Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Và Một Số Yếu Tố Gây Bệnh Của Vi Khuẩn Samonella Spp Trong Hội Chứng Tiêu Chảy Ở Lợn Dưới 3 Tháng Tuổi Tại Tỉnh Thái Nguyên Và Biện Pháp Phòng Trị - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
-------------------

TRỊNH TUẤN ANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ GÂY
BỆNH CỦA VI KHUẨN SAMONELLA SPP TRONG HỘI CHỨNG
TIÊU CHẢY Ở LỢN DƯỚI 3 THÁNG TUỔI TẠI TỈNH THÁI
NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2009


104

MỤC LỤC
1. Mở đầu .............................................................................................................. 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn......................................................................... 2
2. Tổng quan tài liệu ............................................................................................ 3
2.1. Tình hình nghiên cứu vi khuẩn Salmonella spp và bệnh do chúng gây ra ......... 3
2.2. Một số đặc điểm của vi khuẩn Salmonella spp ............................................... 6
2.3. Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn .................................................. 22
2.4. Biện pháp phòng trị bệnh do Salmonella spp gây ra ở lợn ........................... 28
2.5. Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của tỉnh Thái Nguyên .............................. 29
3. Đối tượng, nguyên liệu, nội dung và phương pháp nghiêu cứu ................. 32
3.1. Đối tượng địa điểm và thời gian nghiên cứu................................................. 32



106

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1

CFA

: Colonization Factor Antigen

2

CHO

: Chinese Hansten Ovary Cell

3

CFU

: Colonial Forming Unit

4

KHKT : Khoa học kỹ thuật

5

KN


: Phó thương hàn

11

S

: Salmonella

12

ST

: Heat Stable Toxin

13

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

14

TT

: Tháng tuổi

15

WHO

: World Health Organization

Bảng 13: Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng Salmonella phân
lập được .................................................................................................. 76
Bảng 14 a: Các chủng vi khuẩn Salmonella spp chọn gây bệnh ......................... 77
Bảng 14.b: Kết quả gây bệnh thực nghiệm Salmonella trên lợn 35 ngày tuổi ........ 78
Bảng 15: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể ở lợn sau khi được tiêm

autovacxin chế từ các chủng Salmonella phân lập đượcError! Bookmark not defi
Bảng 16: Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm với một số loại kháng sinh
của các chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập được ......................... 81
Bảng 17: Hiệu quả một số phác đồ điều trị ......................................................... 84


109

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Quy trình phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella từ các
mẫu phân và phủ tạng ............................................................................ 37

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: So sánh tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện ........... 47
Biểu đồ 2: So sánh tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo tuổi ................. 49
Biểu đồ 3: So sánh tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo mùa vụ ........... 52
Biểu đồ 4: So sánh tỷ lệ phân lập vi khuẩn Salmonella từ các mẫu phân
lợn tiêu chảy ........................................................................................... 58
Biểu đồ 5: So sánh kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella từ các cơ quan
phủ tạng của lợn bị tiêu chảy ................................................................. 60
Biểu đồ 6: So sánh kết quả định type vi khuẩn salmonella spp phân lập
được bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính .......................... 69
Biểu đồ 7: So sánh kết quả kiểm tra một số yếu tố gây bệnh của các
chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được ............................................ 72

ruột sống ở đường tiêu hóa có vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây bệnh.


2
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây tiêu chảy ở
lợn, phần lớn các tác giả đều tập trung tìm hiểu nguyên nhân gây tiêu chảy ở
các lứa tuổi khác nhau. Tuy nhiên việc nghiên cứu về yếu tố gây bệnh của vi
khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sơ sinh đến 3 tháng
tuổi tại tỉnh Thái nguyên chưa được chú ý, vì vậy cũng chưa có biện pháp
phòng trị bệnh Salmonella spp cho lợn thật sự hiệu quả.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên,
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và một số
yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở
lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái nguyên và biện pháp phòng trị”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn dưới 3
tháng tuổi.
- Phân lập, xác định yếu tố gây bệnh. Xác định độc lực và định type của
vi khuẩn Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy của lợn dưới 3 tháng tuổi
phân lập được và đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Công trình đã chứng minh vai trò của vi khuẩn Salmonella spp trong
bệnh tiêu chảy của lợn dưới 3 tháng tuổi tại tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên
cứu của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng
thời đóng góp tư liệu cho cán bộ thú y và người chăn nuôi.


3

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

khuẩn Salmonella trong hạch ruột là 7,3%. Trong khi đó ở Hungari (1989) tỷ
lệ vi khuẩn Salmonella ở phân lợn là 48%. Tại Mỹ (1984) tìm thấy vi khuẩn
Salmonella ở máu lợn chết là 4,3%.
Theo Barnes D.M. và Sorensen K.D. (1974); Wilcock B.P. và Schwartz
K.J. (1992) [76]: ở lợn cần phân biệt 2 dạng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây
ra đó là: Bệnh phó thương hàn cấp tính ở lợn con do S. choleraesuis var
kunzendorf và bệnh viêm ruột mãn tính do S. typhimurium. ở trâu bò: bệnh
chủ yếu do các loài S. dublin, S. entertidis gây ra. ở cừu bệnh do S. abortus
ovis, S. montevideo, S. dublin, S. anatum. ở ngựa S. abortus equi và ở gia cầm
và chim do S. pullorum, S. gallinarum, S. typhimurium và S. enteritidis.
2.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
ở Việt Nam vi khuẩn Salmonella và bệnh do chúng gây ra cho người và
gia súc cũng đã được bắt đầu nghiên cứu từ những năm 50. Viện Pasteur Sài
Gòn trong những năm 1951-1952-1953 đã phân lập được 6 chủng Salmonella ở
người (4 chủng từ máu, 2 chủng từ nước tiểu). Cũng ở Sài Gòn trong thời gian
này phân lập được 35 chủng từ 360 lợn. Trong đó có 23 mẫu là S. cholereasuis.
Năm 1963 Viện vệ sinh dịch tễ Hà Nội kiểm tra tại lò sát sinh Lương Yên thấy
trong 172 mẫu phân của công nhân làm việc ở đây thì có 111 trường hợp nhiễm
Salmonella dương tính (64,53%), trích theo Đỗ Đức Diên (1999) [11]. Nguồn
tàng trữ Salmonella chủ yếu là đường tiêu hoá của người và động vật mắc
bệnh. Một vài loài như S. typhi, S. paratyphi A, S. paratyphi B, S. paratyphi C
chỉ ký sinh ở người. Những loài khác hay gặp hơn như: S. choleraesuis, S.
enteritidis chủ yếu ký sinh ở động vật nhưng cũng có khả năng gây bệnh cho
người. Nguyễn Văn Lãm (1968) [24] đã tiến hành nghiên cứu chế vacxin phó
thương hàn lợn con từ chủng Salmonella chuẩn của Trung Quốc.


5
21 năm sau, Nguyễn Thị Nội và cs. (1989) [28] tiến hành điều tra tình
hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn miền Bắc vẫn

cơ sở chăn nuôi lợn thuộc miền Bắc nước ta của Cù Hữu Phú và cs. (1999)
[31] cho biết: tỷ lệ tìm thấy Salmonella trung bình ở lợn tiêu chảy nuôi tại 4
cơ sở trên là 80%. Đây là điều đáng lo ngoại đối với ngành chăn nuôi lợn ở
nước ta.
Lê Minh Sơn (2003) [37] đã xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella trong thịt
lợn giết mổ tiêu dùng nội địa từ 10,91-16,67% và thịt lợn xuất khẩu trung
bình 1,42%.
2.2. Một số đặc điểm của vi khuẩn Salmonella spp
Trực khuẩn Salmonella thuộc bộ Eubacteriales, họ Enterobacteriaceae.
Giống Salmonella gồm 2 loài: S. enterica và S. bongori đã được phân chia
thành trên 2000 serotyp theo bảng phân loại Kauffmann-White trên cơ sở cấu
trúc của kháng nguyên thân O, kháng nguyên lông H và đôi khi các kháng
nguyên vỏ (kháng nguyên K). Gần đây, loài S. enterica đã được phân thành 6
phân loài đó là: S. enterica subsp. enterica, S. enterica subsp. salamae, S.
enterica subsp. arizonae, S. enterica subsp. diarizinae, S. enterica subsp.
houtenae, S. enterica subsp. indica. Trong đó phân loài S. enterica subsp.
enterica gồm phần lớn các chủng Salmonella là những tác nhân gây bệnh cho
người và động vật (Quinn, 1994 [67]).
2.2.1 Đặc điểm hình thái
Theo Bergeys Manual (1994) [49], vi khuẩn Salmonella là những trực
khuẩn ngắn, hai đầu tròn, có kích thước 0,4-0,6 x 1,0-3,0 µm, bắt màu Gram
âm, không hình thành nha bào và giáp mô. Đa số loài Salmonella có lông
(flagella) từ 7-12 chiếc xung quanh thân (trừ S. gallinarum-pullorum).
Lông giúp cho vi khuẩn có khả năng di động. Lông có hình tròn, dài,
xuất phát từ màng cytoplasma. Do có cấu trúc từ các sợi protein hình xoắn
nên có thể co giãn và di động nên lông của chúng rất khó nhuộm. Nếu nhuộm


7
bằng phương pháp Haschem (1972) thì có thể nhìn thấy chúng dưới kính hiển

Trong môi trường thạch TSI (Triple Sugar Iron), vi khuẩn Salmonella
do sản sinh alkaline nên phần thạch nghiêng có màu đỏ (pH=7,3), đáy ống
nghiệm màu vàng (pH=6,8) do vi khuẩn chỉ lên men đường Glucose. Phần
giữa ống nghiệm có màu đen do vi khuẩn sản sinh ra khí H2S. Nếu để lâu (quá
24 giờ), màu đen môi trường thường làm át phản ứng tạo axit ở phần đáy ống
nghiệm (không nhìn thấy màu vàng). Vi khuẩn sinh hơi làm nứt thạch, có khi
đẩy thạch khỏi đáy ống nghiệm (Quinn và cs, 2002 [67]).
Trong môi trường LIM (Lysine Indole Motility), vi khuẩn không làm
chuyển màu môi trường, môi trường có màu tím nhạt.
Môi trường Malonate, vi khuẩn không phát triển nên không làm thay
đổi màu môi trường.
2.2.3 Đặc tính sinh hoá
Theo Quinn và cs (2002) [67], giống vi khuẩn Salmonella được chia
thành 7 phân nhóm, mỗi phân nhóm có khả năng lên men một số loại đường
nhất định và không đổi. Phần lớn phân loài S. enterica subsp. enterica gây
bệnh cho động vật máu nóng. Chúng lên men và sinh hơi: Glucoza, Mannit,
Mantoza, Galactoza, Dulcitol, Arabonoza, Sorbitol. Cũng ở nhóm này, hầu
như các chủng vi khuẩn Salmonella đều không lên men Lactoza và Saccaroza.
Đa số các vi khuẩn thuộc giống Salmonella không làm tan chảy
Gelatin, không phân giải Urê, không sản sinh Indol. Phản ứng MR, Catalaza
dương tính (trừ S. choleraesuis, S. gallinarum-pullorum có MR âm tính).
Phản ứng Oxidaza âm tính. Phản ứng sinh H2S dương tính (trừ S. paratyphi A,
S. typhisuis, S. choleraesuis).
Trong quá trình phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella thì đặc tính
sinh hóa có ý nghĩa rất quan trọng.


9
2.2.4 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella spp
Vi khuẩn Salmonella mẫn cảm với nhiệt độ và các chất sát trùng mạnh.

đơn vị vi khuẩn trong 1 gram phân vào giai đoạn bệnh cao nhất. Cũng theo
tác giả thì phần lớn những lợn nhiễm tự nhiên sau khi khỏi bệnh, có thể loại
thải hoàn toàn vi khuẩn vào giữa 9-12 tuần sau khi nhiễm trùng. Điều này cho
thấy rằng tình trạng mang trùng lâu dài này có thể dẫn tới sự nhiễm khuẩn
môi trường và sự tái nhiễm tiếp theo của những động vật mới đưa vào trại.
Nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu về đường nhiễm Salmonella đều
cho rằng: Vi khuẩn Salmonella theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa
và có thể do tiếp xúc. Bình thường, chúng sống trong ống tiêu hoá mà không
gây bệnh. Chỉ khi nào sức đề kháng của lợn giảm sút, vi khuẩn xâm nhập vào
máu và nội tạng gây bệnh. Bệnh Phó thương hàn chỉ gây thành dịch địa
phương, dịch bệnh phụ thuộc vào cơ cấu đàn, tình hình vệ sinh thú y, chế độ
chăm sóc nuôi dưỡng và đặc điểm dịch tễ học của cơ sở đó (Phan Thanh
Phượng, 1988 [35]; Nguyễn Như Thanh, 2001 [41]; Laval, 2000 [25]).
Theo Phan Thanh Phượng (1988) [35], tỷ lệ lợn mắc bệnh do
Salmonella gây ra thường tăng lên vào thời kỳ lợn cai sữa, vì lúc đó cơ thể
lợn con thay đổi, dễ nhiễm bệnh. Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [41], cũng
cho biết: vi khuẩn gây ra bệnh Phó thương hàn cho lợn con từ 2 - 4 tháng tuổi
với tỷ lệ tử vong khoảng 25%, có khi lên đến 95%; bệnh có thể ở lợn lớn với
thể mạn tính và ít gây chết.
Bệnh ít xảy ra ở lợn con trước cai sữa, bởi chúng được bảo hộ nhờ
kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ. Song nguy cơ nổ ra bệnh tăng dần
theo lứa tuổi, đặc biệt là sau cai sữa, khi mà khả năng miễn dịch chủ động
chưa thể bù đắp kịp thời để thay thế miễn dịch thụ động (Laval, 2000 [25]).
2.2.6. Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella spp
Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmoenlla hết sức phức tạp, bao
gồm 3 loại chính:


11
Kháng nguyên O (O- Antigen): Kháng nguyên thân.

rập: 1,2,3,4,5,6 hay la tinh thường: e,n,x,....
Tuy nhiên, trong từng tế bào vi khuẩn riêng biệt luôn luôn chỉ xuất
hiện từng pha, bởi vậy mà trong chẩn đoán, để đạt được một công thức kháng
nguyên hoàn chỉnh cho Salmonella phải thay đổi pha. Có các loài Salmonella
như S. typhisuis, hoặc S. enteritidis... thì chỉ tạo 1 pha.
Kháng nguyên H không quyết định yếu tố độc lực của vi khuẩn, cũng
như không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng bệnh, nhưng nó có ý
nghĩa quan trọng trong việc xác định giống loài của vi khuẩn.
* Kháng nguyên vỏ (K- Antigen)( hay Vi- Antigen)
Theo Quinn và cs (2002) [67], kháng nguyên vỏ chỉ có ở một số loài
như S. typhi, S. paratyphi. S. dublin cũng có thể mang kháng nguyên vỏ,
kháng nguyên K có thể làm che các kháng nguyên thân O. Cũng theo tác giả,
nếu đun sôi huyễn dịch của các loài Salmonella này trong 10 đến 12 phút sẽ
phá hủy được kháng nguyên vỏ.
Kháng nguyên vỏ là một loại kháng nguyên có khả năng ngưng kết
kháng thể O khi phát triển nhiều. Kháng nguyên này chỉ gặp ở 2 serotyp là: S.
typhi và S. paratyphi C, ký hiệu kháng nguyên hay Vi trong công thức đứng
sau kháng nguyên O. Theo sơ đồ của Kauffmann - White; công thức kháng
nguyên của S. paratyphi C là: 6,7, Vi: -1,5 và S. Typhi là: 9, 12, Vi: c,d.
Trong 3 kháng nguyên chủ yếu trên, kháng nguyên O và kháng nguyên
H là 2 loại kháng nguyên có ý nghĩa quan trọng trong công tác chẩn đoán.
2.2.7 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp
2.2.7.1 Các yếu tố không phải là độc tố
a) Kháng nguyên O
Chất lượng thành phần hóa học, cấu trúc kháng nguyên O đều ảnh
hưởng tới độc lực của vi khuẩn Salmonella. Cụ thể là: S. typhimurium nếu


13
thay thành phần kháng nguyên từ công thức 1, 4, 12 sang 1, 9, 12 thì vi khuẩn

trình này đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động.
Bước 2: Là quá trình hấp phụ, phụ thuộc vào đặc tính bề mặt của vi
khuẩn và tế bào mà vi khuẩn bám dính và được thực hiện theo hướng thuận
nghịch với sự tương hỗ của những tác động khác nhau.
Bước 3: Là quá trình tương tác giữa yếu tố bám dính của vi khuẩn với
các điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào. Yếu tố bám dính của vi khuẩn được sắp
xếp trên các fimbriae.
Theo Lê Văn Tạo (1993) [38], trên mỗi tế bào vi khuẩn Salmonella có
từ 250- 400 fimbriae, chúng giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao
ruột non để gây bệnh.
Đỗ Trung Cứ và cs (2003) [9] đã công bố: S. typhimurium phân lập từ
lợn mắc bệnh Phó thương hàn có khả năng bám dính lên bề mặt tế bào Vero
với tỷ lệ cao (từ 70,76% - 93,48%). Kết quả này tương đương với khả năng
bám dính của chủng S. typhimurium chuẩn.
e) Yếu tố xâm nhập
Theo Finlay và cs (1988) [56], khả năng xâm nhập vào tế bào có nhân
hoặc lớp niêm mạc của đường ruột là đặc tính của một số chủng Salmonella
có độc lực. Các biến chủng Salmonella không có khả năng xâm nhập vào tế
bào thường là các chủng không có độc lực.
Sau khi tiếp cận tế bào vật chủ, vi khuẩn Salmonella tác động làm tăng
hàm lượng Ca++ nội bào, hoạt hóa Actin Depolimeriring Enzyme, làm thay đổi
cấu trúc, hình dạng các sợi actin, biến đổi màng tế bào, dẫn đến hình thành giả
túc bao vây tế bào vi khuẩn dưới dạng các không bào chứa vi khuẩn. Sau đó
Salmonella được xâm nhập vào trong tế bào, tồn tại, tiếp tục nhân lên với số
lượng lớn, phá vỡ tế bào vật chủ, sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxin),
làm xuất hiện quá trình tiêu chảy của vật chủ (Frost và cs, 1997 [57]).


15
f) Khả năng tổng hợp sắt

bệnh. Các yếu tố gây bệnh là độc tố của Salmonella bao gồm: nội độc tố
(Endotoxin), ngoại độc tố đường ruột (Enterotoxin) và độc tố tế bào
(Cytotoxin) (Finlay và Falkov, 1988 [56])
a, Độc tố đường ruột (Enterotoxin)
Độc tố đường ruột của vi khuẩn Salmonella có hai thành phần chính:
Độc tố thẩm xuất nhanh RPF (Rapid Permeability Factor) và độc tố thẩm xuất
chậm DPF (Delayed Permeability Factor) (Peteron, 1980 [65]).
+ Theo Clarke và cs (1988) [53], độc tố thẩm xuất nhanh có cấu trúc
thành phần giống với độc tố chịu nhiệt của vi khuẩn E. coli (Heat-stabile
toxin: ST).
Yếu tố thẩm xuất nhanh giúp Salmonella xâm nhập vào tế bào biểu mô
của ruột, và thực hiện khả năng thẩm xuất sau 1- 2 giờ, kéo dài 48 giờ và làm
trương tế bào CHO (Chinese Hamster Ovary cell). ST có khả năng chịu được
nhiệt độ 100oC trong 4 giờ, bền vững ở nhiệt độ thấp, có thể bảo quản ở 20oC. Cấu trúc phân tử gồm nhiều polysaccharide và một số chuỗi
polypeptide.
Độc tố RPF kích thích lên hệ thống men Guanylate Cyclase trong tế
bào biểu mô ruột, chuyển GTP thành GDP. Trong tế bào, GDP tăng cao làm
cho nồng độ ion Ca++ cũng tăng cao, dẫn đến ngăn cản hấp thu chất điện giải
và nước ở trong xoang ruột. Do vậy, lượng nước trong ruột tăng cao, kích
thích niêm mạc ruột, tăng co bóp, làm gia súc ỉa chảy.
Theo Đỗ Trung Cứ (2001) [8]: 72,7% các chủng Salmonella phân
lập được từ lợn sau cai sữa bị ốm, chết nghi Phó thương hàn sản sinh độc
tố chịu nhiệt.
+ Yếu tố thẩm xuất chậm của Salmonella có cấu trúc, thành phần giống
độc tố không chịu nhiệt của vi khuẩn E. coli (Heat Labile Toxin: LT). Nó


17
thực hiện chức năng thẩm xuất chậm từ 18- 24 giờ, có thể kéo dài 36- 48 giờ.
DPF bị phá hủy ở 70oC trong vòng 30 phút và ở 56oC trong vòng 4 giờ. Cấu

bào hoặc các receptor bề mặt các tế bào như: Tế bào lâm bao cầu B, lâm bao
cầu T, tế bào đại thực bào, tiểu cầu, tế bào gan lách.
Rất nhiều các cơ quan trong cơ thể vật chủ chịu sự tác động của nội độc
tố LPS: Gan, thận, cơ, hệ tim mạch, hệ tiêu hóa và hệ thống miễn dịch với các
biểu hiện bệnh lý như: Tắc mạch máu, giảm trương lực cơ, thiếu oxy mô bào,
toan huyết, rối loạn tiêu hóa, mất tính thèm ăn.
c, Độc tố tế bào (Cytotoxin)
Đặc tính chung của Cytotoxin là có khả năng ức chế tổng hợp Protein
của tế bào có nhân và làm trương tế bào CHO (Chinese Hamster Ovary cell)
Đa phần độc tố của chúng bị phá hủy bởi nhiệt độ.
Theo Clarke và cs (1988) [52], làm tổn thương tế bào biểu mô là đặc
tính quan trọng của Cytotoxin. Có ít nhất là 3 dạng Cytotoxin:
+ Dạng 1: Không bền vững với nhiệt và mẫn cảm với Trypsin. Độc tố
này có trọng lượng phân tử khoảng 56- 78 kDa, nó tác động theo cơ chế là ức
chế tổng hợp Protein của tế bào Hela và làm teo tế bào.
+ Dạng 2: Có nguồn gốc từ Protein màng ngoài tế bào vi khuẩn, có cấu
trúc và chức năng gần giống với các dạng độc tố tế bào do Shigella và các
chủng Enterotoxigenic E. coli (ETEC) sản sinh ra. Dạng độc tố này cũng có ở
hầu hết các serovar Salmonella gây bệnh.
+ Dạng 3: Dạng này có liên quan với Hemolysin. Dạng độc tố này tác
động lên tế bào theo cơ chế dung giải các không bào nội bào. Trong phòng thí
nghiệm, độc tố này gây chết tế bào Vero, tế bào Hela và tế bào CHO (Rahman
và cs, 1992 [68]).
Trên đây là 3 loại độc tố gây bệnh chính của vi khuẩn Salmonella,
chúng là các tác nhân trực tiếp, quyết định khả năng gây bệnh của vi khuẩn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status