BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
CHU THỊ TOAN
QUẢN LÝ CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO
CỦA CHÍNH PHỦ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN ĐỘNG
TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM VĂN HÙNG
HÀ NỘI, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên
cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo
vệ đế lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Chu Thị Toan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục các từ viết tắt
vii
Danh mục bảng
viii
Danh mục sơ đồ, hình hộp
ix
1
PHẦN I MỞ ĐẦU
Cơ sở lý luận
5
2.1.1
Các khái niệm cơ bản
5
2.1.2
Các quan điểm đánh giá nghèo đói
7
2.1.3
Chương trình giảm nghèo của Chính phủ
9
2.1.4
Nội dung nghiên cứu quản lý các chương trình giảm nghèo
10
2.1.5
24
3.1.1
Điều kiện tự nhiên
24
3.1.2
Điều kiện kinh tế - xã hội
27
3.1.3
Đánh giá chung về địa bàn huyện Sơn Động
33
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
3.2
Phương pháp nghiên cứu
Thực trạng thực hiện các chương trình giảm nghèo của Chính phủ trên
địa bàn huyện Sơn Động
4.1.1
40
Các chương trình giảm nghèo của Chính phủ đã và đang được triển
khai trên địa bàn huyện Sơn Động
40
4.1.2
Thực trạng nghèo đói ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
45
4.1.3
Tình hình đầu tư chi phí các chương trình giảm nghèo của Chính phủ
trên địa bàn huyện Sơn Động
4.1.4
47
Kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo của Chính phủ trên địa
bàn huyện Sơn Động
Kiểm tra, giám sát quá trình quản lý chương trình giảm nghèo
69
4.3
Đánh giá chung về quản lý các chương trình giảm nghèo của Chính
phủ trên địa bàn huyện Sơn Động
4.3.1
71
Nhận xét chung về tình hình thực hiện quản lý các chương trình giảm
nghèo của Chính phủ trên địa bàn huyện Sơn Động
4.3.2
71
Tình hình thực hiện quản lý các chương trình giảm nghèo của Chính
phủ theo từng lĩnh vực trên địa bàn huyện Sơn Động
4.4
72
Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý các chương trình giảm
nghèo của Chính phủ trên địa bàn huyện Sơn Động
Ảnh hưởng của cơ chế tài chính tới công tác quản lý các chương trình
giảm nghèo của Chính phủ trên địa bàn huyện Sơn Động
4.5
79
Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý các chương trình giảm
nghèo của Chính phủ trên địa bàn huyện Sơn Động
4.5.1
80
Quan điểm và định hướng quản lý các chương trình giảm nghèo của
Chính phủ trên địa bàn huyện Sơn Động
4.5.2
80
Giải pháp tăng cường quản lý các chương trình giảm nghèo của Chính
phủ trên địa bàn huyện Sơn Động
81
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
85
BQ
Bình quân
BQL
Ban quản lý
CC
Cơ cấu
CN-XD
Công nghiệp - xây dựng
DTTS
Dân tộc thiểu số
ĐVT
Đơn vị tính
GTSX
Giá trị sản xuất
KTXH
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
3.1
Tình hình đất đai của huyện Sơn Động giai đoạn 2011 – 2013
25
3.2
Tình hình dân số và lao động của huyện Sơn Động giai đoạn 2011 – 2013
28
3.3
Tình hình cơ sở vật chất của huyện Sơn Động năm 2013
30
48
4.4
Vốn đầu tư hỗ trợ phát triển nông, lâm, ngư nghiệp từ chương trình
giảm nghèo của Chính phủ năm 2011 – 2013
4.5
49
Vốn đầu tư hỗ trợ cho xây dựng cơ sở hạ tầng từ chương trình giảm
nghèo của Chính phủ năm 2011 – 2013
4.6
51
Vốn đầu tư hỗ trợ cho vay ưu đãi lãi suất từ chương trình giảm nghèo
của Chính phủ năm 2011 – 2013
4.7
51
Vốn đầu tư hỗ trợ cho phát triển Y tế từ chương trình giảm nghèo của
Chính phủ năm 2011 – 2013
4.8
Kết quả của chương trình giảm nghèo về xã hội ở huyện Sơn Động,
tỉnh Bắc Giang sau 5 năm thực hiện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
61
Page viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH HỘP
Tên sơ đồ
STT
4.1 Phân cấp quản lý chương trình giảm nghèo của Chính phủ
STT
Tên hộp
Trang
63
Trang
4.1 Triển khai thực hiện các chương trình còn thiếu minh bạch,
còn sự nể nang,…
67
4.2 Việc giao kế hoạch và cấp vốn còn hạn chế
được nhiều kết quả tốt.
Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác giảm nghèo là cực kỳ quan trọng phải
thực hiện triệt để. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đói nghèo là một thứ giặc
trong ba giặc nguy hiểm nhất của buổi đầu giành được độc lập (giặc đói, giặc dốt và
giặc ngoại xâm) và cần phải ưu tiên tiêu diệt. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta
đã tập trung mọi nguồn lực để thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo nhằm nhanh
chóng đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, kém phát triển. Việt Nam
đã giành nhiều chương trình ưu đãi cho thúc đẩy phát triển kinh tế, đi đôi với xóa đói,
giảm nghèo. Nhờ thực hiện các chính sách có hiệu quả cùng cơ chế phù hợp, công tác
xóa đói giảm nghèo của nước ta đã đạt được kết quả đáng khích lệ, đời sống nhân dân
từng bước được cải thiện. Trong nhiều năm qua, giảm nghèo luôn là vấn đề được Đảng
và Nhà nước quan tâm nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh”. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách
để giảm nghèo như xây dựng chính sách phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn;
thực hiện chiến lược phát triển cho từng vùng, miền; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn, ưu tiên tín dụng các nguồn vốn cho giảm nghèo, thiết lập nguồn vốn vay
cho người nghèo....
Để giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, tháng 7/1998 Chính phủ chính thức phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo cho giai đoạn 19982000, phê duyệt chương trình 135 hỗ trợ phát triển 1715 xã nghèo đặc biệt khó
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Đây là hai chương trình lớn tác động mạnh mẽ
tới công cuộc xóa đói giảm nghèo. Thực hiện hai chương trình trên đã tạo ra kết quả
tích cực: Cả nước đã thực hiện định canh, định cư, khai hoang mở rộng diện tích
trồng lúa nước, hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ gà giống, lợn giống cho nhân dân,
trồng rừng mới, cây công nghiệp và cây ăn quả. Về tín dụng đã có hàng ngàn lượt
hộ được vay vốn để phát triển sản xuất. Bên cạnh đó hàng loạt công trình cơ sở hạ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tình hình quản lý các chương trình giảm nghèo của Chính phủ trên
địa bàn huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp tăng
cường quản lý tốt hơn các chương trình này trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý các chương
trình giảm nghèo của Chính phủ.
- Đánh giá thực trạng tình hình quản lý các chương trình giảm nghèo của
Chính phủ trên địa bàn huyện Sơn Động;
- Đề xuất hệ thống các giải pháp tăng cường quản lý tốt hơn các chương trình
giảm nghèo trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Lý luận về quản lý và quản lý nhà nước đối với các chương trình của Chính
phủ và các chương trình giảm nghèo như thế nào?
- Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện các chương
trình giảm nghèo của Chính phủ?
- Kết quả của các chương trình giảm nghèo trên địa bàn như thế nào?
- Người dân được hưởng lợi như thế nào từ các Chương trình giảm nghèo
của Chính phủ?
- Trong quản lý các chương trình giảm nghèo của Chính phủ có những thuận lợi
khó khăn gì?
- Các giải pháp để quản lý Chương trình giảm nghèo của Chính phủ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý các chương trình giảm nghèo
của Chính phủ trên địa bàn huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang; Các chương trình giảm
nghèo thực hiện trên địa bàn huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng khảo sát là các hộ nghèo thụ hưởng từ các chương trình giảm nghèo
của Chính phủ và các cán bộ quản lý các chương trình giảm nghèo.
khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt.
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau rất nhiều học giả trong và
ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay vẫn chưa
có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21 các quan niệm
về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định
nghĩa về quản lý như sau:
- Theo Frederick Winslow Taylor (1856- 1915): là người đầu tiên khai sinh
ra khoa học quản lý và là ông tổ của trường phái quản lý theo khoa học, tiếp cận
quản lý dưới góc độ kinh tế kỹ thuật đã cho rằng:: " Quản lý là hoàn thành công
việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn
thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất." (dẫn bởi Nguyễn Vũ Tiến, 2010).
- Theo Henry Fayol (1886 – 1925): là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo
quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời
kỳ cận – hiện đại tới nay, quan niệm rằng: " Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả
các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều hành và kiểm soát các nỗ lực của cá
nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để
đạt được mục tiêu đề ra” (dẫn bởi Nguyễn Vũ Tiến, 2010).
Theo J.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivanjcevich trong khi nhấn mạnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
tới hiệu quả sự phối hợp hoạt động của nhiều người đã cho rằng: Quản lý là một quá
trình do nhiều người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của
những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể
nào đạt được (dẫn bởi Nguyễn Vũ Tiến, 2010).
Có thể hiểu một cách đơn giản nhất thì: Quản lý là sự tác động có ý thức của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy điều hành hướng dẫn các quá
nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm
(Per Capita Incomme PCI) của quốc gia.
Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về
cuộc sống như ăn mặc ở vệ sinh y tế giáo dục đi lại quyền được tham gia vào các
quyết định của cộng đồng (Chu Tiến Quang, 2011).
2.1.1.4 Các cấp độ nghèo đói
+ Nghèo ở mức tuyệt đối
Nghèo ở mức độ tuyệt đối... là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.
Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các
thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng
tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta (Chu Tiến
Quang, 2011).
+ Nghèo tương đối
Nghèo tương đối có thể là khách quan tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào
cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi
những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan.
Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối) việc thiếu thốn tài nguyên phi vật
chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội thiếu tham
gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem
như là một thách thức xã hội nghiêm trọng (Chu Tiến Quang, 2011).
2.1.2 Các quan điểm đánh giá nghèo đói
Để đánh giá sự nghèo đói của các nước trên thế giới thường sử dụng tiêu chỉ
tiêu chính là thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GDP). Nhưng do hiện nay
giữa các nước với nhau có sự phân cách về giàu nghèo nhất là đối với các nước
đang phát triển thì sự phân cách về giàu nghèo càng rõ rệt. Như vậy ở những nước
này những hộ giàu chiếm phần lớn của cải xã hội quốc dân. Do vậy mà chỉ tiêu
đánh giá nghèo đói qua GDP thì chưa đủ và từ đó ODC (Tổ chức hội đồng phát
triển hải ngoại) đã đưa ra chỉ số HDI (chỉ số chất lượng cuộc sống) để đánh giá bao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
+ Vùng nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng) dưới 400.000
đồng/người/tháng (Quyết định số 9/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Về việc
ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
2.1.3 Chương trình giảm nghèo của Chính phủ
Chương trình giảm nghèo của Chính phủ là quá trình sử dụng cơ chế chính
sách nguồn lực của Chính phủ của các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
để hỗ trợ cho quá trình xóa đói giảm nghèo thông qua thực hiện các cơ chế chính
sách (Chu Tiến Quang, 2011).
Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo (XĐGN) ban đầu có sáu
chính sách liên quan đến lĩnh vực hỗ trợ về miễn giảm phí khám chữa bệnh, miễn
giảm học phí, hỗ trợ cho đồng bào dân tộc; hỗ trợ những người dân yếu thế bị tổn
thương hỗ trợ nhà ở và công cụ sản xuất. Ngoài ra chương trình còn bao gồm 8 dự
án về tín dụng khuyến nông, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất đào tạo cán bộ
làm công tác xóa đói giảm nghèo, ổn định dân di cư tại các vùng kinh tế mới, định
canh, định cư ổn định dân cư tại các xã nghèo và phát triển các mô hình xóa đói
giảm nghèo để nhân rộng.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 được Đại hội
Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI thông qua tháng 1/2011 với mục tiêu tổng quát:
Phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt tạo tiền đề vững chắc để
phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. Do đó các chương trình và chính sách giảm
nghèo của Chính phủ đã được xây dựng tập trung trên ba chiến lược chính: Thúc đẩy
các hoạt động sản xuất và sinh kế để tăng thu nhập cho người nghèo tăng cường khả
năng tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ xã hội tăng cường năng lực và nâng
theo lĩnh vực các tổng công ty, doanh nghiệp lớn tham gia hỗ trợ giúp đỡ các địa
phương nghèo.
Vai trò của Nhà nước là phải xây dựng được một nền hành chính Nhà nước
trong sạch hoạt động có hiệu quả có trách nhiệm ở tất cả các cấp có khả năng xây
dựng các chính sách và cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của người dân khuyến khích
cơ hội cho người nghèo, người thiệt thòi giúp cho họ phát huy được tiềm năng của
mình. Để đạt được mục đích này phải tạo nên một hệ thống hành chính với cơ chế
tổ chức bộ máy gọn nhẹ đội ngũ cán bộ công chức về cơ bản có phẩm chất năng lực
và trình độ đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước để đạt được mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững. Cải cách hành chính là
nhằm đảm bảo cho người nghèo được tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, điện
nước...ở các địa phương. Tăng cường dân chủ cơ cở các cuộc đối thoại giữa chính
quyền địa phương và cộng đồng người nghèo. Thúc đẩy sự tham gia của người dân
trong đó người nghèo và hoạch định công tác tổ chức quản lý được thể hiện rõ nét
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
qua thực tiễn áp dụng quy chế dân chủ cơ sở đến tận xã. Chính quyền địa phương
phải thực hiện dân chủ đưa ra dân bàn, dân góp ý kiến cho chương trình cho công
tác quản lý (Nguyễn Đăng Thành, 2012).
Quản lý chương trình giảm nghèo của Nhà nước phải được lên kế hoạch theo
hướng dựa trên nhu cầu của người nghèo để xây dựng các chương trình dự án khôi
phục và làm mới các cơ sở hạ tầng thiết yếu cho nhân dân đặc biệt là các vùng khó
khăn vùng sâu vùng xa các huyện miền núi cao.
Trong quá trình quản lý đối với việc thực hiện các công trình dự án cần ưu tiên sử
dụng nguồn lao động tại địa phương để giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người
nghèo. Phân cấp cho các tổ chức đoàn thể nhân dân cộng đồng trực tiếp quản lý và tham
gia quản lý việc xây dựng vận hành và sử dụng các chương trình dự án về phát triển kinh
đối với học sinh sinh viên nhất là sinh viên nghèo. Tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi
thu hút đối với giáo viên công tác ở địa bàn khó khăn; khuyến khích xây dựng và mở
rộng “Quỹ khuyến học”; ưu tiên đầu tư trước để đạt chuẩn cơ sở trường lớp học ở các
xã nghèo thôn bản đặc biệt khó khăn (Nguyễn Đăng Thành, 2012).
Hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng: Tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách cấp thẻ
bảo hiểm y tế cho người nghèo hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ
cận nghèo; xây dựng chính sách hỗ trợ người nghèo mắc bệnh nặng bệnh hiểm
nghèo. Nghiên cứu chính sách hỗ trợ việc cung cấp dinh dưỡng cho phụ nữ trẻ em
nghèo ở địa bàn nghèo. Thực hiện theo Luật bảo hiểm y tế nhưng cần có giải pháp
tuyên truyền hỗ trợ đối với 40% dân số nông thôn hiện nay chưa tham gia bảo hiểm
y tế (Nguyễn Đăng Thành, 2012).
Hỗ trợ nhà ở: Tổ chức quản lý và thực hiện cho hộ nghèo xây dựng và cải tạo
nhà ở đặc biệt đối với hộ nghèo của người cao tuổi và người khuyết tật.
Hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin: Tổ chức thực hiện tốt
chương trình đưa văn hóa thông tin về cơ sở; đa dạng hóa các hoạt động truyền
thông giúp người nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo phổ biến các mô hình
giảm nghèo có hiệu quả gương thoát nghèo (Nguyễn Đăng Thành, 2012).
2.1.4.3 Kiểm tra giám sát quá trình quản lý chương trình giảm nghèo
Để đánh giá được khách quan trung thực có chất lượng công tác quản lý
chương trình đòi hỏi thông tin thu thập phải đảm bảo tính hệ thống tính toàn diện;
sát thực và phải được cập nhật thường xuyên. Nhà nước thực hiện vai trò kiểm tra
giám sát quá trình quản lý thực hiện để đảm bảo chương trình giảm nhanh và bền
vững được thực hiện với hiệu quả cao nhất. Qua thực hiện bộc lộ những bất cập sẽ
được xử lý thích hợp có những điều chỉnh tổng kết kịp thời để bổ sung cho giai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
đoạn sau những bài học kinh nghiệm quý định hướng cho chương trình đi đúng
Page 13
lường. Chẳng hạn để đánh giá chương trình giảm nghèo đã tác động đến đối tượng
người nghèo như thế nào cần xem xét việc người nghèo được hưởng những lợi ích
gì từ chương trình của Chính phủ và các lợi ích đó đã giúp họ thoát nghèo đến đâu.
Việc đánh giá tác động này không thể căn cứ vào những ý kiến chủ quan của các
cấp chính quyền mà phải được đo lường bằng mức độ hài lòng của người dân về các
lợi ích được hưởng. Cần tổ chức các cuộc khảo sát lấy ý kiến đánh giá của người
dân đối tượng hưởng lợi từ chương trình (Nguyễn Đăng Thành, 2012).
Thứ năm tính bền vững của chương trình: Trên thực tế có rất nhiều chương
trình đề ra mục tiêu quá rộng chung chung không rõ ràng không có tính thực tế thì
thường không bên vững (Nguyễn Đăng Thành, 2012).
2.1.4.4 Công tác báo cáo các chương trình giảm nghèo của Chính Phủ
Công tác báo cáo các chương trình giảm nghèo của Chính phủ được phân định
rõ ràng tới từng cấp, ngành cụ thể. Chính phủ xây dựng Quyết định hỗ trợ cho các
huyện nghèo trên cả nước, sau khi có quyết định của Thủ tướng chính phủ các ngành
và các tỉnh thực hiện quyết định của Thủ tướng cụ thể như sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh có huyện nghèo, căn cứ Quyết định này tổ
chức lập và phê duyệt Đề án hỗ trợ cho các huyện nghèo; chịu trách nhiệm trước
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình,
bố trí đủ vốn đầu tư cho các huyện nghèo trong tổng mức vốn được phê duyệt; chỉ
đạo xây dựng và phê duyệt kế hoạch hàng năm của các huyện nghèo; hàng năm tổ
chức giám sát, đánh giá kết quả thực hiện, gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội tổng hợp báo cáo Chính phủ.
Ủy ban nhân dân các huyện nghèo căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ, cơ chế
chính sách, định mức, tiêu chuẩn của Nhà nước để xây dựng Đề án hỗ trợ giảm
nghèo bền vững trên địa bàn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; chỉ đạo xây dựng
kế hoạch hàng năm, tổng hợp nhu cầu từ dưới lên, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, trình
trên toàn cảnh tác động của nhân tố tổ chức quản lý của các cấp đến đói nghèo có
mức độ khác nhau ở những thời gian khác nhau được thể hiện tập trung ở mấy mặt
sau đây:
Thứ nhất tính chất và mức độ "hành chính quan liêu" trong các cấp đã ảnh
hưởng đến giải quyết vấn đề đói nghèo thực hiện những chủ trương chính sách xóa
đói giảm nghèo trong thời gian qua biểu hiện ở các hoạt động:
- Cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi rất chậm trễ
làm diện đói nghèo kéo dài và lan rộng.
- Việc xác định diện hộ nghèo theo quy định có những lệch lạc dựa vào quan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
hệ thân quen đưa vào diện nghèo những hộ không nằm trong tiêu chí nghèo thậm
chí bớt xén tiền bạc mà đáng lẽ hộ nghèo được hưởng. Những sai phạm này thường
ở cấp chính quyền cơ sở và huyện.
- Chất lượng xây dựng các luật kinh tế xã hội còn thấp so với thực tiễn nên
"dễ thông qua nhưng khó thi hành" ở cấp vĩ mô. Quy trình làm luật hiện nay chỉ coi
trọng mặt chính sách giải trình nội dung chính sách hay luật mà không đòi hỏi giải
trình về mặt kỹ thuật tổ chức thực hiện nhất là về mặt thanh tra kiểm soát. Vì vậy đã
có những trường hợp bất khả thi hoặc dễ "lách luật" và lạm dụng. Đây là hạn chế
của cấp vĩ mô (Chu Tiến Quang, 2011).
Thứ hai tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai các dự án
kinh tế - xã hội do chất lượng thấp trong xây dựng và thực hiện dự án nên các dự án
không có khả năng hoàn vốn rủi ro cao thời gian thực hiện kéo dài.
Tính chất hành chính quan liêu trong quản lý vĩ mô gây lãng phí ở tầm quốc gia
còn do nôn nóng muốn làm tất cả không có ưu tiên và bước đi phù hợp. Cách làm nặng về
số lượng (người ta nói do bệnh thành tích theo tư duy nhiệm kỳ) không chỉ gây lãng phí
lớn mà còn để lại nhiều vấn nạn cả về kinh tế và xã hội (Chu Tiến Quang, 2011).