luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông theo hướng chuẩn hóa - Pdf 35

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BDTX

: Bồi dưỡng thường xuyên

CBGV

: Cán bộ giáo viên

CBQL

: Cán bộ quản lý

CNTT

: Công nghệ thông tin

CNH – HĐH

: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

CSVC

: Cơ sở vật chất

ĐH – CĐ


HSG

: Học sinh giỏi

HTGDQD

: Hệ thống giáo dục quốc dân

NNGVTH

: Nghề nghiệp giáo viên trung học

OECD

: Tổ chức Hợp tác phát triển Châu Âu

PHHS

: Phụ huynh học sinh

QLGD

: Quản lý giáo dục

TB

: Trung bình

THCS




DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

iv


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết TW 2 của Hội nghị BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII
đã khẳng định: “Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh mẽ giáo
dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển bền
vững”.
Trên thực tế Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến vai trò của giáo dục và
coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để phát triển con người,
là nhân tố quyết định để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế đất nước.
Theo nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 2 khẳng định: “Giáo
viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đã được xã hội tôn vinh”. Chỉ thị
40 – CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng, nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010
trong mục tiêu tổng quát đã nêu: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay
nghề của nhà giáo…đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Giáo dục phổ thông là bậc học có vị trí then chốt trong hệ thống giáo dục quốc
dân, là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông “nhằm giúp học sinh củng cố và
phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ
thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều
kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học,

THPT Trần Nhân Tông chưa đồng bộ, còn một số giáo viên chưa đạt chuẩn nghề
nghiệp, một số giáo viên còn chậm đổi mới phương pháp, chưa tích cực tiếp cận các
công nghệ, quy trình dạy học hiện đại. Công tác đánh giá, phân loại đội ngũ chưa
thực sự khoa học đôi lúc còn cả nể mang nặng cảm tính. Vì vậy, vận dụng chuẩn
nghề nghiệp trong quản lý đội ngũ giáo viên vừa là yêu cầu, vừa là biện pháp quan
trọng trong việc chuẩn hóa, nâng cao năng lực đội ngũ của nhà trường.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn và nghiên cứu vấn đề “Quản lý
đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông Trần Nhân Tông – Hà Nội theo
hướng chuẩn hóa”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp Quản lý đội ngũ
giáo viên trường THPT Trần Nhân Tông – Hà Nội theo hướng Chuẩn hóa.

2


3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ giáo viên trường THPT Trần Nhân Tông –
Hà Nội.
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông
Trần Nhân Tông – Hà Nội theo hướng Chuẩn hóa.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên và thực trạng quản lý đội ngũ
giáo viên trường THPT Trần Nhân Tông – Hà Nội theo hướng Chuẩn hóa đã được
Bộ GD & ĐT ban hành.
Đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT Trần
Nhân Tông – Hà Nội theo hướng Chuẩn hóa.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Đội ngũ giáo viên THPT Trần Nhân Tông đã có những bước phát triển mạnh về

+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia và cán bộ quản lý giáo dục. Xin ý kiến đóng
góp của các chuyên gia và cán bộ quản lý để đề tài được thực hiện có tính khả thi.
+ Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 nội dung sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên trung học phổ thông theo
hướng Chuẩn hóa
Chương 2: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT Trần Nhân Tông
– Hà Nội theo hướng Chuẩn hóa
Chương 3: Một số biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT Trần Nhân
Tông – Hà Nội theo hướng Chuẩn hóa

4


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý đội ngũ giáo viên Trung
học phổ thông
1.1.1. Nghiên cứu nước ngoài
Quản lý nhằm phát triển ĐNGV đã có nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập như:
Theo Hanry Koontz, một nhà quản lý người Mỹ; ông cho rằng “Quản lý là một
hoạt động thiết yếu nó đảm bảo những nỗ lực nhằm phối hợp cá nhân nhằm đạt
được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường
mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật
chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật còn
với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [ 25, tr. 33 ]
Khi đề cập đến phát triển ĐNGV, một số nghiên cứu gần đây đề cao việc thúc

giả đã đưa ra những yêu cầu chung về xây dựng phát triển ĐNGV trong một nhà
trường phải chú ý đến các yêu cầu: đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng và đồng
bộ về cơ cấu. Tác giả phân tích các chức năng quản lý trong phát triển ĐNGV từ
việc lập kế hoạch – tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra phải đảm bảo các vấn đề về số
lượng, chất lượng và cơ cấu. Chính việc quan tâm 3 vấn đề: số lượng, chất lượng và
cơ cấu của ĐNGV trong một nhà trường là điều kiện cần cho sự phát triển và cần
chú ý đến tính đồng thuận của ĐNGV mới để tạo điều kiện đủ cho sự phát triển bền
vững của đất nước. Các tác giả đã phân tích sâu nội dung về chất lượng và chất
lượng giáo dục. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu trong thực tiễn quản lý ĐNGV
trung học phổ thông hiện nay.
Nguyễn Sĩ Thư đã đề cập đến chất lượng ĐNGV là tổng hòa những thuộc tính,
những giá trị tạo nên ĐNGV. Những thuộc tính này gắn bó với nhau trong một
chỉnh thể thống nhất tạo nên giá trị và sự tồn tại của đội ngũ làm cho giáo viên thực
hiện được sứ mệnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của mình.
Lê Khánh Tuấn trong các giải pháp phát triển ĐNGV trung học cơ sở trong giai
đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả đã xác định giáo viên là yếu tố

6


cơ bản, là “tế bào” của đội ngũ. Tác giả đặt ra yêu cầu đối với người giáo viên là
phải được Chuẩn hóa, hiện đại hóa để đạt các tiêu chuẩn về cá nhân. Trong phát
triển đội ngũ phải đảm bảo tính xã hội hóa là cần có sự tham gia của các lực lượng
xã hội vào công tác bồi dưỡng, đào tạo giáo viên; đồng thời phải đảm bảo tính dân
chủ hóa để phát huy trí tuệ của mỗi cá nhân trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự tu
dưỡng để phát triển cá nhận.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
Từ khi xuất hiện xã hội loài người, trước nhu cầu sinh tồn và phát triển, con
người đã biết quy tụ thành bầy, thành nhóm. Từ lao động đơn lẻ đến lao động phối

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật
ngữ quản lý, tùy theo các cách tiếp cận khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất
về quản lý là: “Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo), và kiểm tra” [ 11, tr. 9 ]
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột
tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích
hợp vào nhau, gắn kết với nhau. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì
hệ ở trạng thái “ổn định” ; quá trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa
hệ vào thế “phát triển”. Quản lý là ổn định và phát triển hệ thống. Người quản lý
phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong
“Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống quản lý luôn được ở trạng
thái “cân bằng động”.
Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô tả như một quá trình tác động có định
hướng của chủ thể quản lý lên khách thể, đối tượng quản lý để triển khai các chức
năng nhiệm vụ của tổ chức và đạt được mục tiêu đề ra.
Trong đó:
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các
quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người khác nhau; là các nhiệm vụ
cần giải quyết để tổ chức thực hiện sứ mạng của mình…

8


Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể
quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ…
Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể do
nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Quản lý có bốn chức năng chính, các chức năng của hoạt động quản lý được thực

đưa hoạt động của mỗi cơ sở giáo dục, cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới
mục tiêu xác định. Đó là những tác động phù hợp quy luật khách quan, hướng tới
việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Bản chất của quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của chủ thể
quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện
hiệu quả mục tiêu giáo dục.
Mục tiêu của quản lý giáo dục chính là trạng thái mong muốn trong tương lai
đối với hệ thống giáo dục, đối với trường học, hoặc đối với những thông số chủ yếu
của hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường. Những thông số này được xác định
trên cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế - xã hội trong
từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. Mục tiêu này gồm: Đảm bảo quyền
học sinh vào các ngành học, cấp học, các lớp học đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn. Đảm
bảo chỉ tiêu và chất lượng đạt hiệu quả đào tạo, phát triển tập thể sư phạm đồng bộ,
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đời sống vật chất. Xây dựng và hoàn
thiện các tổ chức chính quyền, Đảng, đoàn thể, quần chúng để thực hiện tốt nhiệm
vụ giáo dục và đào tạo.
Đối tượng của quản lý giáo dục là hoạt động của cán bộ, giáo viên, học sinh và
tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch và chương trình GD
& ĐT nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã quy định với chất lượng cao.
Quản lý giáo dục là quá trình tổ chức, điều chỉnh sự vận hành của các yếu tố cơ
bản như: đường lối, chiến lược và chính sách giáo dục của đất nước; cán bộ quản lý
giáo dục; giáo viên, trẻ em, gia đình, đoàn thể và xã hội; CSVC nhà trường; nội
dung, phương pháp giáo dục; hình thức tổ chức giáo dục; kết quả giáo dục.
1.2.3. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của người Hiệu trưởng
đến tập thể CBGV, người học nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu kế hoạch giáo

10





- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học;
- Quản lý tài chính trường học;
- Quản lý mối quan hệ giữa con người và cộng đồng.
Tận dụng các nguồn lực đầu tư cũng như các lực lượng xã hội đóng góp, xây
dựng hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường đạt được mục tiêu,
kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường đến một trạng thái mới.
1.2.4. Giáo viên
* Giáo viên: Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên.
* Giáo viên trường trung học:
Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong
nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm
công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý
thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong
Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên
làm công tác tư vấn cho học sinh.
Trình độ đạt chuẩn của giáo viên trường THPT: có bằng tốt nghiệp ĐHSP
hoặc có bằng tốt nghiệp Đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm.
1.2.5. Đội ngũ giáo viên
Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: ‘‘Đội ngũ là một tập hợp một số đông
người cùng chức năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực
lượng’’.
Có tác giả thì quan niệm như sau: “Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là
một tập thể người, bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên; nếu đề cập
đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là một đội ngũ giáo viên và đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục”.
Căn cứ vào đó có thể hiểu ĐNGV như sau: ĐNGV là một tập hợp những


theo quy định.
Quản lý ĐNGV phải tạo ra một môi trường liên nhân cách để phát triển mọi

13


nhân cách: nhân cách giáo viên, nhân cách học sinh và nhân cách nhà quản lý. Từ
môi trường liên nhân cách này, con người có khả năng tự giáo dục.
Quản lý ĐNGV phải chú trọng đến việc xây dựng tập thể giáo viên nhà trường
trở thành tổ chức biết học hỏi. Thông qua hoạt động học tập của từng cá nhân trong
tổ chức sẽ thúc đẩy tổ chức luôn phát triển.
1.2.7. Chuẩn hóa và chuẩn hóa ĐNGV Trung học phổ thông
* Chuẩn hóa
Chuẩn hóa là những quá trình làm cho các sự vật, đối tượng thuộc phạm trù
nhất định (kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, giáo dục, y tế, thể thao …) đáp ứng được
các chuẩn đã ban hành trong phạm vi áp dụng và hiệu lực của các chuẩn đó
Chuẩn hóa trong giáo dục là những quá trình cần thiết làm cho sự vật, đối
tượng trong lĩnh vực giáo dục đáp ứng được các chuẩn đã ban hành và áp dụng
chính thức cho giáo dục để tạo thuận lợi hơn cho tiến bộ và phát triển giáo dục.
Chuẩn hóa trong giáo dục cũng có những chức năng cơ bản là định hướng quản lý
giáo dục, quy cách hóa các sản phẩm, nguồn lực, phương tiện, hoạt động giáo dục,
tạo môi trường chính thức cho sự phát triển giáo dục.
* Chuẩn hóa giáo viên Trung học
Chuẩn hóa giáo viên Trung học gắn với các tiêu chuẩn đã được ban hành như:
+ Chuẩn hoá về “Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống”
Như phần trên đã trình bày, chuẩn hóa là quá trình làm cho giáo viên đáp ứng
được các chuẩn đã ban hành. Vì vậy, chuẩn hóa về phẩm chất chính trị đạo đức,
lối sống thực chất là hiện thực hoá được các nội dung và yêu cầu về phẩm chất,
đạo đức, lối sống đối với mỗi giáo viên đang hoạt động nghề nghiệp ở nhà trường
phổ thông.

đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân gồm: (a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và
mẫu giáo; (b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;
(c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; (d) Giáo dục đại

15


học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao
đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sỹ, trình độ tiên sỹ.
Cơ sở giáo dục là nơi diễn ra các hoạt động giáo dục theo các hình thức chính
quy hoặc không chính quy. Cơ sở giáo dục là đơn vị của HTGDQD Việt Nam.
Trường học là đơn vị chính của cơ sở giáo dục. Các cơ sở giáo dục hướng tới các
mục tiêu giáo dục khác nhau, bởi vậy, các cơ sở giáo dục có thể được tổ chức khác
nhau sao cho phù hợp với mục tiêu giáo dục riêng của mình.
Giáo dục THPT là một bậc học trong Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam,
Luật Giáo dục 2005 và sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009 ghi rõ: “Giáo dục
trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của
giáo dục trung học cơ sở hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông
thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân lựa
chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi
vào cuộc sống lao động”.
Hiện nay giáo dục THPT được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp
mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có
tuổi là mười lăm tuổi.
1.3.2. Giáo dục Trung học phổ thông với yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên
1.3.2.1. Vị trí, vai trò, nội dung và phương pháp giáo dục cấp Trung học phổ thông
a. Vị trí, vai trò và mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông
Giáo dục phổ thông là bậc học có vị trí then chốt trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Mục tiêu của giáo dục phổ thông “là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,

Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho học sinh.
1.3.2.2. Giáo viên Trung học phổ thông
a. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của giáo viên Trung học phổ thông

17


- Cũng như giáo viên các cấp học, ngành học khác, giáo viên THPT có vai
trò quyết định chất lượng giáo dục đồng thời quyết định sự thành bại của sự
nghiệp giáo dục và đào tạo.
Giáo viên THPT vừa là người chuyển giao kiến thức và bồi dưỡng nhân cách
cho học sinh để học sinh hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông
thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để
lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học
nghề… vừa chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động.
- Để nâng cao chất lượng giáo dục, giáo viên THPT không chỉ đóng vai trò là
người truyền đạt tri thức mà phải là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố
vấn, trọng tài cho các hoạt động học tập tìm tòi, khám phá, giúp học sinh tự lực
chiếm lĩnh kiến thức mới và tạo cho họ năng lực đi vào cuộc sống của bản thân sau
khi hoàn thành chương trình phổ thông. Trong bối cảnh kỹ thuật công nghệ phát
triển nhanh tạo ra sự chuyển dịch định hướng giá trị, giáo viên trước hết phải là nhà
giáo dục có năng lực phát triển ở học sinh về cảm xúc, thái độ, hành vi bảo đảm
người học làm chủ được và biết ứng dụng hợp lý tri thức học được vào cuộc sống
bản thân, gia đình, cộng đồng. Bằng chính nhân cách của mình, giáo viên tác động
tích cực đến sự hình thành nhân cách của học sinh. Bởi vậy, cũng như giáo viên các
cấp học khác, giáo viên THPT phải là một công dân gương mẫu, có ý thức trách

số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ. Cụ thể:
Việc có thêm các môn học mới: Tin học, GDQP – AN, Tự chọn, hoạt động GD
hướng nghiệp, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp,... làm xuất hiện nhu cầu gi á o
vi ê n các bộ môn trên, do đó đòi hỏi phải đủ số lượng và cơ cấu bộ môn ở nhà
trường; hạn chế việc phân công bố trí không phù hợp với chuyên môn
Việc thay đổi mục tiêu, nội dung, chương trình và sách giáo khoa mới, thay đổi
phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá sẽ liên quan đến công tác bồi dưỡng
ĐNGV, điều này đặt ra yêu cầu cho chất lượng đội ngũ.
1.3.3.2. Phát triển quy mô giáo dục, mạng lưới trường lớp
Tình hình phát triển trường, lớp qua từng năm, từng cấp học, bậc học.
Tình hình HS đến lớp, lưu ban, bỏ học qua từng năm, từng cấp học, bậc học.

19


Chủ trương phát triển giáo dục phổ thông và phổ cập bậc THPT sẽ đòi hỏi phải
phát triển quy mô trường lớp của các trường.
Việc phát triển quy mô trường lớp sẽ liên quan đến công tác tuyển chọn, bố trí,
sử dụng và bồi dưỡng,...sẽ đặt ra yêu cầu về cả số lượng, chất lượng ĐNGV của
các trường THPT.
1.3.3.3. Điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục
Yếu tố về tài chính, cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy học,…
của nhà trường liên quan đến phát triển quy mô trường lớp, đòi hỏi phải quản lý
ĐNGV trên tất cả các mặt, đặc biệt là trong việc: tuyển chọn; sử dụng; bồi dưỡng
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho ĐNGV.
1.3.3.4. Về chính sách, quản lý
Yếu tố về chính sách ảnh hưởng rất lớn đến ĐNGV trên tất cả các mặt số
lượng, cơ cấu và chất lượng. Cụ thể:
Việc thay đổi các chính sách đãi ngộ đối với g i á o v i ê n như: phụ cấp
thâm niên cho giáo viên, chính sách ưu đãi vùng miền.

số lớp trong nhà trường để tính toán số giáo viên từng môn học đảm bảo hợp lý
giữa các môn không để xảy ra hiện tượng môn thừa, môn thiếu.
Cơ cấu theo trình độ đào tạo: Cơ cấu giáo viên THPT theo trình độ đào tạo
là sự phân chia giáo viên theo tỉ lệ ở các trình độ đào tạo. Trình độ đào tạo của
giáo viên THPT chủ yếu là trình độ ĐH sư phạm, ngoài ra còn cần trình độ đào
tạo sau ĐH. Mục tiêu kế hoạch phát triển giáo dục từ nay đến 2015, các trường
THPT cần có từ 15 - 20% giáo viên có trình độ sau ĐH.
Như vậy, đòi hỏi các trường THPT phải xác định một cơ cấu hợp lý về trình độ
đào tạo và thực hiện các hoạt động liên quan để đạt cơ cấu đó (ví dụ như việc đào
tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho giáo viên). Đó cũng là biện pháp để nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên.
Cơ cấu theo độ tuổi: việc phân bố giáo viên theo độ tuổi nhằm xác định cơ cấu

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status