HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐINH QUANG TRUNG
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA NANO BẠC VÀ DỊCH
CHIẾT TỎI (ALLIUM SATIVUM L.) ĐỐI VỚI VI KHUẨN
XANTHOMONAS CAMPESTRIS GÂY BỆNH ĐỐM LÁ
TRÊN CÂY CẢI NGỌT (BRASSICA SINENSIS L.)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐINH QUANG TRUNG
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA NANO BẠC VÀ DỊCH
CHIẾT TỎI (ALLIUM SATIVUM L.) ĐỐI VỚI VI
KHUẨN XANTHOMONAS CAMPESTRIS GÂY
BỆNH ĐỐM LÁ TRÊN CÂY CẢI NGỌT (BRASSICA
SINENSIS L.)
Chuyên ngành
: Công nghệ sinh học
Mã số
: 60.42.02.01
đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc thầy TS. Nguyễn Thanh Hải và thầy TS. Đồng Huy Giới đã tận tình hướng
dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ
môn Công nghệ sinh học thực vật, Khoa Công nghệ sinh học - Học viện Nông nghiệp
Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành
luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, thầy cô trong khoa Công nghệ
sinh học, khoa Công nghệ thực phẩm, phòng thí nghiệm JICA đã giúp đỡ và tạo điều
kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận
văn./.
Hà Nội, ngày
tháng năm 2015
Học viên
Đinh Quang Trung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
x
Phần 1 mở đầu
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
3
1.3
Phạm vi nghiên cứu
3
1.4
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3
Mô tả, tác hại, phương pháp phòng trừ
7
2.2.2
Vi khuẩn gây bệnh Xanthomonas campestris
8
2.3
Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược làm thuốc bảo vệ
thực vật trên thế giới và Việt Nam
2.3.1
9
Tình hình nghiên cứu và sử dụng dược liệu làm thuốc bảo vệ thực vật
trên thế giới
2.3.2
9
Tình hình nghiên cứu và sử dụng dược liệu làm thuốc bảo vệ thực vật ở
Việt Nam
14
2.5
Nano bạc
21
2.5.1
Giới thiệu về nano bạc
21
2.5.2
Đặc tính kháng khuẩn của nano bạc
21
2.5.3
Cơ chế kháng khuẩn của bạc
22
2.5.4
Tình hình nghiên cứu về nano bạc trong và ngoài nước
22
Vi khuẩn nghiên cứu
26
3.3.3
Nano bạc
26
3.3.4
Thiết bị, dụng cụ, hóa chất và môi trường
26
3.4
Nội dung nghiên cứu
28
3.5
Phương pháp nghiên cứu
28
3.5.1
3.5.6
Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn
33
3.5.7
Phương pháp đánh giá khả năng kháng khuẩn in vitro của dịch chiết tỏi
đối với vi khuẩn Xanthomonas campestris
3.5.8
33
Phương pháp đánh giá khả năng kháng khuẩn in vitro của nano bạc đối
với vi khuẩn Xanthomonas campestris
3.5.9
33
Phương pháp đánh giá khả năng kháng khuẩn in vitro của dịch chiết tỏi
khi phối trộn với nano bạc
3.5.10
3.5.11
34
Đánh giá khả năng kháng khuẩn in vitro của dịch chiết tỏi và nano bạc
đối với vi khuẩn Xanthomonas campestris
4.1.3
36
43
Đánh giá tác dụng của nano bạc và dịch chiết tỏi đối với bệnh đốm lá trên
cây cải trong điều kiện thí nghiệm in vivo
49
4.2
Thảo luận
51
4.2.1
Đánh giá hiệu suất tách chiết và định tính các nhóm chất trong cao khô
dịch chiết tỏi từ các dung môi tách chiết khác nhau
4.2.2
Đánh giá khả năng kháng khuẩn in vitro của các cao khô dịch chiết tỏi ở
nồng độ 100mg/ml và khi pha loãng
Kết luận
58
5.2
Kiến nghị
59
Tài liệu tham khảo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
60
Page v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nghĩa tiếng Việt
a.i
Hoạt chất thuốc
BVTV
MIC
Nồng độ ức chế tối thiểu
mg/ml
Milligam/millilit
nm
Nanomet
TLC
Sắc kí lớp mỏng
µl
Microlit
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
45
Bảng 4.5. Khả năng kháng khuẩn của nano bạc ở các nồng độ pha loãng
47
Bảng 4.6. Khả năng kháng khuẩn khi phối hợp dịch chiết tỏi và nano bạc
49
Bảng 4.7. Khả năng tác dụng của nano bạc và dịch chiết tỏi đối với cây cải ngọt
49
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Các thành phần hợp chất chuyển hóa trong tỏi
18
Hình 2.2. Ion bạc vô hiệu hóa enzym chuyển hóa oxy của vi khuẩn
22
Hình 3.1. Sơ đồ pha loãng các nồng độ dịch chiết tỏi
44
Hình 4.7. Khả năng kháng khuẩn của các loại dịch chiết tỏi khi pha loãng ở các
nồng độ khác nhau
46
Hình 4.8. Khả năng kháng khuẩn của nano bạc ở các nồng độ pha loãng
48
Hình 4.9. Khả năng gây bệnh của vi khuẩn sau 7 ngày lây nhiễm trên lá cải ngọt
50
Hình 4.10. Diện tích vết bệnh trên lá cải ngọt
51
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài được tiến hành nhằm đánh giá khả năng kháng khuẩn in vitro của cao khô
dịch chiết tỏi (Allium sativum) sử dụng 5 loại dung môi khác nhau (nước cất, ethanol
35%, ethanol 70%, acid acetic 5%, aceton nitril 100%) và nano bạc đối với vi khuẩn
Xanthomonas campestris. Thử nghiệm khả năng sử dụng cao khô dịch chiết và nano bạc
trong phòng trị bệnh đốm lá do vi khuẩn Xanthomonas campestris gây ra trên cây cải
THESIS ABSTRACT
The present study aimed at evaluating the in vitro anti-bacterial effect of the garlic
extract with five different solvents (distilled water, ethanol 35%, ethanol 70%, acid
acetic 5% and aceton nitril) and nano siliver to Xanthomonas campestris. Experimantal
treatment leaf spot disease caused by bacteria Xanthomonas campestris in Brassica
sinensis L. by garlic extract and nano siliver.
The studied result showed that the extracted efficacy was various from 7,80 %
(acid acetic 5% slovent) to 12,45% (ethanol 35% solvent). Allicin present in garlic
extract using 35% ethanol, ethanol 70%, 5% acetic acid solvents.
At the concentration of 100 mg/ml, all the extracts showed good anti-bacterial
effect with Xanthomonas campestris. Diameter of the bacterial inhibition zones were
from 18,80 mm (ethanol 35% solvent) to 24,10mm (acid acetic 5% solvent). The extract
solution with acid acetic 5% showed the best anti-bacterial efficacy. This extract
maintained the anti-bacterial effect to Xanthomonas campestris at concentration of 256
dilution times (0,391mg/ml).
Antimicrobial of nano siliver depends on the concentration and duration
nanosilver exposure to bacteria. The minimum concentration of antimicrobial nanosilver
is 0,39ppm.
Collaborate garlic extract with nano silver 0.2 ppm gives higher antibacterial
activity than using only extracts.
Used separately or mixed nano silver and garlic extract (using 5% acetic acid
solvent) at a concentration of MIC are capable of Xanthomonas campestris bacteria
inhibition in vivo on Brassica sinensis L. Using nano silver combines with garlic extract
gives the best ability to inhibit leaf spot disease in vivo (5,79 cm2 lesion area;
percentage of lesions 7,93%).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page x
quản lí dịch hại tổng hợp tăng cường sự đa dạng sinh học. Trong đó việc sử dụng
chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh là một hướng đi cho tương lai để thay
thế một phần thuốc hoá học sử dụng trên đồng ruộng. Từ các chất thảo mộc có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
trong thiên nhiên tạo ra các loại thuốc trừ sâu bệnh cho hiệu quả cao và thân
thiện với môi trường. Tỏi là một trong những loại thảo mộc có khả năng phòng
trừ sâu bệnh cao. Trong tỏi có chứa nhiều hợp chất kháng sinh thực vật với rất
nhiều ưu điểm như: chất allicin kháng sinh thảo mộc rất mạnh, các hợp chất
sulphur và polyphenol có nhiều tác dụng sinh học (Vũ Xuân Quang, 1993). Từ
tỏi tạo ra những chế phẩm sinh học phòng trừ sâu hại, đây là một hướng để tạo ra
các thuốc trừ sâu bệnh hiệu quả không ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ
con người.
Ngày nay công nghệ nano phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng rãi
trong nhiều lĩnh vực như: y học, sinh học, nông nghiệp, công nghiệp… trong đó
công nghệ nano bạc được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Các hạt nano
bạc tiêu diệt tất cả các bệnh nhiễm nấm, vi khuẩn, kể cả các chủng vi khuẩn
kháng sinh. Bên cạnh đó nano bạc không độc, không dị ứng, không tích tụ và vô
hại đối với cả động vật và môi trường. Từ những tính chất, đặc tính trên của nano
bạc, việc nghiên cứu tạo ra các chế phẩm chứa nano bạc làm thuốc bảo vệ thực
vật là hướng đi mới cần thiết cho việc phát triển một nền nông nghiệp xanh sạch,
bền vững.
Cây cải ngọt (Brassica chinensis L.) nằm trong họ thập tự được trồng phổ
biến ở nhiều nơi. Chúng được sử dụng rộng rãi và mang lại nhiều lợi ích thiết
thực cho đời sống con người: cung cấp rau tươi, bổ sung nguồn dinh dưỡng, chất
xơ cũng như các loại vitamin… Cây cải ngọt được người nông dân chọn trồng
chiết tỏi.
Đánh giá khả năng kháng khuẩn in vivo của dịch chiết tỏi và nano bạc đối
với vi khuẩn Xanthomonas campestris gây bệnh đốm lá trên cây cải ngọt.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu đánh giá
tác dụng của nano bạc và dịch chiết tỏi đối với vi khuẩn Xanthomonas campestris
gây bệnh đốm lá trên cây cải ngọt trong điều kiện thí nghiệm in vitro, in vivo.
Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Công nghệ sinh học thực vật – Khoa
Công nghệ sinh học – Học viện nông nghiệp Việt Nam, thời gian tiến hành
nghiên cứu từ 01/2015 – 10/2015.
1.4. Ý KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài giúp đánh giá được khả năng kháng khuẩn của nano bạc và dịch chiết
tỏi đối với vi khuẩn Xanthomonas campestris gây bệnh đốm lá trên cây cải ngọt.
Cung cấp những số liệu ban đầu về tác động của chế phẩm đối với vi khuẩn
Xanthomonas campestris gây bệnh đốm lá trên cây cải ngọt.
Bước đầu xác định được nồng độ kháng khuẩn thích hợp của nano bạc và
dịch chiết tỏi. Tạo tiền đề cho việc tạo ra những chế phẩm có khả năng ứng dụng
cao vào trong công tác phòng trừ dịch hại trên cây trồng.
Kết quả từ đề tài là cơ sở cho việc nghiên cứu tạo ra các chế phẩm từ nano
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
bạc kết hợp với các loại dịch chiết từ nhiều loại cây dược liệu khác nhau để sử
dụng trong phòng trừ dịch hại trên cây trồng.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Tận dụng các nguồn dược liệu sẵn có trong tự nhiên, kết hợp với nano bạc
tạo ra chế phẩm để phòng trừ bệnh đốm lá trên cây rau họ hoa thập tự do vi
thị 11 trường các tỉnh phía Nam cho thấy, nhóm rau ăn lá: bắp cải, cải thảo có tồn
dư NO3 vượt quá tiêu chuẩn quy định, chiếm tỷ lệ lớn nhất (58 – 61%) .
Hiện nay lượng thuốc hóa học sử dụng trên tất cả các loại cây trồng ở nước
ta bình quân 0,2 – 0,24 kg a.i/ha/năm. Song ở các loại rau, lượng này là 0,4 – 0,5
kg a.i. Cá biệt, tại các vùng rau Đà Lạt, Hà Nội theo số liệu điều tra của Viện Bảo
vệ thực vật, lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cho cây rau đạt tới 1,2 – 1,5 kg
a.i (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2007).
Qua những kết quả kiểm tra, khảo sát trên cho thấy thực trạng lạm dụng
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp là rất phổ biển, gây
ra sự tồn dư thuốc bảo vệ thực vật và dư lượng NO3 trong các sản phẩm nông sản
làm ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Hàng năm xảy ra rất nhiều vụ ngộ độc thực phẩm, mà nguyên nhân chủ yếu
là do sử dụng các nguồn thực phẩm không đảm bảo chất lượng. Đặc biệt là thực
phẩm nông sản có chứa dư lượng NO3, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Theo một
nghiên cứu mỗi năm ở các nước đang phát triển có khoảng 25 triệu người bị
nhiễm độc nhẹ (Jeyaratnam J, 1990).
Những nghiên cứu trong vài năm gần đây tại Việt Nam cũng đưa ra các số
liệu đáng lo ngại. Vào năm 2002, từng có 7.170 trường hợp nhiễm độc thuốc trừ
sâu được ghi nhận tại Việt Nam.
Giai đoạn 2006 – 2010, bình quân hàng năm có 189 vụ ngộ độc thực phẩm
với 6.633 người mắc và 52 người tử vong. Đặc biệt trong giai đoạn 2006 – 2010
số vụ và số người bị ngộ độc do nhiễm hóa chất có xu hướng tăng lên.
Bảng 2.1. Số lượng vụ ngộ độc thực phẩm và rau trong giai đoạn
2006 – 2010
Số vụ
(%)
Số
người
(%)
Độc tố tự
nhiên
Hóa chất
Vinh sinh
vật
29(80.6) 43(78.2) 30(81.1) 46(74.2) 10(58.1) 18(58.1) 24(70.6) 31(60.8)
2(5.6)
7(12.7)
0
0
4(10.8) 11(17.7) 4(23.5)
0
0
9(29.0)
khác để tiếp tục gây hại. Thuốc trừ sâu là một trong những nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường nước, một vài loại thuốc trừ sâu là các chất gây ô nhiễm rất
bền trong môi trường nước và gây ô nhiễm môi trường đất.
Trước thực trạng đáng báo động trên, yêu cầu cấp bách đặt ra hiện nay là
phải tìm ra phương pháp phòng trừ dịch hại trên cây trồng hiệu quả, an toàn với
con người và không gây ảnh hưởng tới môi trường. Trong những năm gần đây,
việc nghiên cứu, sử dụng các hợp chất, chế phẩm sinh học tự nhiên để kiểm soát
dịch hại ngày càng được quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu được
tiến hành. Những hợp chất, chế phẩm sinh học tự nhiên này được công nhận là an
toàn cho sức khỏe con người và môi trường.
2.2. BỆNH ĐỐM LÁ TRÊN CÂY TRỒNG THUỘC HỌ HOA THẬP TỰ
Bệnh đốm lá trên cây rau họ hoa thập tự là một trong những nguyên nhân
làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm đáng kể, đặc biệt trong giai đoạn
mùa mưa. Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1929 trên cây cải ngựa, năm
1930 phát hiện trên củ cải trắng và củ cải đỏ.
Bệnh đốm lá trên cây rau họ hoa thập tự phân bố rộng rãi, chúng được ghi
nhận có mặt ở khoảng 85 quốc gia khắp Châu Phi, Châu Á, Bắc Mỹ và Nam Mỹ.
2.2.1. Mô tả, tác hại, phương pháp phòng trừ
2.2.1.1. Triệu chứng bệnh
Triệu chứng phổ biến của bệnh là xuất hiện các vết đốm trên lá thật, cũng
có thể cả trên lá mầm, cuống hoa. Rất nhiều đốm nhỏ, phân tán rải rác trên bề
mặt phiến lá hoặc ở rìa mép lá là do sự xâm nhập của vi khuẩn qua lỗ khí khổng
hoặc qua lỗ thủy khổng.
Vết bệnh lúc đầu nhỏ lốm đốm, ngậm nước như vết úng nước, về sau mở
rộng thành vết đốm tròn đường kính khoảng 3 – 5mm chung quanh có viền lợt,
hẹp nhìn rõ khi đưa lá lên ánh sáng ở mặt sau.
Các vết đốm có xu hướng tập trung càng nhiều hơn ở vùng gần gân lớn rồi
liên kết lại với nhau tạo thành những sọc hoại tử dọc theo gân lá. Mô bệnh khô
chết có thể tách rời khỏi vết đốm làm cho lá có lỗ thủng lỗ chỗ, rách hoặc làm
cho toàn bộ lá suy kiệt, rơi rụng xuống.
Giới: Bacteria
Ngành: Proteobacteria
Bộ: Gamma Proteobacteria
Họ: Xanthomonadaceae
Chi: Xanthomonas
Loài: Xanthomonas campestris
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
2.2.2.2. Đặc điểm hình thái
Vi khuẩn Xanthomonas campestris có dạng hình que đơn, thẳng, rộng 0,4 –
0,7µm, dài 0,7 – 1,8 µm. Khuẩn lạc tròn, lồi, rìa nhẵn, có màu vàng trên môi
trường PDA, YDC. Vi khuẩn thuộc nhóm Gram âm. Có khả năng di động nhờ
tiên mao mọc ở cực. Là loại vi khuẩn dị dưỡng, hiếu khí bắt buộc. Không có khả
năng khử nitơ, phản ứng catalase dương tính, phản ứng oxidase âm tính, tạo acid
yếu từ các nguồn carbonhydrate. Vi khuẩn thuộc nhóm ưa nhiệt trung bình, nhiệt
độ thích hợp từ 25 – 350C, sinh trưởng chậm dưới 200C, ngừng sinh trưởng từ
400C trở lên (Schaad N.W, 1998).
2.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG SẢN PHẨM THẢO DƯỢC
LÀM THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực hóa học trong sản xuất nông nghiệp, đang
gây ra những ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người, và môi trường sống. Bên
cạnh đó việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật còn gây ra hiện tượng kháng thuốc
của sâu, bệnh. Các hợp chất có nguồn gốc từ tự nhiên đang là hướng mà các nhà
khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu để tạo ra các chế phẩm sinh
học thay thế các chất hóa học tổng hợp. Thảo dược được ưa chuộng bởi tính an
toàn sinh học, không có hoặc ít có tác dụng phụ, bên cạnh đó chưa tìm thấy vi
các bộ phận của các cây thuốc như: Canavalia gladiata, Amomum subulatum,
Abutilon indicum, Cassia occidentalis, Mucuna pruriens, Spilanthus oleracea,...
Kết quả thử nghiệm cho thấy trong số 925 mẫu chiết xuất được đánh giá thì có 70
chiết xuất ở cả hai nồng độ (1% và 5% ) có đặc tính kháng khuẩn mạnh và ức chế
hoàn toàn sự phát triển của tác nhân gây bệnh. Trong đó, 20 chiết xuất được tìm
thấy ức chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh ở nồng độ 5%.
Okigbo R.N. and Nmeka I.A (2005), đã tiến hành kiểm tra khả năng kiểm
soát bệnh thối củ trên khoai lang do các nấm Fusarium oxysporum, Aspergillus
niger và Aspergillus flavus gây ra của dịch chiết từ lá Xylopia aethiopica và
Zingiber officinale. Kết quả nghiên cứu cho thấy hợp chất fungitoxic có trong
dịch chiết từ lá của Xylopia aethiopica và Zingiber officinale có khả năng ức chế
đối với các nấm gây bệnh thối củ trên khoai lang.
Kết quả nghiên cứu của Oparaeke et al. (2005), cho thấy chiết suất từ hỗn
hợp thảo mộc với tỷ lệ 10:10 % w/w bao gồm: vỏ quả điều + củ tỏi, vỏ quả điều
+ tiêu Châu Phi và củ tỏi + ớt làm giảm sâu hại trên đậu đũa và làm tăng sản
lượng ngũ cốc 4 – 5 lần.
Mohana D.C. and Raveesha K.A. (2006), tiến hành nghiên cứu hoạt tính
kháng khuẩn của cây Caesalpinia coriaria đối với vi khuẩn Xanthomonas
pathovars gây bệnh trên: cà chua, đậu pháp, cây bông. Nghiên cứu đã sử dụng
các dung môi: nước, ether, benzen, chloroform, methanol và ethanol để tiến hành
tách dịch chiết từ lá và vỏ của cây Caesalpinia coriaria. Trong thử nghiệm hoạt
tính kháng khuẩn của dịch chiết từ 06 loại dung môi thì dịch chiết từ dung môi
methanol cho khả năng kháng khuẩn tốt nhất đối với vi khuẩn thử nghiệm, tiếp
theo là dịch chiết từ dung môi nước, ethanol và ether. Dịch chiết từ dung môi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Sau 5 – 7 ngày phun hầu hết các công thức không làm mật độ sâu giảm có ý
nghĩa so với đối chứng.
Nhóm tác giả của trường đại học Kampus Bukin Jimbaran – Indonesia đã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
phát hiện ra rễ gừng và lá đu đủ cá tác dụng hạn chế sự phát triển của nấm
Ceratocystis.sp gây thối quả, trên môi trường PDA có bổ sung 5% dịch chiết thô
sẽ giảm 92.5% (đối với dịch chiết là rễ gừng), giảm 73.3% (đối với dịch chiết là
lá đu đủ). Sự phát triển của nấm Ceratocystis.sp cũng bị giảm rõ ràng khi cấy
dịch chiết trên vào thịt quả trước sự xuất hiện của nấm. Điều này đã làm tăng thời
hạn sử dụng của quả lên rất nhiều kể cả trong điều kiện tự nhiên và điều kiện
nhân tạo (George F.Antonious et al., 2009).
Theo nghiên cứu của Chekwa và cộng sự, những loại thuốc thảo mộc
thường có phổ tác dụng rộng, phân hủy sinh học, rẻ tiền, dễ tìm, áp dụng đơn
giản do không sợ quá liều. Tỏi và gừng đều có chất tinh dầu tạo mùi cay nồng có
tác dụng xua đuổi côn trùng, chúng được cân và xay theo tỷ lệ 0,3 và 60 g/lít,
mỗi tỷ lệ tỏi gừng được ngâm thêm 2 muỗng dầu. Sau đó mỗi loại được trộn với
nước có pha một ít xà bông. Cả tỏi và gừng đều giảm số lá bị thiệt hại do sâu ăn
lá, sâu đục bông và sâu đục trái, trong đó tỏi hiệu quả hơn gừng (Isirima Chekwa
et al., 2010).
Tỏi, ớt, gừng là một trong những loại cây gia vị được sử dụng nhiều trong
các bữa ăn. Ngoài ra nó cũng được sử dụng làm thuốc trừ sâu có hiệu quả trên
cây trồng.
Tỏi tạo ra một loạt các hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi dựa trên đó có hiệu
quả như thuốc diệt côn trùng và thuốc trừ sâu. Disulfide diallyl là một trong
những hợp chất như vậy, có mùi mạnh và hoạt động như một loại thuốc trừ sâu
khuẩn Xanthomonas campestris và Aeromonas hydrophila. Kết quả cho thấy các
loại dịch chiết từ 06 cây dược liệu này đều cho hoạt tính kháng khuẩn tốt đối với
các vi khuẩn thử nghiệm. Xác định được nồng độ MIC của dịch chiết từ cây
Acalypha indica là 128 µg/ml đối với cả 2 vi khuẩn thử nghiệm, dịch chiết từ cây
Aerva lanata là 32 µg/ml đối với vi khuẩn Xanthomonas campestris và 64 µg/ml
đối với vi khuẩn Aeromonas hydrophila, dịch chiết từ cây Phyllanthus amarus
lần lượt là 64µg/ml đối với vi khuẩn Xanthomonas campestris và 128 µg/ml đối
với vi khuẩn Aeromonas hydrophila.
Pawar B.T. and Pandit B.D. (2012), nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của
dịch chiết từ lá cây Ocimum sanctum L. đối với vi khuẩn Xanthomonas
campestris pv. mangiferaeindicae. Nghiên cứu tiến hành thử nghiệm hoạt tính
kháng khuẩn của dịch chiết từ lá cây Ocimum sanctum L. đối với 25 chủng
Xanthomonas campestris pv. mangiferaeindicae, kết quả cho thấy dịch chiết có
hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất đối với chủng vi khuẩn Xanthomonas
campestris pv. mangiferaeindicae 21 với đường kính vùng ức chế trung bình là
20,36 mm; tiếp theo là chủng Xanthomonas campestris pv. mangiferaeindicae 07
với đường kính vùng ức chế trung bình 20,11 mm và khả năng kháng khuẩn thấp
nhất đối với chủng Xanthomonas campestris pv. mangiferaeindicae 14 với đường
kính vùng ức chế trung bình là 16,27 mm.
Kebede M et al. (2013), đã tiến hành đánh giá hiệu lực kháng khuẩn của các
dịch chiết từ cây mù tạc, củ gừng, nước chanh, Atella (một loại bã bia truyền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13