nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất ở trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LƯƠNG THÙY LINH

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ ĐẤT Ở
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LƯƠNG THÙY LINH

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ ĐẤT Ở
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGHÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ

: 60.85.01.03

nghiệp Việt Nam, được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô đã
truyền đạt cho em những kiến thức về lý thuyết và thực hành trong suốt thời gian
học ở trường. Từ những kết quả đạt được này, em xin chân thành cám ơn:
Quý thầy cô khoa giảng dạy tại khoa Quản lý đất đai – học viện Nông
nghiệp Việt Nam, đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong thời gian
qua. Đặc biệt, là PGS.TS Hồ Thị Lam Trà, người đã tận tình hướng dẫn em hoàn
thành tốt luận văn tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn các thành viên gia đình và phòng Tài nguyên môi
trường huyện Thanh Trì đã tạo cơ hội để em theo học chương trình đào tạo Thạc
sỹ tại trường và tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn của mình.
Do kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót trong cách
hiểu, lỗi trình bày. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô
để luận văn đạt được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016

Tác giả luận văn

Lương Thùy Linh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan ....................................................................................................... i

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii


2.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp .................................... 33
2.3.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu .................................................. 33
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp .................................................. 34
2.3.4. Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích số liệu ............................ 35
2.3.5. Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính ......................................... 35
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................... 36
3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình quản lý và sử dụng
đất đai của huyện Thanh Trì .............................................................................. 36
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh Trì................... 36
3.1.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai huyện Thanh Trì ...................... 41
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình quản lý
và sử dụng đất ............................................................................................. 51
3.2. Giá đất ở một số khu vực đại diện trên địa bàn nghiên cứu ......................... 52
3.2.1. Giá đất ở quy định của một số khu vực đại diện trên địa bàn nghiên
cứu .............................................................................................................. 52
3.2.2. Giá đất ở trao đổi trên thị trường của một số khu vực đại diện trên địa
bàn nghiên cứu ............................................................................................ 57
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất trong khu vực nghiên cứu ..................... 70
3.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất tại khu vực I: ................................. 70
3.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất tại khu vực II: ............................... 73
3.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất tại khu vực III: ............................... 76
3.3.4. Đánh giá chung các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất ở cho toàn huyện .. 78
3.4. Giải pháp để giá đất ở quy định của Nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Trì
phù hợp với giá đất ở trên thị trường.................................................................. 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................... 81

ĐVT

:

Đơn vị tính

GCNQSDĐ

:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

LB

:

Liên bang

ND-CP

:

Nghị định – Chính phủ

QSH

:

Quyền sở hữu


VNĐ

:

Việt nam đồng

VPĐKQSDĐ :

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page v


DANH MỤC BẢNG
STT
3.1.

Tên bảng

Trang

Thực trạng dân số và lao động huyện Thanh Trì giai đoạn 2010 2014 ........................................................................................................ 40

3.8.

Giá đất thị trường và giá đất ở quy định tại khu vực III qua các năm
(2010-2014) ............................................................................................ 68

3.9.

Giá đất thị trường trên đường Phan Trọng Tuệ năm 2014........................ 71

3.10. Giá đất thị trường năm 2014 của khu vực II ............................................ 74
3.11. Giá đất thị trường năm 2014 của khu vực III ........................................... 77

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


DANH MỤC HÌNH
STT

Tên hình

Trang

3.1. Sơ đồ và vị trí huyện Thanh Trì ................................................................. 36
3.2. Biểu đồ so sánh giá đất thực tế và giá đất quy định tại khu vực I từ năm
2010 - 2014 ............................................................................................... 62
3.3. Biểu đồ so sánh giá đất thực tế và giá đất quy định tại khu vực II từ năm
2010 - 2014 ............................................................................................... 66
3.4. Biểu đồ so sánh giá đất thực tế và giá đất quy định tại khu vực III từ năm

thường, giải phóng mặt bằng do người có đất thu hồi có tâm lý chờ đợi giá đất
mới của năm sau cao hơn năm trước và tốn kém về kinh phí, nhân lực, nhất là đối
với khu vực có đất đai ít giao dịch về quyền sử dụng đất hoặc không có biến
động về giá cả thị trường.

Một vấn đề quan trọng khác dễ gây khiếu kiện khi định giá đất tại các dự án
phải thu hồi theo Luật Đất đai 2003 là khi định giá đất khu vực giáp ranh giữa hai
địa phương. Nhất là, tại các dự án, công trình liên tỉnh như các tuyến đường giao

thông, đường cao tốc, đường liên tỉnh hay những dự án thủy điện lớn mà việc thu
hồi đất liên quan đến nhiều địa bàn, nhiều tỉnh. Do giá đất ở mỗi tỉnh quy định
khác nhau nên khung giá đền bù cũng khác nhau, dẫn đến nhiều khi hai nhà sát

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


vách nhưng khi giải phóng mặt bằng tiền đền bù lại khác nhau, dân tới nhiều
người dân không đồng thuận, khó khăn cho công tác giải phóng mặt bằng.
Hiện nay công tác định giá đất của nước ta được quy định khá chặt chẽ
trong Luật đất đai 2013. Định giá đất là cụ thể hoá quyền định đoạt đối với đất đai
của Nhà nước theo quy định tại khoản 5 điều 13 Luật đất đai 2013.
Trên thực tế, Nhà nước khó nắm bắt giá đất trên thị trường vì nó biến động
mạnh mẽ theo thời gian và không gian. Vì vậy để phục vụ cho công tác quản lý
của mình, Nhà nước quy định khung giá các loại đất. Tại điều 112 Luật Đất đai
2013 về giá đất do Nhà nước quy định ghi rõ: “ Việc định giá đất phải bảo đảm
các nguyên tắc sau đây:
a) Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá;
b) Theo thời hạn sử dụng đất;


thay đổi dáng dấp của một khu đô thị mới hiện đại. Tại các xã của huyện Thanh
Trì có tốc độ đô thị hóa rất nhanh; vấn đề quản lý nhà nước về đất đai cũng nhiều
bất cấp, giá đất là một trong những nguyên nhân gây ra những khó khăn vướng
mắc trong công tác bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự
án đầu tư, khi người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính khi được giao đất,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền của người sử dụng
đất... Những bất cập trên dẫn đến tình trạng thắc mắc khiếu kiện của nhân dân

kéo dài, thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội thực thi chính sách pháp
luật về đất đai và khó khăn cho các cấp chính quyền trong việc Quản lý nhà nước
về đất đai tại địa phương và càng có ý nghĩa quan trọng và cấp bách nhằm góp
vào sự thành công của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Xuất phát từ thực tế trên và để giúp phần làm sáng tỏ trong công tác định
giá đất, giúp công tác định giá đất phù hợp với giá thị trường, chúng tôi thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất ở trên địa bàn huyện
Thanh Trì, thành phố Hà Nội”

1.2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu giá đất ở thực tế và giá đất ở do Nhà nước quy định trên địa bàn
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Phân tích chỉ ra các yếu tố chi phối đến giá đất ở.
- Đề xuất yếu tố đưa vào xác định giá đất ở địa phương.
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Các số liệu, tài liệu phản ánh trung thực, khách quan các yếu tố ảnh hưởng
đến giá đất ở.

- Các yếu tố chi phối đến giá đất phù hợp với điều kiện thực tế.


biệt sự khác nhau cơ bản giữa tài sản đất đai và tài sản khác hay còn gọi là tài sản
thông thường. Do đặc tính không thể di dời được của tài sản đất đai nên trong
quan hệ dân sự, kinh tế, xã hội, tài sản đất đai còn được gọi là bất động sản và
đối lập với bất động sản là các loại động sản.

Là một loại tài sản, đất đai được con người đưa vào sử dụng với nhiều
mục đích khác nhau, hình thành các công năng của đất. Thông thường, khi thực
hiện một loại công năng nào đó của đất đai thì ngoài đất, còn phải có một số loại
tài sản nhất định gắn liền với tài sản đất đai; những tài sản này cũng được gọi là
bất động sản và khi thực hiện công năng, cũng như để phát huy công năng của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


mình, còn cần sự hỗ trợ của một số loại tài sản khác gắn liền với nó, chúng tuy có
đặc điểm và công năng riêng so với tài sản gắn liền với đất và khác so với tài sản
đất đai, nhưng vì chúng là một bộ phận cấu thành nên tài sản gắn liền với đất đai

nên cũng được gọi là bất động sản. Tính “bất động” của các loại tài sản gắn liền
với tài sản gắn liền với đất cũng như tính bất động của các loại tài sản gắn liền
với đất trong nhiều trường hợp cũng chỉ mang tính tương đối.
Ví dụ: Máy điều hoà nhiệt độ khí (một loại tài sản) được để trong kho của
một nhà hàng kinh doanh điện máy thì nó là một loại động sản. Nhưng cũng
chiếc máy điều hòa đó, khi được gắn lên tường của một tòa nhà (tài sản gắn liền
với một tài sản là tòa nhà) để thực hiện công năng điều hòa không khí cho toà
nhà (tòa nhà là tài sản gắn liền với tài sản đất đai) thì máy điều hóa không khí là
một thành phần cấu thành nên tòa nhà đó và nó cũng được xem là một loại bất
động sản. Xét về giá trị, khi định giá bất động sản thì trong tổng giá trị của bất
động sản, có phần giá trị của tòa nhà và trong phần giá trị của tòa nhà có phần giá

nhau có thể lựa chọn để phục vụ các lợi ích khác nhau của một người, nhiều
người hoặc toàn xã hội. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến các xung đột về sử
dụng đất giữa người này với người khác, giữa nhóm người này với nhóm người
khác, giữa các cá nhân, nhóm người với toàn xã hội.
Để hóa giải sự xung đột này, về phía Nhà nước - với tư cách là đại diện

cho lợi ích của toàn xã hội - Nhà nước lựa chọn và quyết định công năng của
từng khu vực đất, từng diện tích đất xác định. Kết quả là các quy hoạch sử dụng
đất, quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và ban

hành.
Về phía các thể nhân và pháp nhân - với tư cách là người chủ đất - họ lựa
chọn và tự quyết định mục đích sử dụng đất nào mà nó đem lại lợi ích lớn nhất
cho chính họ và tất nhiên để đảm bảo các lợi ích đem lại là khả thi thì các mục
đích sử dụng đất mà người chủ đất lựa chọn phải phù hợp quy hoạch sử dụng đất,

quy hoạch xây dựng đã được Nhà nước phê duyệt (Bộ Tài nguyên và Môi trường,
2013).
1.1.2 Quyền sở hữu về đất đai
Đối với các nước mà pháp luật thuộc hệ thống Civil law, quyền sở hữu

thường được tiếp cận trên cơ sở quy định mang tính kinh điển của Luật La Mã
cổ. Theo đó quyền sở hữu được hiểu là những hành vi mà chủ sở hữu có thể thực
hiện đối với đối tượng sở hữu trên cơ sở 3 quyền cơ bản, đó là quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên cũng có quan niệm cho rằng quyền
sở hữu gồm 2 quyền năng, đó là quyền sử dụng và quyền định đoạt, theo họ
quyền chiếm hữu chỉ là “hình thức bên ngoài” của quyền sử dụng, quyền định
đoạt là giới hạn của quyền năng sử dụng. Điều đó cũng có nghĩa là coi quyền sở

hữu chỉ có một quyền năng: quyền sử dụng.

thực tế, đem lại lợi ích trước hết cho chủ sở hữu và cho những chủ thể khác có liên
quan (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013).
1.2 Khái quát về giá đất
1.2.1 Khái niệm về giá đất

Giá đất - giá trị đất là giá trị của các quyền và lợi ích thu được từ đất đai
được biểu hiện bằng tiền tại một thị trường nhất định, trong một thời điểm nhất
định, cho một mục đích sử dụng nhất định trên một đơn vị diện tích. Hầu hết

những nước có nền kinh tế thị trường, giá đất được hiểu là biểu hiện mặt giá trị

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


của quyền sở hữu đất đai, hay giá đất là giá bán quyền sở hữu đất. Tuy nhiên, giá
trị của đất đai không phải là giá trị của vật chất, của tài sản đất, mà giá trị của đất
đai do những thuộc tính tự nhiên và xã hội cấu thành, có thể nói đất đai là vô giá

vì nó khác với mọi loại hàng hoá khác. Do vậy, khó có thể tính đúng, tính đủ giá
trị của đất cho nên dù có được định giá bằng các phương pháp khoa học thì giá
đất cũng chỉ là sự ước tính tại một thời điểm trong những giai đoạn nhất định của

nền kinh tế xã hội, để điều chỉnh mối quan hệ giữa những người có quan hệ kinh
tế trong sở hữu, quản lý, sử dụng đất đai.
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho các tổ

chức, hộ gia định và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài theo quy hoạch và kế
hoạch. Giá đất được quy định là giá quyền sử dụng đất. Tại Điều 4 Luật Đất đai

1.2.2.1 Địa tô - nguồn gốc hình thành giá đất
- Quan điểm về địa tô của Adam Smith:
Adam Smith (1723-1790) đại biểu chủ yếu của kinh tế chính trị học cổ
điển Anh, người sáng lập hệ thống lý luận kinh tế chính trị học, trong tác phẩm

“sự giàu có của các quốc gia”, Ông đã trình bày và phân tích một cách có hệ
thống sớm nhất lý luận về địa tô. Ông cho rằng, trong xã hội tư bản có ba giai cấp
cơ bản: giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và giai cấp chiếm hữu ruộng đất; đồng
thời ông phân chia ba loại thu nhập: tiền công, lợi nhuận và địa tô.
Theo Adam Smith, địa tô là phạm trù kinh tế xuất hiện sau khi nẩy sinh
quyền sở hữu ruộng đất, là thu nhập của giá cấp địa chủ trong xã hội tư bản chủ
nghĩa. Ông cho rằng, địa tô ra đời cùng với quyền chiếm hữu ruộng đất, là giá cả
chi trả cho việc sử dụng ruộng đất, là việc giai cấp địa chủ dựa vào quyền chiếm
hữu ruộng đất mà chiếm không một bộ phận thành quả lao động, là thu nhập
không phải lao động mà có. Đồng thời, ông còn liên hệ giữa địa tô với sự độc
quyền của quyền chiếm hữu ruộng đất, coi địa tô là loại giá cả độc quyền. Như
vậy, trên thực tế Adam Smith đã tiến rất gần đến lý luận về địa tô tuyệt đối. Đó là
lý luận thứ nhất của ông về địa tô.
Tuy nhiên, khi phát triển lý luận để lý giải về nguồn gốc của địa tô, Adam
Smith lại cho rằng, địa tô là sản phẩm của sức tự nhiên, là một bộ phận của chi
phí sản xuất. Sự sản sinh địa tô là kết quả của sức tự nhiên tham gia vảo sản xuất
nông nghiệp, nó là thù lao mà người sở hữu ruộng đất thu được nhờ việc nhà tư
bản nông nghiệp sử dụng sức tự nhiên và ông cho rằng, địa tô là một trong những
nguồn gốc của giá trị, là bộ phận cấu thành giá trị sản phẩm. Đó là lý luận thứ hai
của ông về địa tô.
Từ lý luận về cơ cấu giai cấp và thu nhập cơ bản của các giai cấp trong
xã hội tư bản chủ nghĩa, ông kết luận: giá trị của mọi sản phẩm đều được cấu
thành từ ba bộ phận thu nhập là: địa tô, tiền công, lợi nhuận. Hay nói cách khác,
giá trị hàng hoá đất đai được cấu thành từ địa tô, tiền công và lợi nhuận.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

lượng nông sản thu được sẽ khác nhau;
Hình thức thứ hai là địa tô được tạo ra trên cùng một mảnh đất, liên tục
được đầu tư lượng tư bản và lao động như nhau, nhưng năng suất khác nhau, nghĩa

là mỗi lần đầu tư thì thu được số sản phẩm khác nhau.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


Ông cho rằng, do tác dụng màu mỡ của đất đai ngày càng giảm trên cùng
một mảnh đất, liên tục tăng đầu tư tư bản và lao động như nhau, sản lượng tăng
thêm vẫn dần dần ít đi. Do vậy, đầu tư ban đầu trên mảnh đất này thu được lợi
nhuận siêu ngạch và hình thành địa tô.
Lý luận địa tô của Ricardo được xây dựng trên cơ sở lý luận giá trị lao
động. Theo Ông, địa tô là do lợi nhuận siêu ngạch chuyển hóa thành và cũng chỉ rõ

hai hình thái địa tô cấp sai, từ đó xây dựng hệ thống lý luận địa tô. Nhưng lý luận
địa tô của ông vẫn còn nhiều sai lầm, thiếu sót:

Thứ nhất, tuy ông nhận thức được rằng địa tô sản sinh ra từ sở hữu đất đai,
nhưng chính Ông lại coi nhẹ quyền tư hữu đất đai, không phân biệt rõ sự khác
nhau giữa địa tô phong kiến với địa tô tư bản chủ nghĩa.
Thứ hai, Ông đã coi điều kiện hình thành địa tô cũng là nguyên nhân hình
thành nên nó.
Thứ ba, Ông đã gắn địa tô cấp sai với sự canh tác trên những thửa đất tốt,
xấu và đưa ra “quy luật màu mỡ của đất đai ngày càng giảm” là không chính xác.
Thứ tư, trong lý luận địa tô, tuy Ông không thừa nhận hoàn toàn luận thuyết
về giá trị hàng hoá đất đai được cấu thành từ địa tô, tiền công và lợi nhuận của

+ Địa tô tuyệt đối là một hình thức cơ bản của địa tô tư bản chủ nghĩa do
người sở hữu đất đai nhờ quyền chiếm hữu đất đai mà có; là số dư của giá trị
hàng nông sản vượt quá giá cả sản xuất mà người làm nông nghiệp tạo ra; khoản
này không kể đất tốt hay xấu, người thuê đất đều phải nộp cho người sở hữu đất.
Theo C.Mác, sự độc quyền tư hữu đất đai là nguyên nhân căn bản hình thành nên
địa tô tuyệt đối. Trong các nước tư bản hiện đại, cấu thành hữu cơ của tư bản

trong nông nghiệp bằng, thậm chí cao hơn trong công nghiệp, trong bối cảnh đó,
địa tô tuyệt đối sẽ không phải là số chênh giá trị hàng nông sản cao hơn giá cả

sản xuất, mà là phát sinh từ giá cả độc quyền.
Từ các kết quả nghiên cứu về địa tô, Mác đã chỉ ra hạn chế của Adam
Smith khi cho rằng địa tô là một bộ phận cấu thành giá trị đất đai, đã chỉ ra sai
lầm lớn nhất của Ricardo khi cho rằng không có sự tồn tại của địa tô truyệt đối
trong xã hội tư bản chủ nghĩa, đồng thời khẳng định một cách dứt khoát rằng: địa
tô không phải là một bộ phận cấu thành giá trị đất đai, rằng đất đai là loại vật
chất tự nhiên và là sản phẩm phi lao động. Nhưng đất đai là loại tài sản đặc thù
mà người ta chiếm giữ khi nó là hàng hóa mua bán thì nó có giá. Mục đích mua
đất của người ta là mua quyền lợi thu tiền cho thuê đất, cho nên giá đất trên thực

tế là không phải là giá mua đất mà là giá mua tiền thuê đất. Giá đất đai quyết
định trực tiếp bởi tiền thuê đất là bao nhiêu và mức lợi tức cao hay thấp: khi

lượng tiền thuê đất không thay đổi, giá đất đai tỷ lệ nghịch với mức lợi tức, khi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


mức lợi tức không thay đổi thì giá đất đai tỷ lệ thuận với tiền thuê đất. Từ đó cho

đất để có địa tô. Còn nếu lãi xuất ngân hàng mà giảm xuống thì số tiền bỏ ra mua
đất phải tăng lên do người bán không muốn bán với giá thấp, họ để đất thu được
địa tô cũng lớn hơn thu thập do lượng tiền bán đất gửi vào ngân hàng, lúc này giá
đất phải tăng lên người bán mới chấp nhận. Vì vậy nhà tư bản kinh doanh muốn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


sử dụng đất tốt phải xác định giá cả. Trong quá trình phát triển kinh tế của xã hội
thì lãi xuất có xu hướng giảm do giá đất ngày càng tăng, việc kinh doanh đất đai
luôn có lãi. Người bán đất căn cứ vào lãi xuất ngân hàng làm cơ sở để xác định
giá đất. Đương nhiên đó phải là lãi xuất phổ biến và có tính bình quân trong
khoản thời gian tương đối dài để loại trừ ảnh hưởng của nhân tố cá biệt. Trong
phạm vi nền kinh tế quốc dân có thể nói lãi xuất của mỗi ngân hàng là như nhau,
không kể ở nông thôn hay thành thị. Như vậy, lãi xuất ngân hàng chỉ quyết định
giá đất đai nói chung, chứ không quyết định giá đất đô thị cao hơn đất nông
nghiệp. (Hồ Thị Lam Trà, Nguyễn Văn Quân, 2006).
1.2.2.3 Quan hệ cung cầu
Trong thị trường tự do hoàn toàn, giá cả của hàng hóa thông thường được
quyết định tại điểm cân bằng của quan hệ cung cầu. Cầu vượt cung thì giá cả
tăng cao, ngược lại, cung vượt cầu thì giá cả tất phải hạ xuống, đó là nguyên tắc
cân bằng cung cầu. Điều kiện hình thành là: (1) Người cung cấp và người tiêu
dùng đều cạnh tranh về hàng hóa có cùng tính chất. (2) Những hàng hóa có cùng
tính chất tự do điều chỉnh lượng cung theo biến động giá cả. Đất đai cũng vậy,
giá cả đất đai cũng phụ thuộc mối quan hệ cung cầu quyết định. Nhưng vì đất
đai, khác các loại hàng hóa thông thường là có tính tự nhiên, nhân văn, nên

không hoàn toàn vận hành theo nguyên tắc cung cầu nói trên mà hình thành theo
nguyên tắc cung cầu riêng.

mật độ dân cư; mức tăng trưởng kinh tế; mức thu nhập bình quân của người dân
tại địa phương; khả năng của hệ thống giao thông, tỷ lệ lãi xuất ngân hàng.
Mặc dù tổng cung của đất đai là cố định, nhưng lượng cung của một loại
đất cụ thể hay cho một sử dụng cụ thể thì có thể tăng lên hoặc giảm xuống thông

qua việc điều chỉnh cơ cấu giữa các loại đất. Có thể thấy khi đất nông nghiệp, đất
phi nông nghiệp hoặc đất chưa sử dụng ở ngoại vi một thành phố được điều
chỉnh theo quy hoạch nhằm chuyển một số lớn diện tích này sang mục đích làm
khu dân cư đô thị. Cung về đất ở tại đô thị đó vì thế mà tăng lên. Sự tăng số
lượng diện tích đất ở tại đô thị sẽ làm chậm sự tăng giá đất ở của khu vực này.
Bên cạnh đó sự phát triển và tăng trưởng liên tục về kinh tế của một khu vực nào
đó dẫn đến nhu cầu sử dụng đất ngày một nhiều hơn cho tất cả các ngành kinh tế,

vì thế giá đất ngày một cao hơn. Bằng chứng là các thửa đất ở bị chia cắt ngày
một nhỏ hơn và thay thế vào những khoảng đất trống là những căn nhà cho hộ
gia đình. (Hồ Thị Lam Trà, Nguyễn Văn Quân, 2006).
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất ở

Từ kết quả nghiên cứu về thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
bất động sản ở nước ta trong những năm qua, nhóm nghiên cứu bước đầu khái
quát các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất theo các nhóm sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15


- Nhóm các yếu tố về tự nhiên, kinh tế, pháp lý, tâm lý, môi trường gắn với
thửa đất
- Nhóm các yếu tố liên quan đến thị trường
- Nhóm các yếu tố liên quan đến nhà nước và pháp luật



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status