Cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở bộ công an - Pdf 35

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, dẫn chứng là trung thực, kết quả
nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án

Hoàng Minh Huệ


ii

LỜI CẢM ƠN
NCS xin bày tỏ lòng biết ơn tới hai Thầy hướng dẫn luận án: Trung
tướng, PGS.TS Phạm Minh Chính, Uỷ viên BCH TW Đảng, nguyên Thứ
trưởng Bộ Công an nay là Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh và Thiếu tướng,
PGS.TS Vũ Thanh Hải, Phó Giám đốc Học viện KTQS đã hết lòng tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ NCS hoàn thành luận án này.
NCS xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thầy Đại tá, PGS.TS Hướng Xuân Thạch,
và các Thầy/Cô Khoa CHTMKT, Học viện KTQS đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho NCS trong học tập cũng như trong nghiên cứu khoa học hoàn thành
luận án.
NCS xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thiếu tướng Tạ Duy Hiền và các đồng
chí Cục Quản lý KHCN&MT là cơ quan tôi đang công tác đã tạo mọi điều
kiện cho tôi về thời gian để học tập và hoàn thành luận án.
NCS xin bày tỏ lòng biết ơn tới Trung tướng, GS.TS Nguyễn Ngọc Thanh;
Trung tướng, PGS.TS Vũ Văn Kiểu; Thiếu tướng, PGS.TS Cao Tiến Hinh;
Thiếu tướng, TS Nghiêm Xuân Dũng; Đại tá, PGS.TS Phạm Huy Dương…
là những người đã luôn dành thời gian quý báu của mình chỉnh sửa cho NCS

Phương hướng nghiên cứu của luận án ............................................ 28

Chƣơng 2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ......... 30

2.1.
2.2.
2.3.

Những vấn đề cơ bản của cải cách hành chính trong quản lý nhà nước
về khoa học và công nghệ ................................................................. 30
Thực trạng chung cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về
khoa học và công nghệ ở nước ta .................................................... 53
Thực trạng cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa
học và công nghệ ở Bộ Công an...................................................... 65

Chƣơng 3. GIẢI PHÁP CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở BỘ CÔNG AN .......... 96

3.1.
3.2.
3.3.

Quan điểm cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa
học và công nghệ ở Bộ Công an...................................................... 96
Mục tiêu cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa
học và công nghệ ở Bộ Công an...... ..............................................101
Giải pháp cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa
học và công nghệ ở Bộ Công an ....................................................103



CSDL

: Cơ sở dữ liệu

KH&CN

: Khoa học và công nghệ

NCS

: Nghiên cứu sinh

QLNN

: Quản lý Nhà nước

* Tiếng Anh:
R&D

: Nghiên cứu và triển khai


v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng

Trang



67

Hình 2.2. Sơ đồ tổ chức các Hội đồng khoa học

67

Hình 3.1. Menu chức năng phần mềm

147

Hình 3.2. Chức năng quản lý thực hiện đề tài

148

Hình 3.3. Chức năng tìm kiếm đề tài

149

Hình 3.4. Chức năng báo cáo đề tài

149

Hình 3.5. Giao diện tổng thể phần mềm

150

Hình 3.6. Thuyết minh đề tài

150

nhấn mạnh nhiệm vụ CCHC. Trong Chiến lược phát triển đất nước đến năm
2020, Đảng ta xác định CCHC là nội dung quan trọng trong cải cách thể chế,
là một trong 3 khâu đột phá chiến lược để phát triển đất nước.
Trong lĩnh vực QLNN về khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta
nói chung và ở Bộ Công an nói riêng, ngoài những kết quả đã đạt được, còn
những tồn tại, bất cập như: khâu lập kế hoạch KH&CN dàn trải, thiếu trọng
tâm, trọng điểm chưa theo kịp nhu cầu nghiên cứu; khâu đánh giá nghiên cứu
khoa học còn chung chung chưa đánh giá được bản chất của kết quả nghiên
cứu; tài chính cho khoa học thì quá phức tạp và không phù hợp với đặc thù
của công tác nghiên cứu; hoạt động thông tin KH&CN còn manh mún, khép
kín; phương thức quản lý KH&CN còn thủ công, đơn sơ, cơ chế “xin - cho”
còn khá nặng nề… Cần thiết phải CCHC trong QLNN về KH&CN ở Bộ
Công an để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động KH&CN. Tuy nhiên,
đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu và
tổng thể về vấn đề này.


2

Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Cải cách hành chính trong quản lý nhà
nước về khoa học và công nghệ ở Bộ Công an” là vấn đề mang tính cấp thiết
có giá trị cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là nghiên cứu lý luận, thực
tiễn và đề xuất giải pháp đồng bộ, khả thi về CCHC trong QLNN về KH&CN
ở Bộ Công an nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN ngành
Công an, trong đó tập trung vào các giải pháp để sử dụng có hiệu quả kinh phí
đầu tư và tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân tham gia công
tác nghiên cứu bằng nguồn ngân sách nhà nước.

Trên cơ sở quán triệt các quan điểm của Đảng, Nhà nước về CCHC nói
chung và CCHC trong QLNN về KH&CN nói riêng; và các quan điểm của
Bộ Công an về CCHC, kế thừa tinh hoa các công trình nghiên cứu có liên
quan, đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích các tài liệu có liên quan đến
luận án từ đó thu thập thông tin, kế thừa kinh nghiệm về quản lý KH&CN của
các quốc gia trên thế giới và của nước ta vận dụng trong ngành Công an.
- Phương pháp điều tra xã hội: thiết kế các mẫu phiếu điều tra và gửi xin
ý kiến tới các chuyên gia, tổ chức có liên quan để thu thập thông tin về thực
trạng và giải pháp CCHC trong QLNN về KH&CN ở Bộ Công an.
- Phương pháp chuyên gia, trong đó kết hợp cả phương pháp phỏng vấn
và phương pháp hội đồng, thông qua các trao đổi bàn tròn giữa nhóm chuyên
gia, kết hợp với phương pháp Delphi với nhóm nhỏ chuyên gia dưới dạng
chính thức và phi chính thức.
Trong các phương pháp, tác giả tận dụng tối đa phương pháp phỏng vấn
và phỏng vấn sâu các chuyên gia thuộc các ngành khác nhau, trong đó rất coi
trọng việc phân tích sâu và không thiên vị các ý kiến đối lập về quan điểm khoa


4

học giữa các chuyên gia; đồng thời kiểm tra các ý kiến đối lập bằng phương
pháp Delphi, từ đó xây dựng nên tư tưởng khoa học của đề tài.
- Phương pháp xử lý thông tin:
+ Dữ liệu định lượng: dùng phương pháp thống kê toán học, phần mềm SPSS.
+ Dữ liệu định tính: sắp xếp, phân loại, tổng hợp theo chương trình
Microsoft Excel...
6. Đóng góp mới của luận án
- Xây dựng khái niệm CCHC trong QLNN về KH&CN ở Bộ Công an
nhằm thống nhất nhận thức trong thực hiện CCHC đối với lĩnh vực này ở Bộ

tác quản lý KH&CN thông qua giới thiệu phần mềm quản lý nhiệm vụ
KH&CN trong CAND nhằm hiện đại hóa công tác quản lý.
7. Cấu trúc và nội dung luận án
Gồm phần mở đầu, 4 chương nội dung, kết luận, kiến nghị, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục. Cụ thể, bốn chương nội dung của luận án là:
Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nêu tổng quan khoa học của vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước có
liên quan, từ đó rút ra những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu.
Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn cải cách hành chính trong quản
lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ ở Bộ Công an
Chương này tập trung phân tích và làm rõ các cơ sở lý luận của đề tài,
bao gồm các khái niệm công cụ và các vấn đề có liên quan đến đối tượng và
nội dung CCHC trong QLNN về KH&CN...
Đánh giá thực trạng CCHC trong QLNN về KH&CN nói chung và ở
Bộ Công an nói riêng; phân tích những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong
quá trình thực hiện. Từ đó làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp
CCHC trong QLNN về KH&CN ở chương 3.
Chương 3. Giải pháp cải cách hành chính trong quản lý nhà nƣớc về
khoa học và công nghệ ở Bộ Công an


6

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, chương này tập trung đề xuất và phân
tích làm rõ các giải pháp CCHC trong QLNN về KH&CN ở Bộ Công an.
Chƣơng 4. Kiểm tra kết quả nghiên cứu và bàn luận
Trình bày các phương pháp kiểm tra để khẳng định tính đúng đắn của
kết quả nghiên cứu, và bàn luận về một số vấn đề có liên quan.





8

nguồn lực và quản lý hoạt động KH&CN, các bộ ngành chỉ phụ trách việc
thực thi những chính sách đã ban hành hoặc những hạng mục nghiên cứu đã
được duyệt từ một cơ quan trung ương. Việc bố trí các hạng mục cho các đơn
vị R&D thực hiện trong khuôn khổ kế hoạch nhà nước; các hạng mục ưu tiên
nghiên cứu, triển khai của các cơ quan đều phải thống nhất với mục tiêu kế
hoạch 5 năm của Nhà nước.
Biểu hiện chủ yếu của đặc điểm quản lý KH&CN loại tập trung cao
độ, kiểu của Liên Xô, là:
- Có cơ cấu chuyên trách quản lý KH&CN cấp Nhà nước để soạn thảo
chính sách và điều hành hoạt động KH&CN trong phạm vi cả nước;
- Quy hoạch và kế hoạch phát triển KH&CN của Nhà nước mang tính
pháp lệnh là căn cứ chủ yếu để các cơ quan KH&CN trong toàn quốc sắp xếp
và triển khai công việc;
- Nguồn kinh phí KH&CN chủ yếu là ngân sách dự toán Nhà nước, vốn
phát triển KH&CN và vốn vay ngân hàng của cơ quan và xí nghiệp. Nguồn
ngân sách dự toán nhà nước chủ yếu dùng cho nghiên cứu cơ bản và các hạng
mục nghiên cứu liên ngành quan trọng ở tầm quốc gia.
Quản lý KH&CN chủ yếu tiến hành theo quan hệ trực thuộc hành
chính. Các cơ quan nghiên cứu khoa học và các xí nghiệp đều có cơ quan chủ
quản cấp trên của mình, điều này dẫn đến sự tách biệt nghiêm trọng giữa
nghiên cứu khoa học và sản xuất, việc hình thành các quan hệ theo chiều
ngang thường gặp nhiều khó khăn.
Lợi thế của mô hình quản lý KH&CN tập trung là ở chỗ: Những chính
sách KH&CN của Chính phủ được đảm bảo điều phối thống nhất, dễ dàng,
trong việc xác định mục tiêu, điều động mọi nguồn lực để giải quyết những vấn
đề KH &CN then chốt mang tính toàn cục. Việc hoạch định và xác định kinh

điều hoà.
- Các Bộ trong Chính phủ có chế độ quản lý, lập kế hoạch dài hạn,
trung hạn và ngắn hạn, thường có sự quản lý riêng tương ứng đối với nghiên
cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai.


10

- Công ty công nghiệp tư nhân là người đảm trách chính công tác
nghiên cứu triển khai. Đầu tư cơ bản cho nghiên cứu khoa học của các doanh
nghiệp thường chiếm một nửa tổng ngạch đầu tư cho nghiên cứu khoa học
toàn quốc, còn kinh phí nghiên cứu khoa học được sử dụng chiếm khoảng
70% tổng kinh phí toàn quốc.
Sự phân tán đa nguyên của thể chế KH&CN của Mỹ, chủ yếu được biểu
hiện ở chỗ không có quan hệ trực thuộc hành chính theo thứ bậc rõ ràng. Ưu
tiên của thể chế này là các cơ quan có thể hình thành phương thức quản lý và
chính sách KH&CN với đặc thù riêng của mình, lợi dụng cơ chế thị trường
để thúc đẩy ứng dụng các thành tựu của nghiên cứu khoa học.
Một số quốc gia như Anh, Thuỵ Điển, Đan Mạch, v.v. cũng không có cơ
quan quản lý thống nhất KH&CN cấp Nhà nước.
1.1.3 Mô hình quản lý khoa học và công nghệ tập trung điều tiết hài hoà
Mô hình KH&CN tập trung điều tiết hài hoà là loại thể chế kết hợp
giữa tập trung và phân tán, đa số các nước công nghiệp phát triển thuộc loại
này trong đó điển hình nhất là Pháp và Nhật Bản.
Thể chế tập trung của nước Pháp biểu hiện ở chỗ nhà nước lập kế
hoạch nghiên cứu và phát triển KH&CN mang tính chất toàn quốc, kế hoạch
ấy thích hợp với phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường năng lực cạnh tranh.
Ngoài ra, còn soạn thảo và ban hành pháp luật KH&CN. Những văn kiện
mang tính cương lĩnh chỉ đạo hoạt động KH&CN toàn quốc này là các hình
thức pháp quy, quy định một loạt phương châm, chính sách quan trọng như

vận dụng CCHC hệ thống quản lý KH&CN nước ta nói chung và ở Bộ Công
an nói riêng trong điều kiện chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ huy tập trung sang
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, cụ thể
như sau:
- Nhìn tổng quát, xu thế CCHC trong QLNN về KH&CN của các nước

trên thế giới hiện nay là không ngừng hoàn thiện cơ chế ra quyết định về
chiến lược và chính sách phát triển KH&CN, điều chỉnh chức năng cơ quan
QLNN về KH&CN ở cấp vĩ mô, nâng cao quyền tự chủ hoạt động KH&CN


12

của cơ sở nghiên cứu - triển khai và quyền tự chủ đổi mới công nghệ của các
doanh nghiệp. Các quốc gia thực hiện thể chế tập trung cao độ đang giảm dần
quyền lực, dựa vào cơ chế cạnh tranh; các quốc gia ở loại đa nguyên phân tán
thì mong muốn nâng cao mức độ quản lý tập trung của Nhà nước, mở rộng
phạm vi chi phối của Nhà nước. Như vậy, có thể thấy, các quốc gia trên thế
giới dù đang theo mô hình nào, cũng luôn có xu hướng cải cách để hoàn
thiện cơ chế quản lý KH&CN, tạo môi trường thông thoáng cho KH&CN
phát triển.
- Vấn đề trung tâm của cải cách và điều chỉnh là gia tăng tốc độ thương

mại hoá các thành quả KH&CN, xúc tiến sự kết hợp có hiệu quả của
KH&CN với kinh tế, tăng cường cạnh tranh quốc tế. Trọng điểm là tăng
cường khả năng nghiên cứu - triển khai của các doanh nghiệp, đặc biệt là xí
nghiệp loại vừa và nhỏ. Trên thực tế, việc thành lập của các tổ chức liên kết
giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, việc tổ chức xây dựng các trung tâm
khoa học, công viên khoa học, khu công nghệ cao, đều được tiến hành xoay
quanh vấn đề trung tâm này.

Thứ hai, quản lý KH&CN chịu ảnh hưởng của nguồn lực, trình độ phát
triển kinh tế và chiến lược phát triển quốc gia.
Thứ ba, mô hình quản lý KH&CN, là sản phẩm lịch sử của mỗi nước,
bất luận là thể chế đa nguyên hoá của Mỹ, hay thể chế tập trung hoá của Liên
Xô đều không thể một sớm một chiều sinh ra được mà thực chất là một quá
trình cải cách liên tục phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan.
Cải cách quản lý Nhà nước về KH&CN là một quá trình thường xuyên,
lâu dài, cố gắng không mệt mỏi để xây dựng và điều chỉnh thể chế quản lý nhà
nước về KH&CN và tổ chức quản lý phù hợp với tình hình thực tế của Việt
Nam trong những điều kiện mới. Do đó, những khuynh hướng giản đơn hoá quá
trình cải cách này bằng cách sao chép, áp dụng một cách máy móc mô hình cải
cách quản lý KH&CN của một quốc gia nào đó hoặc xây dựng một mô hình
quản lý hoàn toàn mang tính chủ quan, duy ý chí đều là không thích hợp và
không thể có được một hệ thống quản lý KH&CN có hiệu quả.


14

1.2. Tổng quan cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà
nƣớc về khoa học và công nghệ ở nƣớc ta nói chung và ở Bộ Công an
1.2.1. Tổng quan cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về khoa học và công nghệ ở tầm quốc gia
Qua gần 30 năm đổi mới, CCHC về quản lý KH&CN ở nước ta đã có
những chuyển biến tích cực. Nhìn lại tiến trình CCHC trong quản lý KH&CN
ở tầm quốc gia, có thể thấy các kết quả quan trọng là:
(1) Ban hành Luật khoa học và công nghệ và các luật có liên quan đến
khoa học và công nghệ
Cho đến nay, thành tựu nổi bật nhất trong lĩnh vực QLNN về KH&N ở
Việt Nam đó là việc đã xây dựng được một hệ thống pháp luật khá cơ bản về
KH&CN, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển hoạt động KH&CN.

KH&CN được đổi mới theo hướng nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của tổ chức KH&CN và thực hiện xã hội hoá nhằm huy động các
nguồn lực cho công tác nghiên cứu và ứng dụng KH&CN. Bộ KH&CN đã
xây dựng trình Chính phủ ban hành hoặc trực tiếp ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật thể hiện tinh thần đổi mới mạnh mẽ và toàn diện cơ chế
quản lý và tổ chức hoạt động KH&CN. Những quan điểm lớn của Đảng và
Nhà nước về đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN đã được từng bước
thể hiện trong thực tế.
Nghị định 115/2005/NĐ-CP được ban hành, đưa đến những cải cách triệt
để hơn trong cơ chế quản lý KH&CN. Nhà nước chủ trương áp dụng cơ chế
quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động KH&CN, chuyển từ quản
lý khoa học theo đầu người sang quản lý theo đầu việc, nhằm kích thích sáng
tạo khoa học. Theo Nghị định này [23], các tổ chức KH&CN công lập được
phân thành hai nhóm. Thứ nhất, là nhóm các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực
chính sách công và khoa học thuần tuý sẽ được cung cấp tài chính từ ngân
sách nhà nước bảo đảm các hoạt động hiện tại của họ. Nhưng các tổ chức này




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status