1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay diễn ra trên diện rộng, tác
động tiêu cực đến nhiều ngành nghề, lĩnh vực, nhiều thành phần kinh tế xã hội khác
nhau. Nền kinh tế Việt Nam đã có sự tham gia hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực từ việc hội nhập đến thúc đẩy hoạt động sản
xuất kinh doanh trong nước, đẩy mạnh xuất nhập khẩu, trao đổi thương mại sâu
rộng thì nền kinh tế cũng chịu những tác động không nhỏ của suy thoái kinh tế toàn
cầu. Ngân hàng thương mại là một cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân,
do đó, hệ thống ngân hàng trong nước cũng đối mặt với sức cạnh tranh gay gắt từ
các Ngân hàng nước ngoài cũng như tình hình khó khăn của các ngành nghề lĩnh
vực khác
Việt Nam là một đất nước có nhiều lợi thế trong hoạt động kinh doanh vận tải
biển. Chính phủ cùng các Bộ ban ngành đã chú trọng đầu tư phát triển ngành này
tại nước ta. Tuy nhiên, vận tải biển cũng là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề của suy
thoái kinh tế thế giới.
BIDV Bắc Hà Nội là một trong những chi nhánh BIDV đi tiên phong trong
việc tài trợ cho hoạt động kinh doanh vận tải biển tại Việt Nam. Thời gian qua, dư
nợ trong lĩnh vực hoạt động này có xu hướng tăng và chiếm tỷ trọng ngày càng tăng
trong tổng dư nợ cho vay tại Chi nhánh.
Chính vì vậy, với tư cách là người làm trực tiếp trong công tác tín dụng tại
BIDV Bắc Hà Nội, tôi đã lựa chọn đề tài luận văn: Giải pháp hoàn thiện công tác
quản trị rủi ro trong cho vay lĩnh vực kinh doanh vận tải biển tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến quản trị rủi ro trong hoạt
động cho vay đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển trong nghiệp vụ cho
vay của Ngân hàng thương mại.
- Đánh giá thực trạng việc quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay doanh
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI LĨNH VỰC KINH DOANH
VẬN TẢI BIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh
đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất
lớn. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng,
theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ
có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng tỷ trọng lớn trong thu nhập
ngân hàng. Theo đó, kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi
nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động
của ngân hàng thương mại rất đa dạng, trong đó rủi ro tín dụng là một trong
những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất
lượng kinh doanh ngân hàng.
Rủi ro tín dụng: là rủi ro về sự tổn thất tài chính, phát sinh từ việc khách
hàng đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trả nợ đúng
hạn theo đúng cam kết hoặc khách hàng mất khả năng thanh toán, có nghĩa là các
khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bị trì hoãn, thậm chí là
không được hoàn trả. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh
hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân
hàng cấp tín dụng cho khách hàng bao gồm các hình thức cấp tín dụng: cho vay,
bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán. Rủi ro tín dụng nếu xảy ra
có thể dẫn tới thiệt hại lớn cho ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của
ngân hàng và có thể dẫn tới các rủi ro khác vì vậy việc hiểu và nhận biết tốt về rủi
5
Rủi ro tín dụng bao gồm 2 loại chính:
Rủi ro
tín dụng
Rủi ro
giao dịch
Rủi ro
xét duyệt
Rủi ro
kiểm soát
Rủi ro
danh mục
Rủi ro
bảo đảm
Rủi ro
cá biệt
Rủi ro
tập trung
1.1.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng. Quản trị rủi ro tín dụng cần
xác định những nguyên nhân cụ thể, cách thức gây rủi ro tín dụng để có biện pháp
hạn chế.
1.1.4.1 Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mất khả
năng thanh toán cho ngân hàng là các nguyên nhân khách quan liên quan đến môi
trường bên ngoài. Ví dụ: do thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn,..;do khủng hoảng hoặc
suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối
đoái biến động thất thường,..; hoặc những thay đổi tầm vĩ mô (thay đổi chính phủ,
chính sách kinh tế,…) vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.
1.1.4.2. Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay
- Nguyên nhân từ tư cách, đạo đức của khách hàng vay vốn: đây là một trong
những nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. Rất nhiều người vay
vốn sẵn sàng mạo hiểm trong kinh doanh để thu được lợi nhuận cao. Để đạt được
mục đích của mình, họ không ngần ngại sử dụng các thủ đoạn lừa đảo để vay và
chiếm đoạt vốn của ngân hàng như: lập hồ sơ vay vốn giả mạo, cung cấp thông tin
sai sự thực, mua chuộc cán bộ ngân hàng… Nhiều khách hàng khác mặc dù có khả
năng trả nợ nhưng cố tình chây ỳ với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc kéo dài thời gian
chiếm dụng vốn. Các trường hợp này tuy không phải lỗi xuất phát từ phía ngân
hàng nhưng vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín, trách nhiệm
của các cán bộ nói riêng và toàn bộ ngân hàng nói chung.
7
- Nguyên nhân từ năng lực sử dụng vốn vay của khách hàng vay: khách hàng
vay vốn trung thực trong việc cung cấp thông tin cho ngân hàng và sử dụng vốn vay
đúng mục đích; tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh, khách hàng có
những yếu kém trong quản lý hoặc gặp phải các rủi ro không lường hết được trước
đó nên sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, năng lực tài chính giảm sút và yếu
hàng, quản trị rủi ro và quản lý nợ. Tuy vậy, giữa mô hình phân chia cũ và mới, bên
cạnh những ưu điểm vẫn tồn tại những hạn chế chưa thể khắc phục ảnh hưởng đến
công tác quản trị rủi ro tín dụng.
- Do sức ép cạnh tranh trong việc mở rộng thị phần tín dụng, trong quá trình
vận dụng không ít các NHTM đã bỏ qua các bước của quy trình, hạ thấp tiêu chuẩn
đánh giá khách hàng, không chú ý đúng mức đến tình hình tài chính, năng lực sản
xuất kinh doanh, khả năng trả nợ, nguồn trả nợ của khách hàng vay nên nảy sinh
nhiều vi phạm: về điều kiện vay vốn, hồ sơ vay vốn, về kiểm tra quản lý nợ vay, về
cơ cấu thời hạn trả nợ.
* Xuất phát từ công tác thẩm định
Đánh giá uy tín của khách hàng là vấn đề thật sự khó khăn đối với các cán bộ
thực hiện công tác thẩm định trong việc tiếp cận thông tin đầy đủ về khách hàng.
Hiện nay, công tác đánh giá uy tín của khách hàng chủ yếu dựa vào cảm tính và chủ
quan của cán bộ nghiệp vụ như dựa vào các quan hệ trong quá khứ hoặc một số
thông tin thu thập được.
Về việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng cũng gặp nhiều hạn chế,
công việc đánh giá được thực hiện chủ yếu dựa vào việc phân tích số liệu trên các
báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp. Hiện nay do Việt Nam chưa có quy định
minh bạch thông tin nên có thể nói độ tin cậy của các báo cáo tài chính chưa thật sự
cao, nhất là đối với các doanh nghiệp tư nhân. Từ những số liệu chưa thực sự tin
cậy nên việc phân tích báo cáo tài chính sẽ không phản ánh đúng thực chất năng lực
tài chính của khách hàng.
* Xuất phát từ tài sản bảo đảm
Quản trị danh mục tài sản bảo đảm là yêu cầu cần thiết trong công tác quản
trị rủi ro tín dụng và là mắt xích quan trọng trong quy trình cho vay thu hồi nợ, xử
lý các khoản nợ có vấn đề.
Theo quy định của pháp luật, việc xác định giá trị tài sản bảo đảm (TSBĐ)
tiền vay do các bên thoả thuận, hoặc thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác
định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm xác định, có tham khảo đến các loại giá
Hiện nay, các NHTM đều có bộ phận kiểm soát nội bộ, tuy nhiên, ở một số
ngân hàng bộ phận này chưa thật sự hoạt động có hiệu quả, nhất là tình trạng thiếu
nhân sự cũng như trình độ của cán bộ chưa đáp ứng cả về nghiệp vụ lẫn kinh
10
nghiệm nên không thể phát hiện các sai phạm để có những khuyến cáo kịp thời
nhằm chấn chỉnh và tư vấn cho Ban lãnh đạo về những rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
* Xuất phát từ cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng
Đạo đức của cán bộ tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng để giải
quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ hạn chế về năng lực có thể được
bồi dưỡng thêm để nâng cao trình độ, nhưng một cán bộ tha hoá về đạo đức mà lại
giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật sự nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng.
Điều này có thể nhận thấy qua các vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên
quan đến hoạt động ngân hàng đều có sự tiếp tay của những cán bộ tín dụng cùng
với khách hàng hoặc bản thân cán bộ tín dụng cố ý như thực hiện trái với quy trình
tín dụng, trực tiếp thu nợ nhưng không nộp mà dùng cho mục đích cá nhân, lập hồ
sơ giả để vay tiền; tẩy xoá, sửa chữa chứng từ có giá để thế chấp vay tiền; định giá
tài sản không đúng giá trị thực;…
Bên cạnh vấn đề đạo đức, năng lực, trình độ, kinh nghiệm của một bộ phận
cán bộ tín dụng hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu công việc. Nhân viên ngân
hàng phải tiếp cận với nhiều ngành nghề, nhiều vùng, thậm chí nhiều quốc gia. Để
cho vay tốt, họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh doanh, môi
trường mà khách hàng sống. Họ phải có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến
người vay. Khi nhân viên tín dụng cho vay đối với khách hàng mà họ chưa đủ trình
độ để hiểu kỹ lưỡng, rủi ro tín dụng luôn rình rập họ.
Như vậy chất lượng nhân viên ngân hàng bao gồm trình độ và đạo đức nghề
nghiệp không đảm bảo là nguyên nhân của rủi ro tín dụng.
Tóm lại, các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có những
tìm kiếm các khoản vay có khả năng sinh lời cao và ít rủi ro.
- Đảm bảo phản ảnh minh bạch, chính xác chất lượng danh mục tín dụng,
trích đủ dự phòng để từ đó bù đắp những rủi ro phát sinh trong cho vay.
- Có hệ thống kiểm tra, kiểm soát thích hợp để phát hiện, ngăn ngừa và xử lý
kịp thời các rủi ro phát sinh đối với danh mục tín dụng.
1.2.2. Một số vấn đề cơ bản trong quản trị rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.2.1. Định hướng Quản trị rủi ro trong hoạt động của NHTM.
12
• Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro:
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín
dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các
biện pháp hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của
khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn.
Quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả liên quan đến việc quản lý chặt chẽ mối
quan hệ giữa rủi ro/lợi nhuận và kiểm soát, giảm thiểu rủi ro tín dụng trong nhiều
khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như chất lượng tín dụng, mức độ tập trung, thời
gian đáo hạn, hình thức bảo đảm tiền vay.
Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩn
nhiều rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng. Hoạt động kinh doanh của các NHTM là
dùng uy tín của chính ngân hàng để có thể thu hút nguồn vốn huy động và dùng
năng lực quản trị rủi ro đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng để sử dụng nguồn vốn
huy động được và phát triển các dịch vụ khác với tư cách là người “đứng giữa” các
lực lượng cung và các lực lượng cầu về các dịch vụ ngân hàng.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro,
đặc biệt là rủi ro tín dụng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan dẫn đến rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên ngân hàng
không thể tránh khỏi rủi ro. Chính vì vậy, hàng năm các NHTM được phép và cần
Rủi ro tín dụng
Trách nhiệm cá
nhân đối với
chất lượng tín
dụng
Cơ cấu tổ chức
Xây dựng
chính sách và
quy trình tín
dụng
Giám sát và
kiểm tra tín
dụng
Hình 1.1: Khung quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng
* Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng
Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng là bản tuyên ngôn của Ban lãnh
đạo về các mục tiêu trong hoạt động tín dụng nhằm xác định thái độ của ngân hàng
đối với rủi ro và thái độ sẵn sàng chấp nhận các rủi ro.
Chiến lược hoạt động tín dụng cần được hoạch định định kỳ, phù hợp với
mức độ rủi ro từng thời kỳ và phải được phổ biến đến từng nhân viên ngân hàng.
* Xác định rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng
Xác định rủi ro được hiểu bao gồm: nhận biết rủi ro và đo lường rủi ro
14
sở quan trọng để phân loại và xếp loại khách hàng cũng như khoản vay.
15
•
Các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng
Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking
supervision – BCBS) được thành lập vào năm 1975 bởi một nhóm các Ngân hàng
Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel,
Thuỵ Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập
kỷ 80.
Quan điểm của Uỷ ban Basel: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một
quốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe doạ đến sự ổn định về tài
chính trong cả nội bộ quốc gia đó. Vì vậy, nâng cao sức mạnh của hệ thống tài
chính là điều mà Uỷ ban Basel quan tâm.
Uỷ ban Basel có đưa ra các nguyên tắc về quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo
tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng. Các nguyên tắc này tập trung
vào các nội dung cơ bản sau đây:
Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị (HĐQT) có trách nhiệm phê duyệt và rà
soát định kỳ (ít nhất là hàng năm) chiến lược và chính sách về rủi ro tín dụng của
ngân hàng. Chiến lược này phản ánh sức chịu đựng của ngân hàng đối với rủi ro và
mức độ sinh lời mà ngân hàng dự kiến đạt được khi phải gánh chịu các loại rủi ro
tín dụng.
Nguyên tắc 2: Ban điều hành phải có trách nhiệm triển khai thực hiện chiến
lược rủi ro tín dụng do HĐQT phê duyệt và xây dựng chính sách, quy trình để nhận
dạng, đo lường, kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng. Những chính sách và quy trình
này cần chỉ rõ rủi ro tín dụng trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng ở từng khoản
khoản tín dụng bao gồm cả việc xác định đủ mức dự phòng rủi ro tín dụng.
Nguyên tắc 10: Ngân hàng cần có hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng nội bộ để
quản trị rủi ro tín dụng. Hệ thống định hạng cần phải nhất quán với bản chất, quy
mô và mức độ phức tạp trong hoạt động của ngân hàng.
Nguyên tắc 11: Ngân hàng phải có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân
tích để trợ giúp cán bộ quản lý có thể đo lường rủi ro tín dụng phát sinh trong các
hoạt động trong và ngoài Bảng cân đối kế toán. Hệ thống thông tin quản lý cần cung
cấp đủ thông tin về cơ cấu của danh mục tín dụng để có thể nhận dạng các rủi ro tín
dụng do tập trung vào một ngành, lĩnh vực.
Nguyên tắc 12: Ngân hàng phải có hệ thống giám sát cấu trúc tổng thể và
chất lượng danh mục tín dụng.
17
Nguyên tắc 13: Ngân hàng cần phải đánh giá đầy đủ những biến động và
điều kiện kinh tế có thể xảy ra trong tương lai khi xem xét từng khoản tín dụng cũng
như danh mục cho vay của mình và cần đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong điều
kiện xấu nhất.
Nguyên tắc 14: Ngân hàng phải xây dựng hệ thống rà soát, đánh giá độc lập
và liên tục quy trình quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng, kết quả rà soát phải
được báo cáo trực tiếp Hội đồng quản trị và Ban điều hành.
Nguyên tắc 15: Ngân hàng phải được đảm bảo rằng chức năng cấp tín dụng
được quản lý đúng mức và rủi ro tín dụng được kiểm soát theo các giới hạn và
chuẩn mực nội bộ. Ngân hàng cần thiết lập và thực thi hệ thống kiểm tra nội bộ và
các thông lệ khác để đảm bảo rằng các trường hợp ngoại lệ so với chính sách, quy
trình và hạn mức được báo cáo một cách kịp thời tới cấp quản lý thích hợp để xử lý.
Nguyên tắc 16: Ngân hàng phải có hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản
tín dụng có nguy cơ giảm sút, quản lý các khoản cho vay có vấn đề và các trường
hợp nợ xấu tương tự.
-
Các đảm bảo tín dụng các giá trị tài sản thế chấp, năng lực bảo lãnh, bảo
hiểm của người vay.
Mặt khác, việc dánh giá khách hàng có thể đánh giá qua người lãnh đạo của
doanh nghiệp, các sản phẩm của doanh nghiệp, thị trường của doanh nghiệp.
Áp dụng các biện pháp phân tán rủi ro.
San sẻ rủi ro là một biện pháp được nhiều ngân hàng sử dụng từ trước tới
nay, san sẻ rủi ro có ba hình thức chủ yếu:
- Tránh dồn vốn: Cách phân phối tín dụng tốt nhất đối với một ngân hàng
muốn tránh rủi ro là dải tiền của mình vào nhiều khoản đầu tư, nhiều khách hàng
khác nhau. Không cho vay quá nhiều để sản xuất kinh doanh một hàng hoá đặc biệt
là loại hàng hoá không thiết yếu, Nhà nước không khuyến khích sản xuất, năng lực
cạnh tranh không ổn định quá trình sản xuất kinh doanh dễ gặp rủi ro.
- Liên kết đầu tư: Nhằm cung cấp những khoản tín dụng lớn mà ngân hàng
không đủ khả năng cho vay, khó xác định trước mức độ rủi ro. Các ngân hàng sẽ kết
hợp với nhau thành từng nhóm cùng xem xét đánh giá khách hàng, phân tích khả
năng sinh lời của dự án để đầu tư. Các ngân hàng cùng tham gia đầu tư phải ký với
nhau một hợp đồng liên kết thoả thuận rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng thành
viên.
- Bảo hiểm tín dụng: Là biện pháp rất an toàn, hiệu quả cao. Có 3 hình thức
bảo hiểm tín dụng:
+ Khách hàng vay vốn mua bảo hiểm cho ngành nghề mà họ kinh doanh.
Đây là biện pháp mà khách hàng chủ động trang bị cho mình một sự bảo đảm khi
sản xuất kinh doanh gặp rủi ro. Nguồn tiền từ việc mua bảo hiểm sẽ giúp cho họ
19
ngân hàng.
Đa dạng hóa đầu tư:
20
Việc đa dạng hóa đầu tư và cấp tín dụng là một nguyên lý quan trọng của
việc quản lý kinh doanh của ngân hàng vì nó thực hiện đa dạng hóa mối quan hệ
giữa ngân hàng với khách hàng. Đây cũng là việc phân tán rủi ro trên các món cho
vay. Mặt khác, ta thấy rủi ro tín dụng còn phụ thuộc vào một số yếu tố như tính chất
tín dụng, kì hạn tín dụng... Vì vậy, ngân hàng cần có những quyết định đúng đắn,
hợp lý trong tín dụng để hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1.2.2.3. Cơ cấu tổ chức trong hoạt động Quản trị rủi ro tín dụng của NHTM
Hình 1.2. Mô hình quản trị rủi ro theo 03 cấp độ
21
Hình 1.3. Mô hình quản trị rủi ro tại các NHTM
• Hội đồng quản trị rủi ro: trực thuộc HĐQT,thực hiện giám sát tất cả các loại
rủi ro trong toàn ngân hàng, qua đó sẽ có sự khái quát tổng thể về rủi ro, nhằm đưa
ra được các chính sách đồng bộ, hợp lý, hiệu quả nhất.
Hội đồng quản trị rủi ro có nhiệm vụ :
Đảm bảo rằng tuyên bố chính sách rủi ro về mỗi loại rủi ro được chuẩn bị
để HĐQT phê duyệt.
Đảm bảo rằng chính sách rủi ro đã được thực hiện nghiêm chỉnh.
Quản lý nguồn vốn của ngân hàng.
Đảm bảo xây dựng các hạn mức rủi ro thị trường và tín dụng.
Quản lý Hồ sơ rủi ro tổng thể của RRTN trong các mảng kinh doanh.
Ban Lãnh đạo là thông qua Hội đồng quản trị rủi ro.
Hội đồng quản trị rủi ro thường bao gồm chủ yếu là các thành viên HĐQT
và có nhiệm vụ định hướng rủi ro chiến lược.
Ban Lãnh đạo Cấp cao có trách nhiệm vận hành hoạt động triển khai chác
chính sách về quản trị rủi ro đã được HĐQT phê duyệt.
1.2.2.4. Giải pháp xử lý nợ xấu trong quản trị rủi ro của các NHTM
Xử lý nợ xấu là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động
23
quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM, gốm một số biện pháp như sau:
- Ngân hàng chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ xấu,
chấp nhận giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ. Việc làm này sẽ giúp ngân hàng thương mại
nhanh chóng bù đắp tổn thất, giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp. Đồng thời, có
thể giảm quỹ lương nhưng làm tăng khả năng tài chính nội tại của ngân hàng.
- Ngân hàng chứng khoán hóa các khoản nợ khó đòi. Nếu doanh nghiệp có
lịch sử quản trị kinh doanh tốt, đang gặp khó khăn về nghĩa vụ trả nợ gốc hoặc do
các dự án đầu tư đang triển khai chưa đi vào hoạt động… có thể chuyển một phần
nợ gốc thành trái phiếu trung hạn. Điều này nhằm hỗ trợ thanh khoản và giúp doanh
nghiệp tồn tại, phát triển.
Chuyển nợ quá hạn, nợ xấu thành cổ phần. Đồng thời, chuyển vị thế các
ngân hàng đang là chủ nợ thành cổ đông lớn nắm đa số cổ phần nếu nhận thấy sau
tái cấu trúc doanh nghiệp có khả năng tồn tại và phát triển. Đây là cách thức xử lý
khá phổ biến theo thông lệ thế giới.
- Thực hiện tái cơ cấu cho các Doanh nghiệp khó khăn, mà trọng tâm là tái
cơ cấu tài chính, nhằm nâng cao năng lực của các Doanh nghiệp. Xử lý nợ xấu, tái
cơ cấu các TCTD, các ngân hàng phải đi đôi với việc tiến hành tái cơ cấu DN.
Không thể tồn tại một hệ thống ngân hàng mạnh trên cơ sở một nền kinh tế có các
DN yếu kém.
tuyến vận tải biển.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ xem xét doanh nghiệp vận tải biển dưới
giác độ là doanh nghiệp vận chuyển, xếp dỡ hàng hóa hoặc doanh nghiệp thực hiện
quá trình phục vụ cho hai quá trình trên (môi giới hàng hải, mua bán tàu, mua bán
trang thiết bị hàng hải, phục vụ tàu tại cảng, tư vấn hàng hải,v.v...); không bao gồm
các doanh nghiệp thi công đóng tàu.
1.3.1.2. Khái quát về hoạt động kinh doanh vận tải biển
a) Vị trí
Vận tải đường biển ra đời rất sớm, từ thế kỷ thứ X trước công nguyên. Ngay từ
khi các phương thức vận tải bằng đường sắt, đường hàng không chưa ra đời thì vận
tải đường biển đã được sử dụng một cách phổ biến. Sự phát triển của vận tải đường
bộ, vận tải hàng không, vận tải đường sắt sau này không những không làm giảm vị
trí của vận tải đường biển, thậm chí càng khẳng định vị trí của vận tải đường biển.
25
Vận tải đường biển chuyên chở tới 80% khối lượng hàng hoá, chiếm khoảng 64%
giá trị hàng hoá trong thương mại quốc tế. Có thể khẳng định, vận tải đường biển
giữ một vị trí quan trọng đối với vận chuyển quốc tế.
b) Vai trò
Vận tải biển có mối quan hệ rất chặt chẽ với thương mại thế giới thông qua
việc trao đổi hàng hoá, đặc biệt những giao dịch có khối lượng lớn, tuyến vận
chuyển dài. Vận tải biển thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, góp phần làm thay
đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu thị trường trong thương mại quốc tế.
Theo số liệu thống kê của UNCTAD, chi phí vận tải đường biển chiếm trung
bình 10-15% giá FOB hoặc 8-9% giá CIF của hàng hoá thương mại quốc tế. Chi phí
vận tải càng rẻ, việc chuyên chở hàng hoá càng thuận lợi thì khối lượng vận chuyển
hàng hóa quốc tế càng lớn, là động lực thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.
c) Đặc điểm: