®¹i häc th¸i
nguyªn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
LÊ THỊ HẢO
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÂY GẤC (MOMORDICA
COCHINCHINENSIS) BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY MÔ
Chuyên ngành : Công nghệ sinh học
Mã số : 60.42.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. Ngô Xuân Bình
Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Danh môc c¸c ký hiÖu, c¸c ch÷ viÕt t¾t
Danh môc c¸c b¶ng
Danh môc c¸c ®å thÞ
MỞ ĐẦU……………………………………………………………........ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU…………………………….…. 4
2.4.2. Thí nghiệm thích ứng cây in vitro ngoài điều kiện tự nhiên…36
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN………… 37
3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng của hóa chất và thời gian khử
trùng đến tỉ lệ sống của mẫu Gấc……………………..……………….. 37
3.1.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của H2O2 đến tỷ lệ sống
của mẫu Gấc................................................................................... 37
3.1.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của HgCl2 đến tỷ lệ sống
của mẫu Gấc..……………………………………………………… 38
3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng của các chất kích thích sinh
trƣởng đến khả năng tái sinh chồi cây Gấc………………………….… 41
3.2.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của Kinetin đến khả năng tái
sinh chồi cây Gấc……..………….………..…………………….… 41
3.2.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến khả năng tái
sinh chồi cây Gấc……………………………………….………… 42
3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng của các chất kích thích sinh
trƣởng đến khả năng nhân nhanh chồi cây Gấc…..…………......…… 43
3.3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của Kinetin đến hiệu
quả nhân chồi…............................................................................... 44
3.3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến hiệu quả nhân
chồi………………………………………………………………… 45
3.3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của sự kết hợp giữa BAP và
Kinetin đến hiệu quả nhân chồi……….…..……………………… 47
3.3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của sự kết hợp giữa BAP và
nước dừa đến hiệu quả nhân chồi…………………………….…… 48
3.3.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của sự kết hợp giữa BAP và
IBA đến hiệu quả nhân chồi…………………………….……….... 49
3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng của các chất kích thích sinh
trƣởng đến khả năng ra rễ chồi Gấc……………………….………… 51
So sánh kết quả nghiên cứu khử trùng 2 loại hoá chất
(Oxy già và HgCl2)
40
Bảng 3.4.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kinetin đến khả
năng tái sinh chồi gấc
41
Bảng 3.5.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến khả năng
tái sinh chồi gấc
42
Bảng 3.6.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ kinetin đến
hiệu quả nhân chồi.
44
Bảng 3.7.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến hiệu quả
51
Bảng 3.12.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của NAA đến hiệu quả
ra rễ
52
Bảng 3.13.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ
sống của cây con trong vườn ươm.
54
DANH MUC CAC HÌNH TRONG LUÂN VĂN
Hình
Tên cac Hình trong luân văn
Trang
Hình 3.1.
Ảnh hưởng của chất khử trùng H2O2 đến tỷ lệ sống
của mẫu gấc
38
Ảnh hưởng của BAP đến hiệu quả nhân chồi cây
gấc
46
Hình 3.7.
Ảnh hưởng của sự kết hợp giữa BAP và Kinetin đến
hiệu quả nhân chồi cây gấc
47
Hình 3.8.
Ảnh hưởng của sự kết hợp giữa BAP và nước dừa
đến hiệu quả nhân chồi cây gấc
49
Hình 3.9.
Ảnh hưởng của sự kết hợp giữa BAP và IBA đến
hiệu quả nhân chồi cây gấc
50
Hình 3.10.
Ảnh hưởng của IBA đến hiệu quả ra rễ cây gấc
Kinetin
furfurylaminopurine
MS
Murashinge and Skoog, 1962
NAA
Naphlene acetic acid
TN
Thí nghiệm
IBA
Indole – 3 – butyric acid
MỞ ĐẦU
Gấc có tên khoa học là Momordica cochinchinensis thuộc bộ Vioales,
họ bầu bí (Cucurbitaceae) [8]. Trong gấc có chứa lycopen và β-caroten với
hàm lượng cao gấp nhiều lần các thực phẩm đang được sử dụng phổ biến trên
thế giới. Quả gấc và hạt gấc chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học có giá
trị, đặc biệt hạt gấc được dùng trong nhiều bài thuốc dân tộc để chữa bệnh [5,
6, 8]. Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây còn cho thấy dầu gấc có khả năng
sửa chữa sai lệch DNA do bị chiếu tia tử ngoại [9], có tác dụng chống phóng
xạ đó là những cơ sở để sử dụng dầu gấc trong việc điều trị bệnh ung thư [5].
êng biêt . Viêc trông
cây gấc bằng phương pháp gieo hạt truyền thống làm giảm hiệu quả sản xuất ,
tôn kem vê công sưc va chi ph í do không thê phân biêt đươc đăc điêm giơi
tính của cây ở giai đoạn đầu trước khi cây ra hoa . Vì vậy, để phát triển vùng
nguyên liêu san xuât gấc, cân thiêt phai tiên hanh cac ky thuât nhân giông vô
tính từ cây cái có năng suất và chất lượng ổn định . Phương pháp này đã và
đang chứng tỏ là một phương pháp có ý nghĩa quan trọng cho công tác giống
cây trồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, chúng tôi tiến hành: “Nghiên
cứu nhân giống cây gấc (Momordica cochinchinensis) bằng phương pháp
nuôi cấy mô”
Mục đích nghiên cứu và nội dung nghiên cứu
1. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng thành công quy trình nhân giống gấc có năng suất cao bằng
phương pháp nuôi cấy mô. Nhờ đó, người ta có thể nhân lên hàng vạn cây cái
và giữ nguyên tính trạng di truyền của cây mẹ. Đồng thời, các nghiên cứu về
nuôi cấy mô sẽ đặt cơ sở cho các nghiên cứu chọn giống gấc có ưu thế lai
cao.
2. Nội dung nghiên cứu
− Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian khử trùng và hoá chất khử trùng
đến tỉ lệ sống của mẫu gấc;
− Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả
năng tái sinh chồi gấc;
− Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả
năng nhân nhanh của chồi gấc;
− Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả
năng ra rễ của chồi gấc;
bảo vệ gen khỏi bị tổn thương và có khả năng hạn chế những biến chứng của
bệnh tiểu đường [9].
Các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận gấc là loại quả sạch, an toàn và có
hiệu quả chống oxy hóa cao hơn cà chua và cà rốt nhiều lần, tăng khả năng
miễn dịch và sức đề kháng cho cơ thể, loại bỏ phần nào tác hại của môi
trường như tia xạ, thuốc trừ sâu... giúp cơ thể khỏe mạnh, da dẻ mịn màng.
Phần ăn được của gấc chứa lượng β-carotene (chiếm gần 1/2 tổng carotenoid
có trong dầu gấc) cao gấp hai lần so với dầu gan cá thu và khoảng 10 lần so
với cà rốt [11]. Đó là nguồn β-carotene thiên nhiên thuần túy nên có tác dụng
chống lão hóa mạnh nhất, đồng thời bổ sung nguồn vitamin A hợp lý và an
toàn. Khi vào cơ thể, β-carotene dưới tác dụng của men carotenase có trong
gan và thành ruột sẽ chuyển hóa thành vitamin A, vì vậy khi sử dụng gấc sẽ
không có hiện tượng thừa vitamin A. Thành phần carotenoid có trong gấc
phụ thuộc rất nhiều vào giống, đất trồng... với hàm lượng dao động 3.7687.516µg/g. Trong quả gấc thì màng hạt là bộ phận có hàm lượng acid béo
cao, bao gồm các acid béo không no là các thành phần được gọi là những
chất béo có lợi vì có tác dụng tốt trên hệ tim mạch thông qua việc giảm huyết
áp, cải thiện cấu trúc mạch vành và giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh lý
tim mạch [11].
1.2. Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây gấc
1.2.1. Phân bố và gieo trồng
Cây gấc được trồng rải rác ở khắp nước ta, ngoài ra còn thấy ở Lào,
Campuchia, các nước phía Nam và Đông Nam Á như Ấn Độ, Thái Lan, nam
Trung Quốc, Nhật Bản [8].
Cây gấc là một loại dây leo, mỗi năm lụi một lần, nhưng lại đâm chồi
từ gốc cũ lên vào mùa xuân năm sau, hoặc thường được gieo trồng vào tháng
2, 3. Đây là loại cây ưa khí hậu ấm áp, độ ẩm không khí cao 60 - 70% và độ
ẩm đất 70 - 80%, nhưng kém chịu rét, chịu được hạn nhưng không chịu được
úng ngập nước. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển trong
cây mang hoa đực, cây mang hoa cái. Đây là cây sống nhiều năm, mỗi năm
lụi một lần nhưng lại đâm chồi từ gốc cũ lên vào mùa xuân năm sau, leo cao
nhờ có tua cuốn mọc từ nách lá. Mỗi gốc có nhiều dây, mỗi dây có nhiều đốt,
mỗi đốt có lá. Lá gấc mọc so le có màu xanh lục đậm, đường kính của phiến
lá 12 đến 20 cm, phía đáy hình trái tim, mặt trên phiến lá sờ ram ráp. Nơi tiếp
giáp cuốn và phiến lá có hai tuyến to gần bằng hạt ngô nổi như hai mắt cua.
Hoa nở vào tháng 4 đến tháng 5. Hoa đực cái riêng biệt, hoa đực có lá
bắc to bao lại như hình tổ sâu, khi nở hoa loe ra hình phễu, màu trắng vàng
mặt trong tràng hoa có lông, 5 nhị. Hoa cái có lá bắc nhỏ, bầu hình thoi rõ từ
khi nụ còn non, có gai nhỏ, cánh hoa ở đầu bầu, phát triển thành quả từ tháng
6.
Quả to hình bầu dục dài từ 15 - 20cm, đuôi nhọn có nhiều gai mềm đỏ
đẹp. Quả non màu xanh, quả chín màu đỏ tươi. Bổ đôi theo chiều ngang thấy
có 6 hàng hạt xếp đều nhau, mỗi hàng có từ 6 đến 10 hạt. Quanh hạt có nhiều
màng màu đỏ tươi. Người ta còn dựa vào độ sai của quả (nhiều hay ít), kích
thước của quả (to hay nhỏ), gai quả (dày hay thưa), màu sắc của ruột quả (đỏ
hay vàng gạch), dầu (ít hay nhiều), số lượng hạt (nhiều hay ít) để phân loại:
gấc tẻ, gấc nếp, gấc đá, gấc chôm chôm hay gấc lai.
Có hai loại được trồng chủ yếu là:
Gấc nếp: Trái to, nhiều hạt, gai to, ít gai, khi chín chuyển sang màu
đỏ cam rất đẹp. Bổ trái ra bên trong cuồi (cơm) vàng tươi, màng đỏ bao bọc
hạt có màu đỏ tươi rất đậm và dày thớ.
Gấc tẻ: Trái nhỏ hoặc trung bình vỏ dày tương đối có ít hạt, gai nhọn,
trái chín bổ ra bên trong cơm có màu vàng nhạt và màng đỏ bao bọc hạt
thường có màu đỏ nhạt hoặc màu hồng không được đỏ tươi như gấc nếp, nên
chọn giống gấc nếp để có trái to nhiều thịt bao quanh và chất lượng cũng tốt
hơn.
Hạt gấc có màng đỏ bao quanh lớp vỏ cứng đen, quanh mép có răng
Đất đai: Gấc không chịu được úng ngập, đọng nước, vì vậy khi trồng
tốt nhất nên làm vồng, ụ hay trồng ở nơi có khả năng tiêu thoát nước tốt. Cây
gấc cần nước nhiều nhất ở giai đoạn ra hoa và phát triển trái. Thiếu nước
trong giai đoạn này sẽ làm hoa rụng, trái phát triển kém, năng suất thấp. Giai
đoạn từ khi mới trồng đến trước khi ra hoa yêu cầu độ ẩm đất đạt 65 - 70%,
độ pH 5,6 - 7,0.
Cao độ: Gấc có thể phân bố ở độ cao từ 0 - 1500m so với mặt nước
biển. Để gấc cho nhiều quả nhất thiết phải làm giàn, càng có điều kiện vươn
xa ánh sáng mặt trời thì gấc càng cho nhiều quả.
Kĩ thuật trồng và thu hoạch: Gấc là loại cây dễ trồng có thể trồng bằng
hạt hay giâm cành vào các tháng 2 - 3. Tuy nhiên, trồng bằng hạt tỷ lệ cây
đực cao hơn cây cái, do đó nên trồng bằng dây. Khi trồng nên kết hợp cả hai
loại để có tỷ lệ hoa đực, hoa cái phù hợp nâng cao tỷ lệ thụ phấn sẽ sai quả.
Trồng 1 năm thu hoạch nhiều năm, mùa thu hoạch quả tháng 8 - 9 đến
tháng 1 - 3 năm sau. Sau đó, cây lụi đi sang xuân lại nẩy chồi mọc cây mới
[17].
1.2.4. Công dụng của cây gấc
Quả chín hái về đem bổ, vét hạt với cả màng đỏ. Nếu để nấu xôi thì
dùng tươi trộn với gạo (có thể thêm ít rượu). Nếu để chế dầu gấc thì phải sấy
hay phơi khô tới khi không còn dính tay, bóc lấy màng đỏ tươi rồi lại phơi
0
o
hay sấy khô ở nhiệt độ thấp (60 C - 70 C). Tán nhỏ màng rồi áp dụng một
trong hai phương pháp sau [8]:
1. Chiết bằng dung môi: Lấy kiệt bằng ete dầu hoả. Sau đó, thu hồi ete
bằng đun cách thủy trong khí Nitơ hay khí carbonic. Cặn còn lại là dầu gấc.
ấm, có độc, dùng chữa các chứng bệnh mụn nhọt độc, tràng nhạt, eczema,
viêm da thần kinh, trĩ, phụ nữ sưng vú. Có thể chế thuốc viên hay tán bột
uống. Liều uống từ 0,8 - 1,2g. Nhưng thường dùng đắp ngoài da đồ mụn
nhọt. Nhân dân ta còn dùng để đắp chữa chai bàn chân.
4. Rễ gấc: Sao vàng, tán mỏng, dùng uống chữa tê thấp sưng chân gọi là
Phòng kỷ nam [13].
5. Lá gấc: Viện Đông y dùng lá gấc với tầm gửi đắp ngoài ra làm thuốc tiêu
sưng tấy [8].
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM VỀ
CÂY GẤC
2.1. Tình hình nghiên cứu về mặt dƣợc lý của cây gấc
Thực tế nghiên cứu khoa học cho thấy, công dụng của gấc với sức
khỏe con người còn hơn thế rất nhiều. Trong trái gấc, dầu gấc là phương
thuốc kỳ diệu. Dầu gấc sánh, trong, màu đỏ tím đậm, mùi thơm vị ngọt, béo.
Dầu gấc có chức năng phòng chống thiếu vitamin, tăng khả năng miễn
dịch, tăng sức đề kháng của cơ thể, chống oxy hoá, chống lão hóa tế bào,
phòng chữa bệnh tật, loại bỏ các tác động có hại của môi trường như hóa chất
độc, tia xạ... giúp cơ thể phát triển khoẻ mạnh, nhất là đối với phụ nữ và trẻ
em [11].
Các nhà khoa học Mỹ sau gần chục năm nghiên cứu cây gấc và sản
phẩm từ gấc đã thừa nhận: Gấc là một loại quả sạch nhất, an toàn nhất và có
hiệu quả chống ôxy hóa cao hơn cà chua và cà rốt rất nhiều lần.
Các hãng dược phẩm lớn của Mỹ gọi trái gấc là fruit from heaven (loại
quả đến từ thiên đường). Một số nghiên cứu của Mỹ được công bố gần đây
cho thấy các hợp chất của β-Caroten, Lycopen, Alphatocopherol,…có trong
dầu gấc có tác dụng làm vô hiệu hóa 75% các chất gây ung thư nói chung,
nhất là ung thư vú ở phụ nữ [15].
Gấc là loại thực phẩm đã được sử dụng lâu đời ở nước ta, nhưng việc
phẩm có chứa β-caroten, vitamin E và vitamin F phục vụ nhu cầu phòng
bệnh và chữa bệnh cho nhân dân ta là một hướng cần được khuyến khích và
đầu tư. Các thuốc này không những sẽ góp phần hạn chế nhập khẩu các thuốc
chống suy dinh dưỡng, phòng chống lão hóa mà còn có khả năng xuất khẩu
sang các nước khác, vì cây gấc là một loại thực vật độc đáo ở nước ta.
Năm 2001, Nguyễn Công Suất và cs là người đầu tiên chiết xuất dầu
gấc trên dây chuyền công nghệ hiện đại để biến gấc thành “cây hàng hóa”.
Ông là người khởi xướng việc sản xuất viên nang dầu gấc với thương hiệu
VINAGA, được thị trường Mỹ và trong nước tin dùng. Viên nang dầu gấc
VINAGA đã có mặt trên thị trường quốc tế và các hiệu thuốc trên toàn quốc,
được thị trường đón nhận và tin dùng bởi hàm lượng β-Caroten của gấc cao
gấp 68 lần cà chua, có tác dụng phòng chống thiếu vitamin, tăng khả năng
miễn dịch, tăng sức đề kháng của cơ thể, chống oxy hóa, chống lão hóa tế
bào, loại bỏ các tác hại của môi trường: hóa chất độc hại, tia xạ, thuốc trừ
sâu,…giúp cơ thể khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, mịn màng. VINAGA rất cần
thiết cho mọi gia đình, nhất là phụ nữ và trẻ em. Thương hiệu gấc Việt Nam
dành cho các bà nội trợ dùng nấu xôi, chế biến các món ăn, dùng thay phẩm
màu trong chế biến thức ăn, cho vào cháo, sữa cho trẻ nhỏ…để phòng chống
suy dinh dưỡng, thiếu vi chất, tăng sức đề kháng cho trẻ em [8].
2.2. Tình hình nghiên cứu về nhân giống cây gấc bằng phƣơng pháp nuôi
cấy mô
Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về nuôi
cây mô tế bào thực vật cây gấc. Năm 1996, tác giả Phan Tuấn Nghĩa và cộng
sự đã hoàn thiện quy trình nhân nhanh cây gấc từ nguyên liệu ban đầu là hạt
gấc bằng phương pháp nuôi cấy mô cho phép sản xuất hàng loạt cây gấc
trong khoảng thời gian 10 đến 12 tuần [7]. Năm 2009, tác giả Lê Văn Hoà và
cs đã thử nghiệm vi nhân giống cây gấc bằng nuôi cấy mô tế bào và đưa ra
được một số môi trường nhân nhanh cơ bản và giá thể thử nghiệm ra vườn
- Năm 1941, Overbeek và cộng sự đã sử dụng nước dừa trong nuôi cấy
phôi non ở cây cà rốt Patura.
- Năm 1955, Miller và cộng sự phát minh ra cấu trúc và sinh tổng hợp
Kinetin là 1 cytokinin đóng vai trò quan trọng trong phân bào và phân hóa
chồi ở mô nuôi cấy.
- Năm 1957, Skoog và Miller tạo ra được chồi từ mảnh mô thân cây
thuốc lá đồng thời khám phá vai trò của tỷ lệ nồng độ các chất
Auxin/Cytokinin, nồng độ auxin/nồng độ cytokinin < 1 có xu hướng tạo ra
chồi. Ngược lại khi nồng độ auxin/nồng độ cytokinin > 1 mô có xu hướng tạo
rễ. Tỷ lệ nồng độ auxin và cytokinin thích hợp sẽ kích thích phân hóa cả chồi
và rễ, tạo cây hoàn chỉnh.
- Năm 1958, Keinert và Sterward tạo được phôi và cây hoàn chỉnh từ
tế bào tượng tầng tách từ cây cà rốt được nuôi cấy một dạng huyền phù.
- Năm 1960, Morel đã thực hiện bước ngoặt cách mạng trong sử dụng
kỹ thuật nuôi cấy đỉnh sinh trưởng trong nhân nhanh các loại địa lan
cymbidim.
- Năm 1960, Cooking lần đầu tiên sử dụng enzym phân giải thành tế
bào và đã tạo ra số lượng lớn tế bào trần ở những cây trồng khác nhau.
- Năm 1966, Guha và cộng sự thành công trong nuôi cấy thể đơn bội ở
cà độc dược từ bao phấn.
- Năm 1967- 1968, Nichkoi Nakato và cộng sự tạo được cây đơn bội từ
bao phấn thuốc lá.
- Năm 1971, Takeb tái sinh thành công cây thuốc lá từ tế bào trần.
- Năm 1972, Carlson và cộng sự lần đầu tiên thực hiện lai tế bào soma
giữa các loài, tạo được cây từ dung hợp tế bào trần của 2 loài thuốc lá
Nicotiana glauca và N. langsdorfi.
- Năm 1977, Chers lai thành công tế bào soma cây cà chua và cây
khoai tây.
Sự phân hoá tế bào là sự chuyển các tế bào phôi sinh thành các tế bào
của mô chuyển hoá, đảm nhận các chức năng khác nhau trong cơ thể. Ví dụ:
Mô dậu làm nhiệm vụ quang hợp, mô bì làm nhiệm vụ bảo vệ, nhu mô làm
nhiệm vụ dự trữ, mô dẫn làm nhiệm vụ vận chuyển nước và chất dinh
dưỡng.
Quá trình phân hoá tế bào được biểu diễn ở sơ đồ sau:
Tế bào phôi sinh
Tế bào giãn
Tế bào chuyên hoá
Mặc dù các tế bào đã chuyển hoá thành các mô chức năng nhưng
chúng vẫn không mất đi khả năng phân chia của mình. Trong điều kiện thích
hợp, các tế bào lại có thể trở về dạng tế bào phôi sinh và phân chia mạnh mẽ.
Quá trình đó được gọi là phản phân hoá tế bào (ngược lại với quá trình phân
hoá tế bào). Sơ đồ hoá như sau:
Phân hoá tế bào
Tế bào phôi sinh
Tế bào giãn
Tế bào chuyên hoá
Phản phân hoá tế bào
Về bản chất sự phân hoá và phản phân hoá là một quá trình hoạt hoá,
Ánh sáng và nhiệt độ là hai yếu tố chính có ảnh hưởng cơ bản đến quá
trình sinh trưởng của mô nuôi cấy.
Ánh sáng:
Sự phát sinh hình thái của mô nuôi cấy chịu ảnh hưởng từ các yếu tố
như: thời gian chiếu sáng, cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng. Thời
gian chiếu sáng tác động đến quá trình phát triển của mô nuôi cấy. Thời gian
chiếu sáng thích hợp với đa số các loài cây là 12 – 18h/ngày. Cường độ ánh
sáng tác động đến sự phát sinh hình thái của mô nuôi cấy.
Theo Ammirato (1986): Cường độ ánh sáng cao kích thích sự sinh
trưởng của mô sẹo, ngược lại, cường độ ánh sáng thấp kích thích sự tạo chồi.
Nhìn chung, cường độ ánh sáng thích hợp cho mô nuôi cấy là 1000 - 7000lux
(Morein, 1974), ngoài ra chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng tới sự phát