ĐẠI HỌC KHOA HỌC ỨNG DỤNG
NORTHWESTERN THỤY SỸ
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SỸ
“GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI”
NGUYỄN HỮU TIẾN
IeMBA 18 (09c)
Giảng viên hướng dẫn: TS Cấn Văn Lực
Hà Nội, tháng 7 năm 2012
CAM KẾT
Tôi xin cam kết rằng tôi đã viết luận văn này một cách độc lập và không sử dụng các nguồn
thông tin hay tài liệu tham khảo nào khác ngoài những tài liệu và thông tin đã được liệt kê
trong danh mục tài liệu tham khảo trích dẫn của luận văn.
Những trích đoạn hay nội dung tham khảo từ các nguồn khác nhau được liệt kê trong danh
mục tài liệu tham khảo theo hình thức những đoạn trích dẫn nguyên văn hoặc lời diễn giải
trong luận văn kèm theo thông tin về nguồn tham khảo rõ ràng.
Bản luận văn này chưa từng được xuất bản và cũng chưa được nộp cho một hội đồng nào
khác cũng như chưa chuyển cho bất kỳ một bên nào khác có quan tâm đến nội dung luận văn
này
DECLARATION ON HONOUR
Ngân hàng Thương mại cổ phần
TCTD
Tổ chức tín dụng
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
TDBL
Tín dụng bán lẻ
QHKH
Quan hệ khách hàng
3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ :
Sơ đồ 1.1 : Quy trình tín dụng ...............................................................................................10
Sơ đồ 2.1 : Mô hình tổ chức của Chi nhánh Đông Hà Nội ....................................................26
Biểu đồ :
Biểu đồ 2.1 : Huy động vốn 04 năm 2008-2011……………………………………………..29
Bảng biểu :
Bảng 2.1 : Tổng huy động vốn 04 năm 20082011 ...............................................................29
Bảng 2.2 : Huy động vốn theo loại tiền
Phân
loại
tín
dụng
…………………………………………..9
1.1.5. Quy trình tín dụng
…..10
ngân
hàng
thương
mại
………………………………………………………………...
1.2. Phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ ……………………………………………….......12
1.2.1. Quan niệm về phát triển tín dụng bán lẻ ……………………………………….….12
1.2.2. Đánh giá phát triển tín dụng bán lẻ …………………………………………………
14
5
1.2.3. Nhân tố ảnh hưởng
………………………………..18
đến
……………………………………...26
của
Chi
nhánh
Đông
Hà
Nội
2.1.3. Đặc điểm địa bàn và nội dung hoạt động của Chi nhánh Đông Hà Nội
……….27
2.1.4. Một số kết quả đạt được của Chi nhánh Đông Hà Nội …………………………..28
2.2. Thực trạng tín dụng bán lẻ của Chi nhánh Đông Hà Nội ……………………….36
2.2.1. Thực trạng cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh Đông Hà Nội ……………………..36
2.2.2. Tình hình cho vay DNVVN tại Chi nhánh Đông Hà Nội thời kỳ 20082010…...47
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN
HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐÔNG
HÀ
NỘI
……………………………………………………………………………...............…58
3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển của BIDV đến năm 2015
…………………...58
6
61
3.3. Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Chi nhánh Đông Hà Nội
...62
3.3.1.
Các
giải
pháp
…………………………………………………………………..62
cụ
thể
3.3.2. Một số kiến nghị phát triển tín dụng bán lẻ ………………………………………..66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................71
7
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Sự tham
gia, hiện diện của các tập đoàn tài chính, công ty đa quốc gia tại Việt Nam với thế
mạnh về trình độ quản lý, tài chính, kỹ thuật và công nghệ đang đặt ra những thách
thức đối với hoạt động sản xuất- kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam
núi chung và các Ngân hàng Thương mại Việt Nam nói riêng, trong đó có Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Thực tiễn này bắt buộc các ngân hàng
thương mại Việt Nam cần mạnh mẽ thực hiện cải cách, đổi mới theo định hướng phát
triển chiến lược kinh doanh của mình sao cho đủ sức mạnh, năng lực đứng vững khi
có sự cạnh tranh gay gắt từ phía các đ ố i thủ nước ngoài.
tổng số doanh nghiệp trên địa bàn khoảng gần 1.300 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất- kinh doanh: xây dựng, thương mại, công
nghiệp chế biến, chăn nuôi- chế biến nông lâm sản… có nhu cầu rất lớn được vay
vốn ngân hàng để phát triển, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, kinh tế
phát triển, việc làm, thu nhập ổn định đã góp phần nâng cao nhận thức của người
dân, đưa người dân dần tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng mới: vay vốn sản xuấtkinh doanh, vay tiêu dùng để mua sắm trang trải chi phí sinh hoạt cá nhân, gia đình …
Chính vì vậy, đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt của các ngân hàng thương mại
(NHTM) trong nước (NHTM Nhà nước, NHTM Cổ phần), của các ngân hàng nước
ngoài, các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán… và để giải quyết bài
toán lợi nhuận, tìm đầu ra cho đồng vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển đúng
định hướng, một yêu cầu tất yếu đặt ra với Chi nhánh Đông Hà Nội là phải phát triển tín
dụng bán lẻ, một thị trường tiềm năng nhưng chưa thực sự được quan tâm phát triển
đúng mức.
Với vị thế là NHTM lớn, BIDV chủ yếu cho vay đầu tư, xây dựng cơ bản, sản xuất công
nghiệp … lĩnh vực tín dụng bán lẻ chưa thực sự được tập trung khai thác và phát triển.
Thực hiện mục tiêu chiến lược chuyển biến mạnh mẽ hoạt động của BIDV từ một ngân
hàng thương mại truyền thống thành một NHTM hiện đại có hoạt động ngân hàng bán lẻ
hàng đầu Việt Nam, Chi nhánh Đông Hà Nội cũng đặt mục tiêu phát triển trong thời
gian tới, trong đó có chỉ tiêu quan trọng là đẩy mạnh phát triển tín dụng bán lẻ.
Sau thời gian công tác và nghiên cứu thực tế Chi nhánh Đông Hà Nội, em nhận thấy
hoạt động tín dụng bán lẻ của Chi nhánh chưa tương xứng tiềm năng thị trường có thể
khai thác và vị thế, thế mạnh của ngân hàng thương mại hàng đầu khu vực. Vì vậy, em
đã chọn đề tài: “ Giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ.
9
2. Mục đích nghiên cứu của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là: Đưa ra các luận giải về những vấn đề cơ sở lý
5. Kết cấu của Luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hà Nội.
- Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hà Nội.
11
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)
Hoạt động ngân hàng thường được coi là “huyết mạch” của nền kinh tế nên sự thăng
trầm trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kì luôn có
dấu ấn của hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng.
Do đó,“Tín dụng ngân hàng” luôn thu hút sự quan tâm, nghiên cứu trên nhiều khía
cạnh, góc độ khác nhau của các nhà khoa học, các nhà kinh tế và các nhà quản lý.
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài, trong nội dung mục này luận văn sẽ hệ
thống hoá 3 vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng, đó là khái niệm, hoạt động cơ bản của
ngân hàng, phân loại và vai trò của tín dụng ngân hàng.
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại
“Tín dụng” là một phạm trù kinh tế xuất hiện từ lâu và phát triển qua nhiều hình thái
kinh tế- xã hội khác nhau theo hướng ở mỗi hình thái kinh tế xã hội tiên tiến hơn, nhận
thức về tín dụng ngày càng sâu, rộng hơn. Nói cụ thể hơn, tuỳ theo góc độ và thời gian
nghiên cứu, đã có những khái niệm khác nhau về tín dụng như: (1) Ngôn ngữ dân gian
Việt Nam cho rằng, tín dụng biểu hiện một hay nhiều mối quan hệ vay mượn và hoàn
đảm bảo lãi suất thực dương.
1.1.2. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Một là, huy động vốn: Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên
ngoài của các NHTM, bao gồm:
(i) Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút bất cứ lúc nào.
Do tính chất có thể rút bất cứ lúc nào nên dạng tiền gửi này thường chỉ được hưởng lãi
suất rất thấp hoặc không được ngân hàng trả lãi, nhưng đổi lại người gửi tiền được sử
dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Với loại tiền gửi này, người gửi tiền không
nhằm mục đích hưởng lãi mà chủ yếu là nhằm bảo đảm an toàn cho khoản tiền và thực
hiện các hoạt động thanh toán qua ngân hàng. Chính vì vậy mà loại tiền gửi này còn
được gọi là tiền gửi thanh toán.
(ii) Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được rút ra sau một thời
hạn nhất định từ một vài tháng đến vài năm. Mục đích chủ yếu của người gửi tiền có kỳ
hạn là để lấy lãi. Về nguyên tắc, tiền gửi có kỳ hạn không được rút ra trước hạn, song để
cạnh tranh thu hút khách hàng, các ngân hàng vẫn cho phép rút trước hạn. Tuy nhiên,
người gửi tiền rút trước hạn sẽ phải chịu một khoản phạt, chẳng hạn chỉ được hưởng lãi
suất bằng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn.
13
(iii) Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng
nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ.
Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn, là nguồn
vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh. Nó phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để
cho vay.
Hai là, Cho vay: Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức cho vay, chiết khấu, bảo
lãnh và cho thuê tài chính, trong đó hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lời
chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú,
với một số loại hình tín dụng như sau:
thông tin và tư vấn về kinh doanh, đầu tư và quản trị doanh nghiệp. Nhưng hoạt động
này có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng hoạt động, tạo lập nguồn vốn kinh doanh,
nâng cao hiệu quả của việc huy động và sử dụng vốn.
1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng:
a) Vai trò của tín dụng ngân hàng:
Thứ nhất, vai trò kinh tế cơ bản của tín dụng ngân hàng là luân chuyển vốn từ những
người (cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư đến những
người thiếu hụt, như vậy nếu không có ngân hàng thì việc luân chuyển vốn giữa các chủ
thể trong nền kinh tế sẽ ách tắc. Chính vì vậy, kênh chuyển vốn qua ngân hàng có ý
nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tính hiệu quả của nền kinh tế (phát triền ngành nghề,
hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý và hiệu quả).
Thứ hai, tín dụng ngân hàng không chỉ giới hạn trong chức năng truyền thống là luân
chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu mà còn giúp phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính
trong nền kinh tế.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường,
kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nuớc.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp,
nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị xã hội
b) Vai trò, sự cần thiết của việc phát triển tín dụng bán lẻ và đặc điểm của tín dụng
bán lẻ:
Vai trò và sự cần thiết của tín dụng bán lẻ:
- Tạo nền khách hàng rộng khắp và góp phần mang lại lợi nhuận khá lớn và ổn định cho
hoạt động của ngân hàng.
- Quản trị được rủi ro dựa trên nguyên tắc “Không đặt trứng vào một giỏ”.
15
- Khi ngân hàng phục vụ tốt thì sẽ là cơ hội cho việc quảng bá thương hiệu, góp phần
phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng khác như huy động vốn dân cư, mở TK
Sáu là, căn cứ vào đối tượng khách hàng, số lượng và giá trị khoản vay, tín dụng bao
gồm: Tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ. Vấn đề này sẽ được tiếp tục nghiên cứu
trong nội dung sau.
Bảy là, căn cứ vào hình thức, tín dụng có thể phân chia thành những loại như: Cho vay
theo từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng,
cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay theo dự án, cho thuê tài chính, cho
vay đồng tài trợ, bảo lãnh ngân hàng.
1.1.5. Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình tổ chức thích hợp tại ngân
hàng. Trong đó nhiệm vụ của các phòng, ban, bộ phận chức năng được xác định rõ ràng
các công việc liên quan đến hoạt động cho vay từ đó làm cơ sở cho phân công trách
nhiệm ở từng vị trí.
Trên cơ sở quy trình tín dụng, ngân hàng sẽ thiết lập các thủ tục hành chính phù hợp với
những quy định của luật pháp và đảm bảo mục tiêu an toàn trong kinh doanh. Thiết kế
các thủ tục cho vay phải thích ứng với từng nhóm khách hàng, từng loại cho vay cũng
như kỹ thuật tín dụng nhằm cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết nhưng không gây
phiền hà cho khách hàng, cũng như tiết kiệm thời gian cho cả hai bên.
Mỗi loại sản phẩm tín dụng có đặc điểm riêng nên chi tiết để tạo ra những sản phẩm đó
sẽ khác nhau, nhưng tựu trung lại đều được tạo bởi quy trình tổng quát như sau:
Sơ đồ 1.1: QUY TRÌNH TÍN DỤNG TỔNG QUÁT
Giai đoạn 1: Lập hồ sơ cấp tín dụng
Giai đoạn 2: Phân tích tín dụng
Giai đoạn 3: Quyết định tín dụng
Giai đoạn 4: Giải ngân
Giai đoạn 5: Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng
Nội dung chủ yếu của các giai đoạn trên được tiến hành như sau:
17
soát mức độ rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình sử dụng vốn, theo dõi việc thực
hiện các điều khoản đã cam kết.
Qua những nội dung phân tích trên đây cho thấy mỗi giai đoạn trong quy trình tín
dụng đều có tầm quan trọng riêng, không thể bỏ qua hoặc xem nhẹ một giai đoạn nào.
Mặt khác, các giai đoạn của quy trình tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thông
18
thường giai đoạn trước tạo tiền đề cho việc thực hiện giai đoạn sau, ngược lại, giai đoạn
sau sẽ đánh giá, kiểm định kết quả của giai đoạn trước.
1.2. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÍN DỤNG BÁN LẺ
1.2.1. Quan niệm về phát triển tín dụng bán lẻ
Luận văn cho rằng, quan niệm về phát triển tín dụng bán lẻ cần được tổng hợp trên cơ sở
thuật ngữ “phát triển” và quan niệm về “tín dụng bán lẻ”.
Thuật ngữ “phát triển” thường hay được nhắc đến trong đời sống kinh tế-xã hội, chẳng
hạn như phát triển sản xuất-kinh doanh, phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển
kinh tế miền núi, phát triển văn hóa…
Theo ý nghĩa chung nhất, “phát triển” là có sự biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng,
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Nói gọn lại là có sự thay đổi về lượng và
chất. Khi gắn “phát triển” với những cụm từ khác nhau sẽ cho những khái niệm riêng
với nội dung cụ thể.
Như đã phân tích trong mục 1.1.2, nếu căn cứ vào đối tượng khách hàng, số lượng và
giá trị khoản vay, tín dụng ngân hàng gồm có tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ.
Quá trình sản xuất-lưu thông hàng cho thấy, người mua hàng hóa có những mục đích
khác nhau, có những người mua hàng với mục đích tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu cuộc
sống nhưng cũng có những người mua hàng với mục đích kinh doanh, sử dụng số hàng
hóa đó để bán cho người khác để kiếm lời. Thực tiễn cho thấy, người mua hàng hóa với
mục đích tiêu dùng thường mua với số lượng không nhiều, trong khi người mua với mục
đích kinh doanh có số lượng hàng hóa lớn, từ đó thuật ngữ “bán buôn và bán lẻ” xuất
bên cho vay khi đến hạn thanh toán, đồng thời phát triển tín dụng bán lẻ là sự thay đổi
về lượng và chất trong hoạt động tín dụng bán lẻ, tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình
DNNVV”. Do đó, không nắm bắt, hiểu rõ về cá nhân, hộ gia đình, DNNVV sẽ gặp khó
khăn trong hoạt động tín dụng bán lẻ.
Tín dụng cho vay tiêu dùng: luận văn hiểu và cho rằng đây là một bộ phận của tín
dụng bản lẻ. Nó nhằm cung ứng vốn cho cá nhân nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng
ngày và ổn định như mua ô tô, mua nhà, chi tiêu khác.
Cá nhân là tập hợp các cá thể có đủ năng lực hành vi dân sự thep quy định của pháp luật.
Họ trở thành khách hàng của ngân hàng, tham gia vào tín dụng bán lẻ bởi họ có nhu cầu
vay vốn. Các cá thể có cuộc sống và nghề nghiệp riêng, có những đặc điểm và sự khác
nhau về nhiều mặt như: Trình độ văn hóa, chuyên môn, nghề nghiệp, thu nhập, sở
thích… nên có những nhu cầu cụ thể khác nhau về tín dụng bán lẻ.
DNNVV là cơ sở sản xuất-kinh doanh có các tiêu chí về vốn đăng kí, số lượng lao động
và doanh thu theo quy định của pháp luật. Tiêu chí cụ thể có sự khác nhau ở các quốc
20
gia, trong từng thời kỳ nhưng các DNNVV có những đặc điểm chủ yếu là: năng động,
linh hoạt trong kinh doanh theo cơ chế thị trường; nguồn lực tài chính hạn chế nên
thường có nhu cầu bổ sung về vốn trong kinh doanh; quy mô sản xuất- kinh doanh
không lớn, địa bàn hẹp; trình độ ứng dụng khoa học, công nghệ không cao, năng lực
quản trị, điều hành hạn chế; nguồn thông tin không đầy đủ, kịp thời…(Nghị định hiện
hành qua định về doanh nghiệp nhỏ và vừa là: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày
30/6/2009).
Với những đặc điểm cơ bản nêu trên, cá nhân, hộ gia đình và DNNVV là một thị trường
tín dụng bán lẻ đầy tiềm năng, song để khai thác, biến tiềm năng thành hiện thực, điều
quan trọng là các NHTM cần làm tốt công tác tư vấn, nhất là tư vấn về lập dự án,
phương án kinh doanh cho đối tượng khách hàng này.
1.2.2. Đánh giá phát triển tín dụng bán lẻ (TDBL)
Khi TLdn có kết quả dương (+) có thể nói TDBL có sự phát triển và ngược lại, tỷ lệ dư
nợ âm (-) có thể coi TDBL bị suy giảm.
Điều cần chú ý là khi sử dụng những chỉ tiêu trên để đánh giá phát triển TDBL cần kết
hợp với phân tích công tác tổ chức, quản lý khoản vay và thu nợ để tránh kết luận sai
lầm.
Hai là, phát triển TDBL được thể hiện thông qua việc thay đổi tăng thêm về các sản
phẩm và hình thức tín dụng. Cách xác định sự thay đổi vấn đề này khá đơn giản trên cơ
sở so sánh giữa số lượng sản phẩm, hình thức tín dụng đã có trong kỳ thực hiện và kỳ
trước.
Ba là, sự thay đổi tăng lên về số lượng khách hàng và cơ cấu khách hàng của TDBL.
Khi ngân hàng thu hút được khách hàng ngày càng nhiều hơn, danh mục khách hàng
tăng lên (kì thực hiện so với kì trước), tức là đã có sự mở rộng về diện khách hàng và
điều đó thường dẫn đến sự gia tăng về doanh số và dư nợ tín dụng nên đó là minh chứng
cho sự phát triển TDBL.
Cơ cấu khách hàng là tỷ lệ mỗi loại khách hàng trong tổng số khách hàng có quan hệ với
ngân hàng. Khi có sự thay đổi về cơ cấu khách hàng theo chiều hướng tỷ lệ khách hàng
là doanh nghiệp tăng lên thường dẫn đến sự phát triển về tín dụng nói chung và TDBL
nói riêng.
Bốn là, thị phần và mạng lưới cung cấp tín dụng bán lẻ. Hoạt động ngân hàng nói chung,
TDBL nói riêng luôn diễn ra trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Theo đó,
các NHTM luôn quan tâm đến nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đứng vững trên
thương trường. Màng lưới cung cấp tăng lên và hoạt động có hiệu quả, ngân hàng ngày
càng chiếm lĩnh được thị trường, mở rộng thị phần TDBL đó là thể hiện sự phát triển.
Năm là, đem lại lợi nhuận ngày một nhiều hơn cho ngân hàng. NHTM là một doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tề- tín dụng, do đó lợi nhuận là mục
tiêu có ý nghĩa sống còn, đảm bảo sự phát triển của ngân hàng. Vì vậy, phát triển TDBL
không thể chỉ thể hiện ở những khía cạnh đa dạng hóa sản phẩm, tăng dư nợ, số lượng
khách hàng… mà còn cần phải tối đa hóa các khoản thu từ hoạt động này. TDBL không
hệ thống luật pháp. Các doanh nghiệp được coi là những tế bào của nền kinh tế, sự phát
triển của các doanh nghiệp sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế và
sự trì trệ của nó sẽ kéo theo sự suy thoái của nền kinh tế. Ngược lại, nền kinh tế hùng
mạnh sẽ tạo tiền đề cho những bước phát triển mới của các doanh nghiệp. Vì vậy, mỗi
23
khoản TDBL cần phải phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đồng thời
tuân thủ những quy định của Nhà nước cũng như của ngành và của đơn vị.
Thứ ba, phát triển TDBL gắn với đa dạng hóa và tăng tiện ích sản phẩm. Nhu cầu của
khách hàng ngày càng đa dạng và khắt khe hơn nên các ngân hàng cũng phải không
ngừng cải tiến, phát triển dịch vụ cũng như tăng cường cung cấp cho khách hàng những
dịch vụ tốt nhất, đặc biệt xu hướng liên kết những dịch vụ thành gói hàng đa dạng. Bên
cạnh đó, vì nhu cầu phân tán rủi ro, tăng thu nhập nên các ngân hàng cũng tăng cường
mở rộng danh mục dịch vụ NHBL.
Thứ tư, phát triển TDBL phải đảm bảo tính an toàn. Hoạt động kinh doanh tiền tệ là hoạt
động hàm chứa rất nhiều rủi ro, nên để đánh giá sự phát triển của mảng hoạt động nào
đó, người ta luôn quan tâm tới tính an toàn. Tính an toàn trong việc cung cấp các dịch
vụ ngân hàng cá nhân thể hiện ở an toàn ngân quỹ, an toàn tín dụng, bảo mật các thông
tin khách hàng, an toàn trong việc ứng dụng các công nghệ hiện đại. Đặc biệt với sự
phát triển các kênh phân phối hiện đại vấn đề bảo mật càng được đặc biệt quan tâm vì
môi trường mạng luôn tiềm ẩn những rủi ro, có thể bị xâm nhập, phá hỏng dữ liệu…
Các ngân hàng phải tăng cường các biện pháp bảo mật để đảm bảo rằng hệ thống xử lí
của ngân hàng không dễ dàng bị lợi dụng.
An toàn trong hoạt động kinh doanh là vấn đề lớn, được bàn luận trong nhiều đề tài
nghiên cứu. Trong nội dung mục này, luận văn đề cập đến hệ số an toàn trong hoạt động
tín dụng. Cũng như mọi doanh nghiệp, các NHTM có vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu
của một NHTM có ý nghĩa sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường xuyên và
đảm bảo cho ngân hàng khả năng phát triển bền vững. Mặt khác, trong hoạt động kinh
chia thành 2 loại, vốn lưu động và vốn cố định. Thực tiễn cho thấy thường có sự luân
chuyển “lệch pha” về tiền- hàng trong quá trình sản xuất- kinh doanh, dẫn đến nhu cầu
bổ sung vốn lưu động.
Cạnh tranh là điều bình thường trong cơ chế thị trường. Để đứng vững và phát triển
trong thương trường, doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thường xuyên
quan tâm đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị. Vì vậy, nhu cầu về vốn cố định sẽ
nảy sinh và thường là rất lớn. Con đường phổ biến, có nhiều ưu điểm để đáp ứng nhu
cầu vốn này là tìm đến ngân hàng.
Hai là, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh. Kinh doanh trong cơ chế thị trường, năng
lực, trình độ tổ chức, quản lý là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hoặc thất bại
trong sản xuất- kinh doanh. Bộ máy tổ chức cồng kềnh sẽ gây ra sự bất hợp lý, chồng
chéo trong xử lý công việc và những lãng phí về chi phí, dẫn đến hiệu quả kinh doanh
thấp, thậm chí thua lỗ. Ngược lại, khi bộ máy tổ chức gọn nhẹ, các nhân sự trong bộ
máy có trình độ cao, được đào tạo chuyên sâu về kĩ năng, nghiệp vụ chuyên môn sẽ tạo
thuận lợi, thông thoáng trong công việc. Từ đó, sản xuất ngày càng được mở rộng, hiệu
quả cao trong kinh doanh ngày càng cao và điều đó sẽ dẫn đến tăng nhu cầu vốn đồng
25