ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THỊ HUẾ
SỬ DỤNG TƢ LIỆU VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TỔ QUỐC
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THỊ HUẾ
SỬ DỤNG TƢ LIỆU VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TỔ QUỐC
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 01 11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN NINH
HÀ NỘI – 2015
dạy học lịch sử ở trường THPT. ................................................................................15
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển, đảo tổ quốc trong
dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. ........................................................19
1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................23
1.2.1. Thực trạng sử dụng tư liệu về chủ quyền biển, đảo tổ quốc trong dạy học lịch
sử ở trường trung học phổ thông. ..............................................................................23
1.2.2. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết. ................................................................29
CHƢƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƢ LIỆU VỀ
CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. .............................................................32
2.1. Các loại tư liệu chủ yếu về chủ quyền biển đảo tổ quốc có thể khai thác, sử
dụng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. .......................................32
2.2. Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ trong dạy
học lịch sử ở trường trung học phổ thông. ................................................................33
2.2.1. Yêu cầu về tư liệu............................................................................................33
2.2.2. Yêu cầu khi xác định các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ
quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. .......................................34
2.3. Những nội dung lịch sử liên quan, có thể khai thác, sử dụng tư liệu về chủ
quyền biển đảo tổ quốc trong chương trình sách giáo khoa lịch sử trung học phổ
thông. .........................................................................................................................35
ii
2.4. Các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch
sử ở trường THPT. ....................................................................................................43
2.4.1 Các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong giờ học
nội khóa. ....................................................................................................................43
2.4.2. Sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong các hoạt động ngoại
khóa. ..........................................................................................................................59
xu thế hội nhập hiện nay thì việc giáo dục cho thế hệ trẻ thấm nhuần những giá trị
truyền thống, những phẩm chất cao quý tốt đẹp của dân tộc càng trở nên có ý nghĩa
hơn bao giờ hết. Một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt nam mà
thế hệ trẻ cần trân trọng, kế thừa và phát huy đó là truyền thống yêu nước, đánh
giặc, bảo vệ toàn vẹn vùng đất, vùng trời, vùng biển của tổ quốc.
Trong lịch sử chiều dài hàng ngàn năm lịch sử, Việt Nam luôn khẳng định là
một quốc gia biển với quá trình khai phá lãnh thổ, mở mang bờ cõi hướng biển. Việt
Nam có quyền lợi “sống còn” đối với việc khẳng định chủ quyền ở biển Đông. Biển
Đông đóng một vai trò tối quan trọng, là một trong những yếu tố hàng đầu tạo nên
vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên thế giới. Biển Đông không chỉ là lãnh thổ,
chủ quyền quốc gia thiêng liêng của Việt Nam mà còn là nơi có tiềm năng kinh tế
khổng lồ, nhất là dầu khí và nguồn thủy sản, giúp cho Việt Nam có thể khẳng định
được sức mạnh kinh tế của mình ở khu vực. Hơn thế nữa, biển Đông có một vị trí
1
đặc biệt quan trọng đối với việc mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế và an ninh quốc
gia của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển
đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, gần đây nhất là việc Trung Quốc hạ
đặt dàn khoan trái phép, xâm phạm chủ quyền biển đảo của nước ta. Trước những
diễn biến phức tạp của tình hình Biển Đông thì việc tuyên truyền, giáo dục ý thức
về chủ quyền biển đảo tổ quốc cho thế hệ trẻ là một nhiệm vụ cần thiết và mang tính
chiến lược.
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của
Tổ quốc. Trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam là ra sức gìn giữ sự toàn vẹn
phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “Các Vua Hùng đã có công dựng
nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Để học sinh - những chủ nhân tương
lai của đất nước, ý thức sâu sắc trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ chủ quyền
thiêng liêng của tổ quốc nói chung và chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng, thì đòi
chúng tôi chọn vấn đề : Sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy
học lịch sử ở trường trung học phổ thông, làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên
ngành lí luận và phương pháp dạy học bộ môn lịch sử
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dạy học Lịch sử nói chung và dạy học về vấn đề chủ quyền biển, đảo tổ quốc
nói riêng ở trường trung học phổ thông đã và đang được các nhà lý luận dạy học,
các chuyên gia, các nhà sử học, cùng nhiều giáo viên trong và ngoài nước quan tâm
nghiên cứu. Dưới đây là một số tài liệu có liên quan đến đề tài mà chúng tôi tiếp cận
và sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn:
2.1. Các công trình nghiên cứu, bài viết về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.
- Sau khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành trung ương Đảng
(khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 ra đời, Trung tâm thông tin
công tác tư tưởng phối hợp với Cục chính trị Quân chủng Hải quân biên soạn cuốn
“Biển và hải đảo Việt Nam” xuất bản tại Hà Nội, năm 2007. Những nội dung cơ
bản của tài liệu đã làm rõ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước trong việc phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên
từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển. Cuốn sách cũng đề cập
nhiều tư liệu quan trọng của Việt Nam và quốc tế là những chứng cứ khẳng định
chủ quyền biển đảo tổ quốc.
- Các tác giả Nguyễn Nhã- Nguyễn Đình Đầu- Lê Minh Nghĩa- Từ Đặng Minh Thu
- Vũ Quang Việt trong cuốn “ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” do Nhà xuất
bản trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2008 đã khẳng định đanh thép
3
Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam bằng việc đưa ra rất nhiều những dẫn chứng
lịch sử cụ thể về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa.
- Trong “Những điều cần biết về Đất - Biển - Trời Việt Nam” của tác giả Lưu Văn
Lợi (2010) đã khẳng định rằng: Trên chặng đường bốn mươi thế kỉ , dân tộc ta đã
đảo Tổ quốc. Tài liệu cũng đưa ra những cách thức tổ chức hoạt động ngoại khóa
để giáo dục cho học sinh ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc trong nhà trường
phổ thông.
- Vụ giáo dục quốc phòng và chương trình phát triển Giáo dục phổ đã ban hành
cuốn “Tài liệu tập huấn giáo viên cốt cán giáo dục quốc phòng- an ninh” (2012).
Các tác giả đã khẳng định về chủ quyền biển, đảo của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trên cơ sở những văn bản của Đảng, Nhà nước về biển, đảo và các
các chứng cứ lịch sử chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
- Tháng 7/2013, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã giới thiệu tác phẩm “Những
bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa” của tác giả Hãn Nguyên (Nguyễn Nhã). Cuốn sách này gồm có 6 chương. Năm
chương đầu, tác giả tập hợp và nghiên cứu có hệ thống các tư liệu liên quan đến
việc khẳng định chủ quyền của Việt tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Chương cuối đề cập tới vị trí, tầm quan trọng chiến lược của hai quần đảo này đối
với việc phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của đất nước. Nguồn tư liệu mà tác
giả khảo cứu rất đa dạng, phong phú, không chỉ của người Việt Nam mà còn của
người phương Tây, và của chính người Trung Quốc. Cuốn sách này giúp người đọc
hiểu thấu đáo hơn về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa.
- Tháng 5/2014 Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Lễ tiếp nhận và công
bố Bộ Atlas bản đồ thế giới của Philipe Vandemaelen xuất bản năm 1827, có giá trị
quan trọng, khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Trương Minh Tuấn nhấn mạnh:
“Bộ Atlas được nhiều nhà khoa học Pháp và Mỹ khẳng định là bằng chứng không
thể chối cãi về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam”.
- Ở Khánh Hòa, Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh đã cho xuất bản cuốn “Văn hóa biển đảo
Khánh Hòa”(2012). Sách đã tập hợp những bài viết đề cập tới việc bảo tồn, giữ gìn
và phát huy tác dụng những di sản văn hóa liên quan đến quá trình xác lập, thực thi
nhấn mạnh: Với sự công phu, phân tích chính xác những văn bản cổ, bút ký, họa đồ,
hải đồ, cuốn sách của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho công chúng có cái nhìn
chân thực hơn, toàn diện hơn về chủ quyền Tổ quốc. Đây là những bằng chứng mà
các nước phương Tây cũng như chính Trung Hoa ghi nhận về chủ quyền của Việt
Nam đối với Biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa.
- Cuốn “Hoàng Sa, Trường Sa trong thư tịch cổ” do Đinh Kim Phúc chủ biên, do
Nhà bản hội nhà văn phát hành năm 2014 đã công bố nhiều dẫn chứng về chủ quyền
6
Hoàng Sa, Trường Sa trong thư tịch cổ Việt Nam, Trung Quốc, các ghi chép hoặc
bản đồ docá giáo sĩ phương Tây vẽ trên đường truyền giáo ở Trung Quốc. Cuốn
sách cũng gồmnhững bài phản biện lại tài liệu và chứng cứ lịch sử vô căn cứ mà
Trung Quốc đưa ra để tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa của ta.
- Các tác giả Trần Viết Lưu – Đặng Công Minh – Đinh Văn Bắc trong cuốn Giáo
dục chủ quyền biển đảo cho thế hệ trẻ Việt Nam (2014), đã khẳng định sự cần thiết
phải giáo dục chủ quyền biển đảo tổ quốc cho thế hệ trẻ. Các tác giả cũng đã khảo
cứu đưa ra biện pháp giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh trong
một số bài nội khóa liên quan và đề xuất một vài biện pháp tổ chức các hoạt động
ngoại khóa về chủ quyền biển đảo.
Các công cuốn sách, bài nghiên cứu…đề cập đến những khía cạnh khác nhau
về biển đảo tổ quốc, nhưng tất cả đều có chung một mục đích là khẳng định chủ
quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc, khẳng định vấn đề cần thiết phải bảo vệ
chủ quyền biển đảo tổ quốc.
2.2. Các công trình nghiên cứu về giáo dục học và giáo dục lịch sử.
* Tài liệu dịch
- Tiến sĩ N.G. Đai ri với công trình “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” ( 1973),
Nxb Giáo dục, Hà Nội, đã nêu lên những vấn đề quan trọng của việc dạy học bộ
môn.Tác giả chỉ rõ tiến hành một giờ học được tổ chức một cách khoa học và có
+ TS Đặng Thành Hưng trong cuốn “Dạy học hiện đại: lí luận - biện pháp – kĩ
thuật” (Nxb ĐHQG, 2002) đề cập đến nhiều lí luận dạy học hiện đại, đặc biệt là
những lí luận, biện pháp, kĩ thuật phát huy tính tích cực của học sinh. Đây là những
vấn đề lí luận rất quan trọng.
Ngoài ra còn rất nhiều các tài liệu giáo dục của các tác giả trong và ngoài
nước khác. Nguồn tài liệu giáo dục tuy không đề cập trực tiếp đến vấn đề sử dụng
tư liệu biển đảo trong dạy học lịch sử nhưng có vai trò định hướng trong nghiên
cứu, tìm tòi và vận dụng các biện pháp giáo dục tích cực trong dạy học lịch sử nói
chung và dạyhọc về chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng.
- Tài liệu về phương pháp giáo dục lịch sử:
Trước hết phải đề cập đến các cuốn giáo trình như: “Phương pháp dạy học
Lịch sử”, GS. Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (Chủ biên), tập 1, Nhà xuất bản Giáo
dục, năm 1976, tập 2 năm 1980; cuốn “Phương pháp dạy học Lịch sử”, tập 1, 2 do
Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Nhà xuất bản Đại
học sư phạm, (2002), tái bản có sửa chữa bổ sung năm 2009, 2010. Trong các cuốn
giáo trình trên, các tác giả đã đề cập một cách toàn diện các vấn đề về Phương pháp
dạy học Lịch sử ở trường phổ thông. Các cuốn giáo trình đã chỉ rõ ưu thế của bộ
8
môn Lịch sử trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho thế hệ trẻ, nội dung, nguyên
tắc, biện pháp giáo dục. Bên cạnh đó, các tác giả đã có những nhìn nhận và đánh giá
đúng về vai trò, vị trí của các hoạt động nội khóa, ngoại khóa trong dạy học Lịch sử.
Ngoài ra còn phải kể đến các công trình nghiên cứu khác của các tác giả như: “Hệ
thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở” do tác giả Trịnh
Đình Tùng (Chủ biên), (2005); “Một số chuyên đề phương pháp dạy học Lịch sử”,
do GS. Phan Ngọc Liên và một số tác giả khác (Chủ biên), 2002, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia, Hà Nội; “Con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở
trường phổ thông”, của GS. Nguyễn Thị Côi, 2008, Nhà xuất bản Đại học sư phạm,
3. Đối tƣợng nghiên cứu: Quá trình sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc
trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông.
4. Mục đích và nhiệm vụ đề tài
4.1. Mục đích
Đề tài không chỉ nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức về chủ quyền biển đảo tổ
quốc cho học sinh trung học phổ thông nói riêng mà còn góp phần nâng cao chất
lượng bộ môn lịch sử ở trường phổ thông nói chung.
4.2. Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển
đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông.
- Nghiên cứu các biện pháp sư phạm khi sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ
quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông.
- Tiến hành khảo sát thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài
nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vào các biện pháp sử dụng
tư liệu về chủ quyền biển đảo trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông.
5.2. Phạm vi thực nghiệm: Một số trường trung học phổ thông trên địa bàn Hải
Dương.
6. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở phương pháp luận
Dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước về giáo dục và đào
tạo. Dựa trên những thành tựu nghiên cứu mới về lí luận giáo dục, tâm lí học,
phương pháp dạy học lịch sử của các nhà nghiên cứu khoa học, giáo dục lịch sử,
nghiên cứu lịch sử.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
10
luận văn được trình bày trong 2 chương:
11
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển
đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông.
Chương 2: Các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy
học lịch sử ở trường trung học phổ thông.
12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƢ TIỆU VỀ CHỦ
QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC TRONG DẠY HỌCLỊCH SỬ
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ.
- “Tư liệu”: Là những thứ vật chất con người sử dụng trong một lĩnh vực hoạt động
nhất định nào đó, cụ thể như tư liệu sinh hoạt hay tư liệu sản xuất; tư liệu cũng là
những tài liệu sử dụng cho việc học tập, nghiên cứu ( Tư liệu tham khảo, phim tư
liệu…)
- “ Tư liệu về chủ quyền biển đảo”: Là những tài liệu phục vụ cho việc học tập,
nghiên cứu về chủ quyền biển đảo tổ quốc. Những tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ
quốc không chỉ là tư liệu lịch sử mà nó còn là tư liệu của nhiều lĩnh vực, nhiều
ngành liên quan đến biển đảo như tư liệu địa lí, văn học, quốc phòng, tôn giáo, âm
nhạc…..Những tư liệu góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo, khẳng định tầm
quan trọng của biển đảo trong việc phát triển kinh tế- chính trị- xã hội đất nước.
- “ Chủ quyền biển, đảo”: Khái niệm “ chủ quyền biển đảo” nằm trong khái niệm
Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm
bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng
các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.
+ Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền
lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải
lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ
và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng
nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế Việt
Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc
thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên
cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng
đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
+ Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và
lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra
ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa. Nếu nơi nào bờ ngoài của
rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến
14
200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó. Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác,
bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao
gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc
loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam.
+ “Phạm vi nội thủy”: Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 quy
định: “Các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải
Như vậy, bảo vệ “chủ quyền biển đảo tổ quốc” chính là bảo vệ sự toàn vẹn
lịch sử sẽ trang bị cho học sinh những kiến thức chính xác, cụ thể về chủ quyền biển
đảo tổ quốc, qua đó giúp các em nhận thức sâu sắc vai trò, giá trị của biển đảo đối
với nhiệm vụ phát triển đất nước trong lịch sử cũng như trong hiện tại và tương lai.
Nắm vững những kiến thức về chủ quyền biển đảo, là cơ sở để học sinh tự hào về
truyền thống yêu nước, bảo vệ chủ quyền đất nước của nhân dân ta, học sinh ý thức
được trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ sự toàn vẹn các vùng lãnh thổ tổ quốc.
1.1.2.2. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ
thông.
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu
cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự
nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định hướng
cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh
viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực
hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng
trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo,
phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng
là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông. Việc đổi
mới phương pháp dạy học được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm. Điều này được
cụ thể hóa trong điều 28, Luật giáo dục 2005: “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [11, tr 37]
Lịch sử là môn học có vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc giáo dục
truyền thống yêu quê hương đất nước; giáo dục ý thức kế thừa và phát huy truyền
thống tốt đẹp của dân tộc. Tuy nhiên, thực tế những năm qua đã cho thấy: chất
lượng học sinh học sử ngày càng kém, số lượng điểm không, điểm dưới trung bình
môn Lịch sử trong các kì thi ngày càng tăng; tình trạng học sinh nắm kiến thức Lịch
16
bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm
về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị
về con người. Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu
17
cái đẹp, cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến với hưởng
thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiên vẫn có em chưa được giáo
dục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậu như: có
thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém,
thích có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ, sống thụ động…
Nhìn chung, ở tuổi này các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình,
biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng ngày. Các
em có thể hiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự một cách đúng đắn
trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các em lại thiếu tin tưởng
vào những hành vi đó. Vì vậy, giáo viên phải khéo léo, tế nhị khi phê phán những
hình ảnh lý tưởng còn lệch lạc để giúp các em chọn cho mình một hình ảnh lý tưởng
đúng đắn để phấn đấu vươn lên.
- Xu hướng nghề nghiệp:
Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản
thân và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy. Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng
thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các em . Càng cuối cấp học
thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và mang tính ổn định hơn.
Nhiều em biết gắn những đặc điểm riêng về thể chất, về tâm lý và khả năng của
mình với yêu cầu của nghề nghiệp.
- Hoạt động giao tiếp:
Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống và có nhu
cầu sống cuộc sống tự lập. Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành
vi, tự lập về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị. Nhu cầu giao tiếp với bạn bè
trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông.
Sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường
trung học phổ thông là hướng tới những nội dung giáo dục cụ thể:
- Giáo dục học sinh nhận thức vai trò của biển đảo trong lịch sử dựng nước, giữ
nước của dân tộc qua các nguồn tư liệu đa dạng.
Giáo viên cần làm cho học sinh nhận thức được trong quá trình dựng nước và
giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc, biển đảo Việt Nam luôn có vai trò quan
trọng.
Từ khởi nguyên thì yếu tố Sông, Biển đã là một bộ phận hợp thành, góp phần tạo
dựng, định hình bản sắc văn hóa và tư duy người Việt. Ý thức về chủ quyền lãnh
thổ tổ quốc nói chung, chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng đã được hình thành từ
rất sớm.Thực chất của quá trình dựng nước đầu tiên ở nước ta là một quá trình lấn
biển. Tư duy sơ khai về quá trình chinh phục biển của người Việt cổ được thể hiện
19
ở nhiều khía cạnh, từ địa bàn sinh sống, nghề nông, chăn nuôi, đánh cá, đặc điểm
văn hóa- nghệ thuật…Những hình thuyền trên trống đồng Đông Sơn, những ngôi
mộ thuyền được tìm thấy đã thể hiện yếu tố Sông, Biển trong văn hóa người Việt.
Thời kì phong kiến, các triều đình đều chăm lo, quản lí chặt chẽ chủ quyền biển
đảo của tổ quốc. Thời Lý thiết lập các Trang, thời Trần có các Trấn và thời Lê đã
đặt Tuần Kiểm ở các xứ cửa biển, các đồn, các đảo…để quản lí biển, thu thuế tàu
thuyền nước ngoài qua lại giao thương trong vùng biển nước ta. Đến thời các chúa
Nguyễn và triều Nguyễn việc thực thi chủ quyền biển đảo tổ quốc, cụ thể là đối với
các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa càng được thúc đẩy mạnh mẽ, và diễn ra một
cách hòa bình, liên tục. Việc thành lập và biến các đội Hoàng Sa thành một tổ chức
nhà nước từ thời các chúa Nguyễn, và sau này được triều Nguyễn tiếp tục củng cố
là minh chứng cho thấy quyền làm chủ lãnh hải của nước ta được xác định chính
thức.