BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ LAN ANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA
CÂY THUỐC NGŨ VỊ TỬ NGỌC LINH (Schisandra
sphenanthera) TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HÀ NỘI, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ LAN ANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA
CÂY THUỐC NGŨ VỊ TỬ NGỌC LINH (Schisandra
sphenanthera) TẠI HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
chuyển giao khoa học công nghệ và phát triển dược liệu– Viện Dược Liệu Hà
Nội. Người đã hướng dẫn và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các Thầy giáo, Cô giáo cùng toàn thể các
cán bộ nhân viên trong Bộ môn Thực vật - Khoa Nông học - Học viện Nông
nghiệp Việt Nam đã quan tâm giúp đỡ tôi và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong
quá trình tôi thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy giáo, Cô giáo trong
Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện để tôi
hoàn thành luận văn thạc sỹ.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Lan Anh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
1
2.
Mục đích, yêu cầu
2
2.1.
Mục đích
2
2.2.
Yêu cầu
2
3.
Ý nghĩa của đề tài
2
3.1.
Ý nghĩa khoa học.
1.3.
Đặc điểm thực vật học.
6
1.4.
Thành phần hóa học và Tác dụng dược lí.
7
1.4.1.
Thành phần hóa học.
7
1.4.2.
Tác dụng dược lí.
9
1.4.3.
Một số bài thuốc từ cây Ngũ vị tử.
10
1.5.5.
Phân bón và cách bón phân
14
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
1.5.6.
Mật độ, khoảng cách
14
1.5.7.
Kỹ thuật trồng và chăm sóc.
15
1.5.8.
Phòng trừ sâu bệnh
15
Đối tượng, vật liệu nghiên cứu.
22
2.1.1
Đối tượng nghiên cứu
22
2.1.2
Vật liệu nghiên cứu
22
2.2.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
22
2.2.1.
Địa điểm
22
2.2.2.
28
3.1.
Đặc điểm thực vật học của cây Ngũ vị tử.
28
3.1.1.
Đặc điểm các cơ quan sinh dưỡng.
28
3.1.2.
Đặc điểm các cơ quan sinh sản của cây Ngũ vị tử.
37
3.2.
Một số đặc điểm nông học của cây Ngũ vị tử.
40
3.2.1.
Khả năng nảy mầm của hạt.
Page iv
3.2.6.
Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sự phát triển đường kính cây
Ngũ vị tử.
49
3.2.7.
Ảnh hưởng của phân bón đến sự tăng trường kích thước lá Ngũ vị tử. 49
3.2.8.
Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sự tăng trường kích thước lá
của cây Ngũ vị tử.
53
3.2.9.
Ảnh hưởng của phân bón đến sự hình thành số nhánh cây Ngũ vị tử. 55
3.2.10.
Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sự hình thành số nhánh cây
Ngũ vị tử.
2.
Kiến nghị
60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
61
PHỤ LỤC
62
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CC
Chiều dài
CR
Chiều rộng
CT
YHCT
Y học cổ truyền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu rễ sơ cấp của cây
Ngũ vị tử Ngọc linh.
29
Bảng 3.2: Kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu rễ thứ cấp của cây
Ngũ vị tử Ngọc linh.
30
Bảng 3.3: Kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu thân sơ cấp của cây
Ngũ vị tử Ngọc linh.
32
Bảng 3.4: Kích thước các phần mô trong phiến lá và gân chính của lá cây Ngũ
vị tử Ngọc linh.
35
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển chiều dài lá cây Ngũ vị tử. 50
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển chiều rộng lá cây Ngũ
vị tử.
51
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái tới sự phát triển chiều dài lá cây
Ngũ vị tử .
53
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái tới sự phát triển chiều rộng lá
cây Ngũ vị tử .
54
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của phân bón đến sự hình thành số nhánh cây Ngũ vị tử. 55
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái tới sự hình thành số nhánh cây
Ngũ vị tử .
Bảng 3.18: Tỷ lệ cây sống trên đồng ruộng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
56
57
Page vii
Hình 3.7: Cấu tạo giải phẫu phần phiến lá cây Ngũ vị tử.
37
Hình 3.8: Cách sắp xếp của hoa cây Ngũ vị tử
38
Hình 3.9: Phẫu diện cắt ngang qua Hoa cái và hình thái bộ nhụy cái.
38
Hình 3.10: Phẫu diện cắt ngang qua Hoa đực và hình thái bộ nhị đực.
38
Hình 3.11: Hình thái quả Ngũ vị tử trồng tại Kontum.
39
Hình 3.12: Hình thái hạt Ngũ vị tử.
40
Hình 3.13: Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ nảy mầm của hạt Ngũ vị tử.
41
Hình 3.14: Ảnh hưởng của độ sâu gieo hạt đến tỷ lệ nảy mầm của hạt Ngũ vị tử. 42
Hình 3.15: Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của cây Ngũ vị tử
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng
và ẩm, nên có nguồn tài nguyên động, thực vật đa dạng và phong phú, trong đó
có rất nhiều loài cây cỏ được chúng ta sử dụng để làm thuốc, điều trị bệnh cho
con người. Theo số liệu điều tra của Viện Dược Liệu (2007), ở nước ta có
khoảng 3.948 loài thực vật được dùng làm thuốc, chúng không chỉ đa dạng về
đặc điểm hình thái mà còn rất đa dạng về kiểu gen và đặc điểm phân bố.
Dược liệu ở nước ta không những là cơ sở của nền y học cổ truyền mà còn
có vị trí rất quan trọng trong nền y học hiện đại, có rất nhiều loài cây thuốc đã
tham gia vào cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, góp phần tạo nguồn nguyên
liệu cho ngành công nghiệp Dược. Trong số những cây được dùng để làm thuốc
thì cây Ngũ vị tử được biết đến với rất nhiều công dụng, xuất hiện nhiều trong
các bài thuốc dân gian. Ngũ vị tử là loài nằm trong danh mục các loài đang được
lưu giữ trong hệ thống bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc.
Ngũ vị tử được biết đến là một vị thuốc kinh điển đã được sử dụng rộng
rãi trong y học cổ truyền, nay đang là nguyên liệu cho nhiều loại thuốc của ngành
công nghiệp dược liệu, nên sản lượng tiêu thụ hàng năm lớn. Ngũ vị tử là vị
thuốc y học cổ truyền phương đông, dùng chữa ho lâu ngày, phế hư, ho tức ngực,
hen suyễn, mỏi mệt, di tinh, tân dịch thương tổn, đoản khí, mạch hư, nội nhiệt
tiêu khát, mất ngủ...
Việt Nam lâu nay vẫn phải nhập khẩu Ngũ vị tử từ Trung Quốc với số
lượng lớn và mức giá cao. Việc phát triển một loài Ngũ vị tử mọc hoang ở núi
Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đã mở ra hy vọng có thể thay thế vị
thuốc nhập khẩu. Đây là cây thuốc lâu năm có khả năng phát triển tạo vùng
nguyên liệu dược thay thế nhập khẩu gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái
cho vùng núi cao. Tuy là cây thuốc rất có giá trị nhưng hầu như chưa có những
nghiên cứu một cách có hệ thống về các đặc điểm nông sinh học. Để có những
thông tin chính xác và chi tiết về đặc điểm hình thái, giải phẫu thực vật học, đặc
3.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Hiện nay nhu cầu tiêu dùng Ngũ vị tử để làm thuốc ngày càng tăng. Tuy
nhiên chúng ta vẫn phải nhập từ Trung Quốc là chủ yếu. Trong khi đó quỹ đất
trồng và nguồn lao động nông nghiệp ở vùng cao rất lớn là cơ hội để người dân
sản xuất Ngũ vị tử theo hướng sản xuất hàng hóa, cải thiện và phát triển kinh tế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
hộ gia đình.
Đề tài cũng góp phần bảo tồn đa dạng sinh học các loài thực vật, giữ gìn
và phát triển nguồn gen cây Ngũ vị tử trong điều kiện biến đổi khí hậu xảy ra.
4. Phạm vi giới hạn của đề tài.
Do điều kiện thời gian nên thí nghiệm về phân bón cho cây Ngũ vị tử
Ngọc linh tại Hà Nội và tại Kontum mới chỉ theo dõi được ở thời kì đầu giai đoạn
sinh trưởng sinh dưỡng của cây.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc, vị trí phân loại và phân bố sinh thái của cây Ngũ vị tử.
Cây Ngũ vị tử có tên khoa học là Schisandra sp., thuộc họ Ngũ vị
(Schisandraceae).Bộ Hồi (Illiciales). Phân lớp: Hoàng liên (Rancunulidae). Lớp:
2 lá mầm (Dicotyledones). Ngành hạt kín: Angiospermae.
Ngũ vị tử còn được gọi là Huyền cập, Ngũ mai tử, Sơn hoa tiêu, Ngũ vị.
hoang, dạng leo phân bố ở Ô Quý hồ, Sa Pa - Lào Cai. Loài này không thấy giới
thiệu làm thuốc.
Theo Đỗ Xuân Bích và cộng sự (2005),thì Ngũ vị tử Bắc (S.chinensis
Baill.) đã được phát hiện ở một số vùng núi cao giáp biên giới Trung Quốc, như
Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát); Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ). Loài này còn gặp nhiều
ở Trung Quốc.
Loài Ngũ vị tử Ngọc Linhcó tên khoa học là: Schisandra sphenanthera
Rehd. et Wils.thuộc Ngũ vị tử nam được phát hiện tại dãy Ngọc Linh thuộc hai
tỉnh Kon Tum và Quảng Nam ở độ cao 1.200 – 1.600 m.Ở Kon Tum, Ngũ vị tử
phân bố ở các huyện Ngọc Lây, Đaktô, Tumơrông, Konblông. Ở Quảng Nam phân
bố chủ yếu ở nam Trà My cây tái sinh tự nhiên bằng hạt. Cây Ngũ vị tử Ngọc Linh
được quan tâm phát hiện năm 2001 và đánh giá phân loại định danh năm 2004 là
loài (Schisandra sphenanthera Rehd.et Wils.) thuộc họ Ngũ vị Schisandraceae, là
một trong hai loài được sử dụng làm dược liệu Ngũ vị tử(Dược điển Việt Nam,
2002. Cây thuốc và động vật làm thuốc tỉnh Kontum, 2007).
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây Ngũ vị tử.
Ngũ vị tử thuộc loại dây leo, sống lâu năm,ưa sống ở nơi có khí hậu ẩm
mát núi cao từ 1200 - 1600 m. Cây thường mọc trùm lên các bụi hoặc cây gỗ nhỏ
ở ven rừng ẩm, bờ nương rẫy hoặc mọc lẫn ở các kiểu rừng non đang tái
sinh.Trong điều kiện môi trường có nhiều ánh sáng, độ che phủ >20%, ẩm độ
mát mẻ thích hợp cho sự hình thành nụ hoa Ngũ vị tử và số lượng hoa cái tăng
đáng kể. Do đó trồng Ngũ vị tử đồng thời chú ý đến cả 2 yếu tố độ ẩm không khí
môi trường và ánh sáng. Phát triển ở dưới tán rừng tự nhiên nên giữ lại những
cây có tán lá rộng, rừng cây gỗ to có bóng mát, độ che phủ từ 30-40% là điều
kiện lý tưởng nhất cho cây Ngũ vị tử sinh trưởng và phát triển. Trong tự nhiên
cây Ngũ vị tử có thể chịu được nhiệt độ thấp tới -42oC. Ngũ vị tử là cây ưa đất
màu mỡ, ẩm, đất mùn có tầng canh tác sâu, đất dễ thoát nước, không chịu được
ngập nước. Ngũ vị tử thường phân bố ở ven rừng, các rừng thưa hoặc những nơi
rừng nguyên sinh bị chặt phá. Phân bố ở các khu rừng gỗ lớn như rừng Dẻ, Óc
thân leo gỗ, dài 3 – 5m rụng lá vào mùa khô (tháng 10-11). Toàn cây không lông,
rất ít gặp trên gân, mặt dưới lá non có lông nhỏ mềm thưa thớt. Khi cây đâm chồi
(tháng 2) vẩy chồi có lông mềm. Cành nhỏ có mầu hồng cánh gián (hồng xỉn), bì
khổng nhiều và rõ, cành già bì khổng không rõ và lớp bần thô sần xùi.Thân cành
có nốt sần, cành non hơi có cạnh. Lá mọc so le, hình trứng đảo, rộng hơn về phía
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
cuối lá,gốc hình nêm, đỉnh nhọn, kích thước lá trung bình dài 5-11 cm, rộng 3-7
cm. Mặt trên lá xanh đậm, mặt dưới lá nhạt mầu hơn. Mép lá có răng cưa thô về
phía cuối lá. Lá có gân hình lông chim.Cuống lá mầu hồng nhạt, dài 2-3 cm. Gân
lá 4-5 đôi, lồi ở mặt dưới, hơi lõm ở mặt trên. Hoa đơn tính, khác gốc, tràng có 69 cánh, màu vàng trắng,có mùi thơm, nhị 5. Hoa mọc ở nách lá, cuống dài 2-4
cm, gốc có phiến bao (vẩy) dài 3-4 mm. Bao hoa nhiều, không phân biệt. Cánh
hoa 5-9 mầu cam, hình trứng đảo dạng tròn dài, kích thước 6-12 x 5-8 mm. Hoa
đực nhị nhiều, thành bó hình trứng đảo, đường kính 4-5mm. Đế hoa lồi hình trụ
tròn, nhị nhiều, ô phấn hướng nội, 2 ô. Hoa cái có 30-60 tâm bì tập hợp thành bó
hình cầu dạng trứng, đường kính 5cm. Trục đế hoa tập hợp quả dài 6-17 cm,
đường kính 4mm, cuống quả dài 5-10cm(Phạm Hoàng Hộ, 1999 và Nguyễn Bá
Hoạt, 2006).
Quả mọng khi chín có mầu hồng sau đỏ sẫm, hình cầu dạng trứng, đường
kính 5-7mm. Hạt tròn màu vàng, hình thận dài 4mm, rộng 3,8mm, rốn hạt hình
chữ v, vỏ hạt lưng có vân sần sùi. Cây thường ra hoa tháng 4-7, ra quả tháng 810.Quả Ngũ vị tử được thu hái vào mùa thu khi chín, phơi khô ngoài nắng hoặc
chỉ phơi khô sau khi đã đồ, loại bỏ cuống và tạp chất. Những quả màu đỏ hay đỏ
tím, thịt dày, mẫm được coi là tốt. Ngũ vị tử Bắc (Schizandra) có quả xếp thành
bông thưa. Ngũ vị Nam (Kadsura) có quả xếp thành đầu hình cầu. Khi chế biến,
lấy dao đồng bổ đôi, tẩm mật đồ ba giờ, ngâm nước một đêm, sấy khô. Làm
thuốc bổ thì dùng Ngũ vị tử chín, làm thuốc ho thì dùng sống. (Võ Văn Chi và
schisandrin, deoxyschisandrin, schisandrin B, schisandrin C, gomisin B, gomisin
C. Quả còn chứa đường, tanin, các chất mầu, tinh dầu, các acid hữu cơ (acid
citric, acid malic, acid tartric), vitamin C, vitamin E. Hạt chứa các chất béo, chất
vô cơ.
Ngoài ra, đã tìm thấy và xác định trong Ngũ vị tử Kon Tum có gomisin B,
các chất khác như anthraglycosid, carotenoid, phytosterol, flavonoid, polyphenol
và tinh dầu (Sở KHCN tỉnh Kontum, 2007).
Hạt chứa dầu béo 33%, dầu dễ bay hơi 1,6%, có chứa các nhóm
lignans. Vỏ và hạt giống có chứa 5% lignans, vỏ rễ có chứa 4,88-12,4%, vỏ cây
có chứa 5,6-9,9%, và tập trung cao nhất vào tháng 6-7 đây là thời kỳ cây ra hoa
và do đó vỏ cây có các thành phần hoạt tính tương tự như trái cây, được sử dụng
cùng một mục đích. Quả Ngũ vị tử có chứa 17 loại axit amin, trong đó có 7 loại
axit amin thiết yếu chiếm 17,7% và các nguyên tố vô cơ theo thứ
tự kali, canxi, magiê, sắt, mangan.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
1.4.2. Tác dụng dược lí.
-Theo Đông y Ngũ vị tử có vị chua, ngọt, mặn, tính ôn, không độc vào hai
kinh phế thận. Nhân hạt có vị cay và đắng, có tác dụng làm ngừng sự phóng
thích, nạp lại khí, tăng sự tiết dịch, bổ thận và làm ra mồ hôi. Quả ăn được.
Thường dùng chữa hen suyễn, ho lâu, ho khan, nhiều mồ hôi, ra mồ hôi trộm, di
tinh liệt dương và mệt mỏi biếng hoạt động. Đặc biệt, hoạt chất chiết từ Ngũ vị tử
có tác dụng chữa viêm gan B rất hiệu nghiệm.
Quả Ngũ vị tử chứa các lignan có tác dụng làm giảm tổn thương gan trong
các trường hợp viêm gan virus mạn tính. Ngũ vị tử được dùng để điều trị viêm
gan mãn tính có hoạt độ transaminase huyết thanh cao, tổn thương gan, mệt nhọc,
thể ứng dụng để chữa chứng sa sút trí tuệ ở người. Ngũ vị tử kết hợp với Táo gai
(Ziziphus spinosa) và Đương quy (Angelica sinensis) tăng sinh tế bào thần kinh
và có thể ngăn ngừa tế bào thần kinh suy thoái. Ngoài ra còn chống tính co giật
do cafein và tăng tác dụng của strychnin.Ngũ vị tử làm sáng mắt, giúp nhìn rõ và
tăng giác quan xúc giác.Bên cạnh đó nó còn được dùng làm thuốc an thần để trị
mất ngủ.
+ Đối với hệ hô hấp:Ngũ vị tử được dùng để chữa bệnh đường hô hấp như
thở hổn hển, khò khè và ho.
+ Đối với hệ tiêu hóa: Ngũ vị tử được dùng để chữa tiêu chảy và kiết lỵ.
Ngũ vị tử còn được dùng để cân bằng mức tân dịch, cải thiện khả năng tình dục,
chữa ngứa, kích thích co bóp tử cung .
Độc tính:Ngũ vị tử có khả năng tác động lên hệ thần kinh trung ương. Vì
dược liệu này có tác dụng hoạt động enzym gan và dạ dày. Ngũ vị tử có thể can
thiệp và chuyển hóa các chất thuốc khác khi uống chung. Toàn bộ phổ tác dụng
trên gan chưa được nghiên cứu sâu rộng và an toàn chưa được nêu rõ. Tuy nhiên,
các nghiên cứu không báo cáo phản ứng phụ.
Kiêng kỵ: Không dùng Ngũ vị tử cho người đang cảm, sốt cao, đang lên
sởi hoặc sốt phát ban.
1.4.3. Một số bài thuốc từ cây Ngũ vị tử.
* Theo Trung Dược Học Ngũ vị tử dùng để điều trị gan viêm nhiễm trùng
không vàng da: Thử nghiệm cho 102 bệnh nhân viêm gan uống bột Ngũ vị tử, tỉ
lệ có hiệu quả là 76 người. Thời gian trung bình để chức năng gan trở lại bình
thường là 25 ngày. Không có tác dụng phụ.
* Theo Nam dược thần hiệu Ngũ vị tử được dùng trong các bài thuốc sau:
+ Chữa thận hư, đái trắng đục, đau eo lưng, cứng xương sống:Ngũ vị tử 1 lạng,
sấy khô tán nhỏ, làm thành viên bằng hạt đậu xanh, uống mỗi lần 30 viên với giấm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
một thang.
+ Điều trị hỗ trợ tai biến mạch máu não (kết hợp với cấp cứu của y học
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
hiện đại): Ngũ vị tử 8g, Mạch môn, Long cốt, Mẫu lệ, mỗi vị 12g, Nhân sâm,
Phụ tử chế, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
+ Chữa chóng mặt, ù tai, mất ngủ, hay quên: Ngũ vị tử 8g, Toan táo nhân,
Hoài sơn, Long nhãn, mỗi vị 12g, Đương quy 8g. Sắc uống ngày một thang.
+ Chữa bế kinh: Ngũ vị tử 40g, Bạch thược 120g, Cam thảo, Hoàng kỳ, A
giao, Bán hạ chế, Phục linh, Đương quy, Sa sâm, Thục địa, mỗi vị 40g. tán nhỏ,
ngày uống 12-20g.
* Ngoài ra Ngũ vị tử còn được dùng trong các bài thuốc chữa bệnh sau:
+ Cơ thể hư nhược, ra nhiều mồ hôi (tự ra nhiều mồ hôi hoặc mồ hôi
trộm): Bá tử nhân 125g, Bán hạ khúc 125g, Mẫu lệ, Nhân sâm, Ma hoàng căn,
Bạch truật, Ngũ vị tử mỗi vị 63g, Đại táo 30 quả. Đại táo nấu nhừ, loại bỏ hạt,
nghiền nát. Các vị khác nghiền chung thành bột mịn, nhào với nước đặc đại táo
để làm hoàn to bằng hạt ngô. Có thể làm dưới dạng bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần
20-30 viên.
+ Chứng phế hư, ho hen suyễn: Đảng sâm 12g, Mạch môn đông 12g, Ngũ
vị tử 6g, Tang phiêu tiêu 12g. Sắc uống.
+ Ích thận, cố tinh: Tang phiêu tiêu 12g, Ngũ vị tử 8g, Long cốt 12g, Phụ tử
12g. Tất cả làm thành viên hoàn, hoặc sắc uống. Chữa thận dương hư, hoạt tinh.
+ Chứng tân dịch không đủ, miệng khô, khát nước: Đảng sâm 12g, Mạch môn
đông12g, Ngũ vị tử 6g. Sắc uống.
+ Di mộng tinh: Ngũ vị tử 100g, Hồ đào nhân 250g. Ngũ vị tử ngâm nước
nửa ngày cho mềm, bóc tách bỏ hạt, đem sao cùng hồ đào, để nguội tán thành bột
sâu bệnh. Hạt được gieo trong bầu hoặc trong vườn ươm, lượng hạt cần cho 1 ha
là 0,5 - 1,0 kg/ha, với khối lượng 1000 hạt là 45 – 50g.
Cây trồng từ hom giâm có tiêu chuẩn chiều cao 20 – 25cm, đường kính
thân từ 0,8 - 1,0 cm. Hom sử dụng làm cây giống là hom bánh tẻ, không sâu
bệnh, chiều dài hom giâm là 30 – 35cm. Hom được giâm trên nền cát ẩm, có lưới
đen che phủ.
1.5.2. Thời vụ trồng
Thời vụ chính là tháng 4 hàng năm cho khu vực vùng núi Trà Linh của
tỉnh Kon Tum. Hoặc có thể trồng trong khoảng tháng 5 và tháng 6.
1.5.3. Đất trồng và kỹ thuật làm đất
Ngũ vị tử có thể phát triển tốt nhất ở vùng đất có cấu trúc tơi, xốp, nhiều
mùn giàu dinh dưỡng, độ ẩm cao, dễ thoát nước, pH 5,0 - 6,5. Cây phát triển tốt
ở điều kiện độ cao 1.300 - 1.600m có điều kiện tưới tiêu tốt. Ngũ vị tử là cây ưa
bóng nên trồng dưới tán rừng có độ che phủ từ 50 - 75% ánh sáng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Đất vườn ươm tốt nhất là loại đất nhẹ, có điều kiện tưới tiêu tốt. Đất vườn
ươm cần cày sâu, bừa kỹ, nhặt hết cỏ dại, lên luống rộng từ 100 - 110 cm, cao 20
- 25 cm, rãnh thoát nước lớn.Đất trồng cây con cần cày bừa kỹ, đập đất nhỏ tơi,
sạch cỏ. Bổ hốc với khoảng cách 1.5m x 3m để trồng.
1.5.4. Kỹ thuật làm giàn leo
Ngũ vị tử là cây thân leo, nên làm giàn là biện pháp tối ưu, giúp tăng chỉ
số diện tích lá, giúp cây tận dụng hết nguồn sáng, tăng hiệu suất quang hợp, phát
triển thân lá. Từ đó tăng năng suất cá thể, tăng năng suất hoa, quả. Loại giàn phù
hợp cho Ngũ vị tử là giàn ngang.
*Cách làm giàn như sau:
*Giai đoạn trồng sản xuất:Cây trồng trên hốc đã bón lót mùn núi và lân,
trồng sâu 5 cm, không quá 10 cm. Khoảng cách trồng 3 m x 1,5 m tương ứng với
mật độ 2.200 cây/1ha .
*Kỹ thuật chăm sóc
- Cần giữ ẩm cho cây để đảm bảo tỷ lệ sống nhưng không để quá ẩm kéo
dài gây bệnh hại thối rễ.
- Giai đoạn đầu thường xuyên kiểm tra, theo dõi để bắt cây leo vào giàn.
Khi cây leo kín giàn phải kiểm tra, tỉa cành để đảm bảo cây không bị quá bóng,
đảm bảo chỉ số diện tích lá thích hợp cho cây quang hợp, sinh trưởng, phát triển,
đạt năng suất và chất lượng quả cao.
- Trước mùa mưa tháng 3 - 4 làm vệ sinh vườn, vét rãnh luống, nhặt cỏ
dại, bón phân, khơi hệ thống thoát nước.
1.5.8. Phòng trừ sâu bệnh
- Phòng bệnh cần thực hiện nghiêm ngặt khâu chọn đất, cày phơi ải, làm
đất kỹ nhặt sạch cỏ dại và giàn mái che đúng chế độ chiếu sáng.
- Chọn cây giống và phân loại cây giống chặt chẽ. Mùa mưa phải thoát
nước kịp thời. Thường xuyên thăm nom đồng ruộng, phát hiện cây sâu bệnh
phải nhổ tập trung đốt ngay, rải vôi bột hay nước tỏi 20% vào gốc để diệt
mầm bệnh.
Cách phòng trừ tổng hợp: Chọn cây giống đúng tiêu chuẩn, không tận
dụng giống lấy trồng cả cây yếu và cây có dấu hiệu bị bệnh, tiêu độc cho cây
giống trước khi trồng. Chọn đất và làm đất đúng quy trình, hệ thống thoát nước
nhanh và kịp thời, vệ sinh đồng ruộng chặt chẽ, không để ánh sáng trực tiếp
chiếu vào cây.
Cây Ngũ vị tử bị một số loại sâu bệnh hại như: sâu xám, khảm lá virus,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15