Zandstra (1981), cho rằng hệ
thống cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian và
thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn
lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội (Dẫn theo Phạm Chí Thành và cs., 1996).
Lý thuyết về HTNN và HTCTr dựa trên những yếu tố về điều kiện tự nhiên
(khí hậu, đất đai), kinh tế - xã hội, thị trường của vùng. Hay HTCTr là hoạt động
sản xuất cây trồng trong nông trại, bao gồm tất cả các hợp phần cần có để sản xuất
một tổ hợp các cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường. Các hợp phần
này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như kỹ thuật, lao động và
quản lý sản xuất (Zandstra, 1981; Nguyễn Duy Tính, 1995).
HTCTr là tổng thể các loại cây trồng trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau,
được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian. Chuyển đổi hay hoàn thiện hệ
(2) Đặc trưng của hệ thống cây trồng là yếu tố động:
+ Động theo thời gian (hệ thống cây trồng ở nền nông nghiệp tự cung tự cấp
khác với hệ thống cây trồng làm hàng hóa);
+ Động theo không gian, điều kiện sinh thái cụ thể khác nhau thì hệ thống
cây trồng khác nhau (như chân ruộng cao, ruộng trũng, ruộng vàn, ruộng thấp; vùng
sinh thái đồng bằng, trung du, miền núi, ven biển...);
+ Động theo tiến bộ kỹ thuật (như giống cây trồng, kỹ thuật trồng trọt
7
mới…) và theo nhu cầu tiêu dùng của xã hội khác nhau.
Chính vì vậy, chúng ta cần thường xuyên nghiên cứu sự thay đổi của hệ
thống cây trồng để đáp ứng với thời gian, sự thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội.
1.1.2.3. Hệ thống cây trồng hợp lý
HTCTr hợp lý là phát triển HTCTr mới trên cơ sở cải tiến HTCTr cũ. Trên
thực tế là sự tổ hợp lại các công thức luân canh, các thành phần cây trồng và giống
cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với
nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho
hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991; Lê
Thế Hoàng, 1995).
Đứng về quan điểm sinh thái học, bố trí HTCTr hợp lý là chọn một cấu trúc
cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào để đạt năng suất sơ cấp cao nhất
(Đào Thế Tuấn, 1989). Về mặt kinh tế, HTCTr hợp lý cần thỏa mãn yêu cầu chuyên
canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao, bảo đảm việc hỗ trợ cho ngành sản xuất
chính, tận dụng nguồn lợi tự nhiên, ngoài ra còn phải đảm bảo việc đầu tư lao động
và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao.
Xác định HTCTr hợp lý, ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng
với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cần phải dựa trên phương hướng sản xuất
của vùng. Phương hướng sản xuất quyết định HTCTr, nhưng HTCTr hợp lý sẽ là cơ
đai, khí hậu...), điều kiện kinh tế (giao thông, thủy lợi …, nhu cầu thị trường) và
điều kiện xã hội (chính sách phát triển, phong tục tập quán…). Các nhóm yếu tố này
được xếp vào nhóm yếu tố bên ngoài chi phối các quyết định của người nông dân.
Nông nghiệp Việt Nam hiện tại còn ở mức sản xuất hàng hóa nhỏ do các hộ nông
dân chủ động sản xuất trên diện tích canh tác của mình. Vì vậy, việc lựa chọn hệ
thống cây trồng còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của nông hộ như: đất đai, lao
động, vốn, kỹ năng, trình độ sản xuất.
Điều kiện kinh tế của hộ rất khác nhau đã dẫn đến kết quả chất lượng nông
sản không đồng đều, hiệu quả sản xuất thấp. Hiện nay ở Việt Nam đang xây dựng
hệ thống sản xuất hàng hóa tập trung (trong xây dựng nông thôn mới). Đặc điểm
của sản xuất tập trung (cánh đồng mẫu lớn) là người nông dân sản xuất trên mảnh
đất của họ nhưng ít chịu sự chi phối của lao động, vốn, kỹ năng nghề nghiệp của
từng hộ và đã có sự hỗ trợ của Nhà nước và kết quả chất lượng hàng hóa cao hơn,
nông dân thu lãi nhiều hơn. Dưới đây là một số căn cứ để bố trí HTCTr:
1.1.3.1. Một số yếu tố khí hậu
Nông nghiệp có quan hệ qua lại và phức tạp với các điều kiện tự nhiên, trong
đó có yếu tố khí hậu. Diễn biến khí hậu thường được thể hiện bởi thời tiết, chúng là
9
những nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến sản xuất nông nghiệp, được thể hiện qua
năng suất (cao hay thấp) và chất lượng nông sản (tốt hay xấu). Vì vậy, nghiên cứu
HTCTr, điều cần quan tâm đầu tiên là các yếu tố thời tiết cấu thành khí hậu. Nói
đến vai trò của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp, viện sĩ V. I. Vavilop cho rằng:
"Biết được các yếu tố khí hậu, chúng ta sẽ xác định được năng suất, sản lượng mùa
màng, chúng mạnh hơn cả kinh tế, mạnh hơn cả kỹ thuật". Những điều kiện khí hậu
được xác định cho nông nghiệp là ánh sáng, nhiệt độ và nước. Đó là những yếu tố
không thể thiếu và thay thế được đối với sự sống nói chung, cây trồng nói riêng.
Ngoài ra, cũng phải thấy "khí hậu nào, đất nào, cây đó", cho nên khí hậu là yếu tố
dẫn đến năng suất giảm. Căn cứ vào yêu cầu nhiệt độ của từng nhóm cây: ưa nóng,
ưa lạnh hay ngày ngắn để bố trí HTCTr trong năm.
* Lượng mưa
Nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cây trồng. Cây trồng đòi hỏi một
lượng nước lớn gấp nhiều lần trọng lượng chất khô của chúng. Lượng nước mà cây
tiêu thụ để hình thành một đơn vị chất khô của một số cây trồng (gọi là hệ số tiêu
thụ nước) như ngô: 250-400 đơn vị nước cho 1 đơn vị chất khô, lúa: 500-800 đơn vị
nước cho 1 đơn vị chất khô, tiếp đó bông: 300-600, rau: 300-500, cây gỗ: 400-00,...
(Trần Đức Hạnh và cs., 1997). Hầu hết lượng nước được sử dụng cho nông nghiệp
là nước mặt, các nguồn này được cung cấp chủ yếu từ lượng mưa hàng năm. Tuỳ
theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp và khai thác nước đối với một vùng
cụ thể để xem xét lựa chọn hệ thống cây trồng thích hợp.
1.1.3.2. Đất đai
Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất. Bảo vệ, duy trì
và cải tiến nguồn tài nguyên này là tiêu chuẩn để tiếp tục duy trì chất lượng cuộc
sống trên trái đất (Henry and Boyd, 1996). Điều kiện đất đai và khí hậu mang tính
chất quyết định để bố trí cây trồng hợp lý. Nó tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, độ
dốc, chế độ nước ngầm, thành phần cơ giới đất... để bố trí một hoặc một số cây
trồng phù hợp. Hiểu được mối quan hệ giữa cây trồng với đất sẽ dễ dàng xác định
được HTCTr hợp lý ở một vùng cụ thể.
Thành phần cơ giới của đất quy định tính chất của đất như chế độ nước, chế
độ không khí, nhiệt độ và dinh dưỡng. Đất có thành phần cơ giới nhẹ thích hợp cho
trồng cây lấy củ. Đất có thành phần cơ giới nặng và có nước trên mặt phù hợp cho
các cây ưa nước. Các cây trồng cạn như ngô, lạc, đậu tương ... thường sinh trưởng tốt
và cho năng suất cao trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ (Phạm Bình Quyền
và cs., 1992). Bón phân và canh tác hợp lý là biện pháp hữu hiệu điều khiển dinh
dưỡng đất. Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng, phát triển và năng suất cây
11
vòm, nhà kính và công nghệ chọn tạo giống, ví dụ qua quá trình lai tạo, di thực đã
chọn tạo ra giống bắp cải có khả năng cuộn trong vụ hè.
1.1.3.4. Hệ sinh thái
12