Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở thành phố hồ chí minh - Pdf 35

1

PHẦN MỞ ĐẦU
Sự phát triển của thế giới đang bước sang trang mới với những thành tựu có
tính đột phá, trong đó yếu tố đóng vai trò trung tâm quyết định sự biến đổi về chất
của nền kinh tế chính là nguồn nhân lực chất lượng cao. Sự thống trị của các nhân
tố truyền thống như số lượng đất đai, lao động, hay nguồn vốn giờ đây đã được thay
đổi. Chính nguồn nhân lực chất lượng cao mới là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá
trình, bởi lẽ những yếu tố khác vẫn có thể có được nếu có tri thức, song tri thức
không tự nhiên xuất hiện mà phải thông qua một quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt
động thực tế. Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp chủ yếu
là cạnh tranh về hàm lượng chất xám, nghĩa là hàm lượng tri thức kết tinh trong sản
phẩm hàng hoá dịch vụ nhờ vào nguồn nhân lực có chất lượng. Vì vậy, để có được
tốc độ phát triển cao và bền vững, các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến việc
phát triển nguồn nhân lực,một vấn đề cấp bách có tầm chiến lược, có tính sống còn
trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế thế giới.
Hiện nay, công nghệ Việt Nam ở mức trung bình kém. Trong các ngành
công nghiệp, hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với thế giới.
Tình trạng thiếu công nhân kỹ thuật, đặc biệt là công nhân bậc cao là nhân tố trực
tiếp ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chuyển giao công nghệ, làm giảm hiệu suất
sử dụng của thiết bị công nghệ.
Trong cơ cấu trình độ của lực lượng lao động của nước ta, tỷ lệ lao động
được đào tạo không chỉ quá thấp mà còn rất bất hợp lý. Chúng ta thiếu cả cán bộ
trên đại học, đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật lành nghề,
nhưng thiếu hụt nghiêm trọng hơn cả là chuyên gia đầu ngành và công nhân lành
nghề – kỹ thuật viên (Lê Văn Toàn, 2007).
Báo cáo chính trị của Ban Chấp Hành trung ương khoá IX tại đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng xác định rằng con đường công nghiệp hoá, hiện
đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, và
muốn vậy thì phải phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt
Nam thông qua giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, gắn với hội nhập quốc tế,

đó sẽ hạn chế khả năng cung ứng nguồn nhân lực cho một thị trường với yêu cầu
phát triển cao về chất nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố. (Nguyễn Trần Dương, 2005).


3

Từ thực trạng và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực nêu trên, tác giả quyết
định chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc ở thành phố Hồ Chí Minh” làm luận án tiến sỹ chuyên ngành kinh tế
chính trị.
1. Bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài
1.1. Những công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất
lƣợng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Nguyễn Bá Ngọc và Trần Văn Hoan (2002) cho rằng quá trình toàn
cầu hoá có tính chất hai mặt, vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra những thách thức đối với
các nước đang phát triển. Lao động Việt Nam có trở thành nguồn lực quyết định sự
thành công trong tham gia hội nhập quốc tế hay trở thành rào cản trong tiến trình
đuổi kịp các nước tiên tiến, đều tuỳ thuộc vào ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam.
Tác giả cũng đề cập đến tác động của toàn cầu hoá đối với lao động, việc làm, với
vấn đề phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam như: di chuyển lao động trên thị
trường lao động trong nước và quốc tế; biến đổi lao động và thất nghiệp dưới tác
động của toàn cầu hoá kinh tế; tác động đến cải cách thể chế, quan hệ lao động, điều
kiện lao động và các vấn đề xã hội của lao động ở Việt Nam.
Tác giả Phạm Thị Thu Hằng (2008) và Hoàng Văn Châu (2009) đều đánh giá
tổng quan về môi trường kinh doanh của Việt Nam 2007, phân tích các hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên 4 khía cạnh: lao động, tài chính, công
nghệ và tiếp cận thị trường trong 6 ngành (dệt may, xây dựng, du lịch, ngân hàng,
bảo hiểm, sản xuất chế biến thực phẩm) bị ảnh hưởng nhiều nhất của việc Việt Nam
gia nhập WTO từ các vấn đề lao động và phát triển nguồn nhân lực. Các tác giả

thiên nhiên, dân số và nguồn lao động, lịch sử khai thác lãnh thổ, cơ sở hạ tầng,
đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, Giáo dục, y tế. Trong đó tác giả
cho rằng giáo dục có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển tiềm năng của con
người. Năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào sức khoẻ người lao động, vào
công nghệ sản xuất mà còn phụ thuộc nhiều vào trình độ hiểu biết của người lao
động. Kết quả giáo dục là tăng lực lượng lao động
Các tác giả Francis Green, David Ashton, Donna James,

Johnny Sung

(1999) đề xuất một giải thích mới về vai trò của nhà nước trong việc hình thành kỹ
năng, với ba nền kinh tế Đông Á mới công nghiệp hóa. Thay vì nhìn thấy nhà nước


5

là yếu tố bên ngoài chỉ đơn giản là khắc phục, nhóm tác giả giải thích nhà nước phù
hợp với việc cung cấp và nhu cầu cho các kỹ năng trong một nền kinh tế phát triển
nhanh chóng. Vai trò này có thể là tốt hơn một chiến lược cho phép các tổ chức giáo
dục và đào tạo được thúc đẩy bởi quá trình tự trị. Bài viết xem xét các cơ chế chính
trị giúp cho việc đảm bảo sự phát triển của giáo dục và hình thành các chính sách
đào tạo tuân theo những mệnh lệnh của sự tăng trưởng kinh tế.
Trong tác phẩm “Tư duy lại tương lai” do Rowan Gibson biên tập (2002) các
nhà nghiên cứu cho rằng: Từng ngóc ngách trong lối tư duy của kỷ nguyên công
nghiệp bây giờ đây đang được xem xét lại kỹ lưỡng và được tu chỉnh một cách
mạnh mẽ. Thông qua quan điểm các nhà nghiên cứu, đã có 6 tổng kết đặc biệt quan
trọng để thực hiện những bước tư duy lại tương lai: (1) Tư duy lại các nguyên tắc,
(2) Tư duy lại vấn đề cạnh tranh, (3) Tư duy lại sự kiểm soát và tính phức tạp, (4)
Tư duy lại vai trò lãnh đạo, (5) Tư duy lại thị trường, (6) Tư duy lại thế giới. Những
tổng kết mang tính triết lý này giúp mọi người nhìn thế giới với một nhận thức mới

dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất; Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa
nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức, chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự
cộng lực để cùng nhau thực hiện mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ đất nước.
Từ đó, tác giả đã đề xuất 10 giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam (Cần coi
nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam; nâng cao chất lượng con
người và chất lượng cuộc sống; Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn
nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực cho đúng; hằng năm, Nhà nước cần tổng kết về
lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực ở Việt Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt
chưa được, kịp thời rút ra những kinh nghiệm, trên cơ sở đó mà xây dựng chính
sách mới và điều chỉnh chính sách đã có về nguồn nhân lực ở Việt Nam...) Tác giả
cũng kiến nghị Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có chính sách, biện pháp
kết hợp thật tốt giữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất
nước, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao cho yêu cầu phát triển
của nền kinh tế.
Tác giả Nguyễn Thanh Tuyền và cộng sự (2002) khẳng định con đường hội
nhập đối với Việt Nam là tất yếu. Xây dựng được cho mình những yếu tố ngày càng
mạnh của kinh tế tri thức là cách duy nhất để có được năng lực cạnh tranh, và hợp


7

tác một cách bình đẳng trong sự hội nhập đó. Đối với Việt Nam, chuyển sang thời
đại nền kinh tế tri thức là xu hướng không thể đảo ngược. Phải có tư duy của nền
kinh tế tri thức ngay cả khi đang ở trong giai đoạn phát triển nền kinh tế hữu hình
(công nghiệp hoá) để chí ít khi chưa thể bắt kịp vào nền kinh tế tri thức thì cũng tạo
ra được những tiền đề để tiếp nhận có hiệu quả các hiệu ứng tác động của nền kinh
tế tri thức trong toàn cầu hoá. Từ đó các tác giả cũng đề xuất sáu giải pháp căn bản
để tiến đến nền kinh tế tri thức là: Đẩy nhanh hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu,
nắm bắt những cơ hội của nó để nhanh chóng để tiến nhanh; Đầu tư vào giáo dục,

Tác giả cung cấp cho người đọc thông tin đáng chú ý về chất lượng đào tạo ở nước
ta thông qua đánh giá của các chủ doanh nghiệp Việt Nam đối với những lao động
được đào tạo qua các cơ sở đào tạo trong nước: (a) họ phải đào tạo lại hầu hết mọi
người ở mọi cấp bậc – học nghề, đại học, sau đại học - mà họ nhận vào doanh
nghiệp của mình, (b) họ không tin tưởng vào hệ thống đại học và các viện nghiên
cứu của trong nước, vì chất lượng giảng dạy thấp; nội dung thấp và lạc hậu; khả
năng nghiên cứu nghèo nàn; sách vở và thiết bị đều thiếu, không đồng bộ, cũ kỹ,
yếu về ngoại ngữ, năng lực tổ chức và quản lý thấp.
Tác giả Đàm Nguyễn Thuỳ Dương (2004) cũng cho rằng nguồn nhân lực là
nguồn lực mạnh nhất, quan trọng nhất trong các nguồn lực của sự phát triển. Đó
không chỉ là động lực mà còn là mục tiêu của sự phát triển, là hướng vào phục vụ
lợi ích con người. Tuy nhiên, vấn đề phát huy sức mạnh của nguồn lực này như thế
nào còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt vào trình độ và kỹ năng sử dụng nguồn
lao động. Tác giả đã cho thấy được nguồn lao động của thành phố có qui mô lớn
nhất cả nước, chiếm 77% tổng nguồn lao động; 7,9% dân số trong độ tuổi lao động
và 6,6% dân số hoạt động kinh tế của cả nước. Chất lượng nguồn lao động đã được
nâng lên rõ rệt: về trình độ văn hoá của dân số hoạt động kinh tế chỉ có 0,5% chưa
biết chữ và 10% chưa tốt nghiệp tiểu học, 8,9% đã tốt nghiệp từ tiểu học đến trung
học phổ thông; về trình độ chuyên môn kỹ thuật 33% dân số hoạt động kinh tế có
trình độ từ công nhân kỹ thuật trở lên và gần 40% qua đào tạo nghề, đặc biệt là lao
động có trình độ cao đẳng trở lên ngày càng tăng. Về sử dụng lao động, 93,8% dân
số hoạt động tập trung ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, chỉ có 6,7% tập trung
trong nông nghiệp. Lao động ở TP.HCM cũng phân bố không đồng đều giữa các
khu vực kinh tế. Mặc dù kinh tế thành phố phát triển cao, hàng năm giải quyết được


9

một số lượng lớn lao động nhưng tỷ lệ người thất nghiệp của TP.HCM vẫn còn khá
cao chiếm 6,53% tổng số người trong độ tuổi lao động (so với Đông Nam

10

thuật và công nghệ trên con đường phát triển, chống nguy cơ tụt hậu, là khâu đột
phá nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai
đoạn 2010-2020 và tạo ra bước phát triển thần kỳ của Việt Nam.
- Khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao trong nền kinh tế, tinh thần cơ
bản toát lên từ những công trình kể trên là sự nhấn mạnh tới yêu cầu về việc con
người phải thay đổi tư duy để thích ứng và làm chủ những xu hướng phát triển rất
mới và đầy bất ngờ trong thời đại ngày nay.
- Bằng việc vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp tiếp
cận thị trường, các bài viết đã góp phần bổ sung và phát triển lý luận về mối quan
hệ biện chứng giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế - dịch chuyển nhu cầu nhân lực – và
điều chỉnh nhu cầu đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường.

 Ý nghĩa thực tiễn
- Các tác giả đã phân tích ở những khía cạnh và góc độ khác nhau về thực
trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam. Những thực trạng đó liên quan tới
số lượng, cơ cấu và khả năng đáp ứng yêu cầu của những công việc đòi hỏi trình độ
cao. Tất cả những nghiên cứu đều khẳng định rằng nguồn nhân lực chất lượng cao
của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH,HĐH và quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
- Những tài liệu trên đã phát hoạ được bức tranh phát triển nguồn nhân lực
của Việt Nam nói chung, với nét chủ yếu là thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực,
cũng như hạn chế của hệ thống giáo dục và đào tạo cần được khắc phục một cách
hiệu quả để từ đó đưa ra những giải pháp về nguồn nhân lực cho Việt Nam.
- Các tác giả nghiên cứu cũng đã đề xuất một số giải pháp về giáo dục – đào
tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực như: phát triển giáo dục đào tạo đáp ứng theo
nhu cầu của thị trường, đổi mới nội dung, chương trình và cách thức giảng dạy ở
các bậc học. Có chính sách ưu đã trong việc trọng dụng nhân tài.
1.4. Những vấn đề đặt ra cho luận án

chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, nhưng các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn
với hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO vẫn chưa
được đề cập một cách đầy đủ. Chưa có tác giả nghiên cứu xây dựng thang đo chất
lượng nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên nhu cầu lao động tại TPHCM.


12

- Tất cả những công trình nói trên, ở những mức độ khác nhau, đã giúp tác
giả có một số tư liệu và kiến thức cần thiết để có thể hình thành những hiểu biết
chung, giúp tiếp cận và đi sâu nghiên cứu vấn đề.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Phân tích thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao ở TP.HCM trong bối cảnh HNKTQT.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở khía cạnh cung lao động.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở khía cạnh cầu lao động
- Lập luận về phương pháp, mục tiêu và đề xuất quan điểm và giải pháp phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của
TP.HCM
3. Đối tƣợng phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực sản
xuất (lao động kỹ thuật) trên địa bàn TP.HCM
- Nội dung vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu HNKTQT ở TP.HCM
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao
với tư cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất; là đội ngũ lao động
trực tiếp sản xuất của nền kinh tếtrên địa bàn TP.HCM trong bối cảnh HNKTQT.

Chương 4: Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở TP.HCM.


14

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1.

Khái niệm và các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong
bối cảnh HNKTQT

1.1.1. Phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lƣợng cao
Khái niệm về nguồn nhân lực
Khái niệm nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa, ngoài nghĩa rộng được
hiểu như khái niệm “nguồn lực con người”, thường còn được hiểu theo nghĩa hẹp là
nguồn lao động (tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số lao
động dự phòng), thậm chí có khi còn được hiểu là lực lượng lao động (số người
trong độ tuổi lao động mà có khả năng lao động).
Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ
được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng
giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với
mục đích đem lại thu nhập trong tương lai (Begg et.al, 1995).
Theo Ngân hàng thế giới thì nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến
thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có hoặc tiềm năng để phát
triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng (WB, 2000).
Nguồn nhân lực cần được hiểu là số lượng (số dân) và chất lượng con người,

những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
Kế thừa quan điểm của các tác giả nghiên cứu về nguồn nhân lực, tác giả đề
tài cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với
tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần
tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào
quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Phát triển nguồn nhân lực
Nadler & Nadler (1990) cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục đào
tạo là những thuật ngữ có cùng nội hàm. Hai tác giả này định nghĩa: phát triển


16

nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác
định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc.
Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách
và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ,
thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho
sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển (Bùi Văn Nhơn, 2006)
Trong khái niệm này chất lượng nguồn nhân lực được giải thích như sau:
Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần. Thể lực
là trạng thái sức khoẻ thể chất của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người
phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi
hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng
vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của
con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc
sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo
tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người.
Trí lực của nguồn nhân lực: là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ
năng lao động thực hành của người lao động. Đó là năng lực của trí tuệ, quyết định

Như vậy, phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả
năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng
tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử v.v. Với cách tiếp cận phát
triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số
lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo
ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ
cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có
năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao (Trần
Xuân Cầu, 2008).
Khái niệm về nguồn nhân lực chất lƣợng cao
Từ thời của Mác, dù chưa đề cập đến thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng
cao nhưng Mác đã nêu ra quan niệm về những người có trình độ, có khả năng ứng
dụng những thành tựu của khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, đó là những con người
có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ
thống sản xuất trong thực tiễn. (C. Mác và Ph. Ăng-ghen,1993).


18

Tại Hội Nghị BCHTW lần thứ 6 khoá IX, Đảng ta lần đầu tiên sử dụng thuật
ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông
qua con đường phát triển, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ chính là khâu
then chốt để nước ta vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển. Đến Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh thuật ngữ này khi đưa ra
định hướng chính sách tập trung phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao:
Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu nghành, tổng công trình sư, kỹ sư
trưởng, kĩ thuật viên lành nghề và CNKT có tay nghề cao. Có chính sách thu hút
các nhà khoa học công nghệ giỏi trong nước và ngoài nước, trong cộng đồng người
Việt định cư ở nước ngoài. Như vậy theo quan niệm của Đảng, nguồn nhân lực chất
lượng cao bao gồm đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ, các công trình sư, kỹ

phải lúc nào con người cũng có thể kiểm soát các kênh và các cách thức để có được
thứ tài sản này. Trong những năm đầu của cuộc đời, các quyết định liên quan đến
vốn con người không do chủ nhân của nó mà do cha mẹ, thầy giáo, chính phủ và cả
xã hội nắm giữ thông qua các thể chế giáo dục và xã hội. Đến khi con người trưởng
thành, có thể tự chủ và độc lập trong cuộc sống, thì họ có quyền quyết định quá
trình đầu tư vào vốn con người của mình, nhưng ảnh hưởng từ những người xung
quanh và các khuôn khổ thể chế được áp dụng nơi họ sinh sống sẽ tiếp tục tác động
đến quá trình hình thành vốn con người của mỗi cá nhân, cả về mặt lượng lẫn mặt
chất.
Thứ ba, vốn con người có cả mặt lượng lẫn mặt chất. Mặc dù chúng ta dễ
dàng định lượng được số năm đi học của một cá nhân, nhưng đầu tư vào vốn con
người không hề đồng nhất về chất. Ví dụ, những con người có bằng đại học
Harvard có thể có mức vốn con người cao hơn những người tốt nghiệp từ các
trường đại học ít tên tuổi hơn.
Thứ tư, vốn con người vừa mang tính cộng đồng, vừa mang tính cá biệt.
Kiến thức có thể mang tính cộng đồng nếu con người sử dụng chúng trong nhiều
hoạt động và nếu chúng được truyền từ người này sang người khác một cách dễ
dàng mà không làm giảm nhiều giá trị. Ngược lại, vốn con người trở nên cá biệt nếu
người tachỉ sử dụng nó trong một số ít hoạt động và nếu việc tan rã mối quan hệ
giữa người lao động (chủ thể mang vốn con người) và công ty gây ra những mất
mát to lớn.


20

Cuối cùng, vốn con người chứa đựng cả những hiệu ứng ngoại sinh. Khi nói
đến các hiệu ứng lan tỏa, một mặt chúng ta có thể hiểu rằng cá nhân này có thể tác
động tới năng suất lao động của các cá nhân khác và tác động tới lợi suất của vốn
vật chất, mặt khác với khả năng nhất định, mỗi cá nhân có thể làm việc năng suất
hơn trong một môi trường có mức vốn con người cao. Khía cạnh này của vốn con

thay đổi liên tục của môi trường công việc, có sức khoẻ và phẩm chất tốt, có tính kỷ
luật, có đạo đức và tác phong nghề nghiệp, mong muốn đóng góp tài năng, công sức
của mình cho sự thành công, phát triển chung của tập thể. Cao hơn nữa, đó là những
lao động có khả năng vận dụng những tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào quá
trình lao động sản xuất nhằm sáng tạo, cải tiến năng suất, chất lượng và mang lại
hiệu quả cao trong công việc.
Theo Chu Hảo (2012) thì nhân lực chất lượng cao trước hết phải được thừa
nhận trên thực tế, không phải ở dạng tiềm năng. Điều đó có nghĩa là nó không đồng
nghĩa với học vị cao. NLCLC là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm
vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho
công việc của xã hội.
Những phẩm chất nhân cách của con người mới là yếu tố cơ bảo đảm chất
lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tùy thuộc vào
trình độ phát triển nhân cách tạo thành những bộ phận hợp thành cấu trúc nguồn
nhân lực. Do vậy, giáo dục nhân cách phải được thực hiện trong bất cứ quá trình
nào của chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Những suy thoái nhân cách bao giờ
cũng làm tổn thương đến sự phát triển nguồn nhân lực (một tập đoàn doanh nghiệp
có thể phá sản nhiều khi chỉ do một nhóm cán bộ lãnh đạo sa vào tình trạng tham
nhũng) (Phạm Tất Dong, 2011)
“Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có
phẩm chất tốt đẹp được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên
tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại” (Đảng CSVN, 2006)
Về tiêu chí làm nên nội hàm khái niệm.
Tiêu chí về lượng cho thấy nhân lực chất lượng cao, nói chung phải là tốt
nghệp từ cao đẳng- đại học trở lên, nhưng phải từ lại khá- giỏi. Tiêu chí chất lượng
thể hiện ở năng lực linh hoạt, sáng tạo, ý chí vượt khó, đạo đức nghề nghiệp thể
hiện tinh thần trách nhiệm cao, kỷ năng nghề nghiệp tạo nên sản phẩm có chất


22



23

Một là, vai trò và tầm quan trọng: Nguồn nhân lực chất lượng cao là lực
lượng lao động ưu tú nhất, đóng vai trò là đầu tàu dẫn dắt nguồn nhân lực trong xã
hội.
Hai là, số lượng: Nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ bao gồm một bộ phận
nhân lực trong tổng số nguồn nhân lực của quốc gia
Ba là, chất lượng: Nguồn nhân lực chất lượng cao được đánh giá thông qua
các tiêu chí cơ bản sau: (1) Thể lực, (2) Trí lực, (3) Nhân cách, (4) Năng động xã
hội.
Xét về mặt kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì nguồn nhân lực chất
lượng cao phải có năng lực nhận thức và thực hành kinh tế thị trường chuyển dần
theo nền kinh tế thị trường hiện đại (kết hợp kinh tế thị trường tự do và thị trường
xã hội). Điều đó còn có ý nghĩa là nguồn nhân lực này có khả năng hội nhập quốc
tế, tức có khả năng thông hiểu thị trường quốc tế và làm việc/ đàm phán, hợp tác
trong môi trường đa văn hóa mà không hòa tan bản sắc dân tộc. Nguồn nhân lực
như thế không chỉ là những con người kinh tế mà còn là những con người văn hóa,
con người có đạo đức nghề nghiệp có tầm nhìn quốc tế và hành động điạ phương…
Xét về mặt chính trị - công dân, nguồn nhân lực chất lượng cao là những
người không chỉ có trí tuệ, có văn hóa nghề nghiệp mà còn là những công dân,
những người có ý thức và năng lực thực thi dân chủ, và pháp quyền. Làm việc
không chỉ vì lợi ích ca nhân mà còn là vì lới ich cộng đồng, lợi ich quốc gia (Hồ Bá
Thâm, 2012).
Kế thừa những nhận định trên, có thể khái quát rằng: nguồn nhân lực chất
lượng cao là một bộ phận nhân lực có sức khoẻ đáp ứng yêu cầu, được đào tạo
dài hạn, có chuyên môn kỹ thuật cao, có phẩm chất đạo đức tiêu biểu, có khả
năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ, biết vận dụng sáng tạo
những tri thức những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất,

Chất lượng của nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn, quan
trọng hơn là trình độ chuyên môn kỹ thuật, thông qua số lượng và chất lượng của lao
động đã qua đào tạo và được thể hiện thông qua các chỉ tiêu so sánh như sau: Tỷ lệ
lao động đã qua đào tạo so với lực lượng lao động đang làm việc là % số lao động đã
qua đào tạo (từ sơ cấp, công nhân kỹ thuật đến sau đại học) so với lực lượng lao động
đang làm việc; trình độ chuyên môn kỹ thuật được thể hiện thông qua tỷ lệ lao động


25

được đào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc của cả nước, từng
vùng, từng ngành và thứ ba là cơ cấu các loại lao động đã qua đào tạo theo trình độ
chuyên môn kỹ thuật, cấp bậc đào tạo thể hiện cơ cấu số lao động có trình độ ĐH,CĐ
- số lao động có trình độ THCN - số lao động là công nhân kỹ thuật (Vũ Bá Thể,
2005; Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008).
- Năng lực sáng tạo
Biểu hiện ở óc sáng tạo, tính linh hoạt, nhanh nhẹn, nhạy bén trong phát hiện
thông tin mới và khả năng thích ứng nhanh để học tập, áp dụng, làm chủ các
phương tiện khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại cũng như năng lực hoạch
định các giải pháp kinh tế và thực hiện phát triển kinh tế. (Nguyễn Văn Dung, 2011)
- Năng lực và kỹ năng chuyên biệt
Kỹ năng lao động (khả năng ngoại ngữ, tin học) theo từng nghành nghề, lĩnh
vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực ở xã hội
công nghiệp (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008; Nguyễn Văn Dung, 2011).
(3) Tiêu chí về nhân cách
Nhân cách của nguồn nhân lực chất lượng cao biểu hiện ở tính tích cực, có ý
thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp, năng động sáng tạo, đạo đức, tác
phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ), lối sống đúng mực, hòa đồng trong
mỗi người lao động. Đó là quá trình nâng cao trình độ nhận thức các giá trị cuộc
sống, tinh thần trách nhiệm, khả năng hòa hợp với cộng đồng, đấu tranh với các tệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status