SKKN VAI TRÒ GIẢNG dạy CÁCH báo cáo THUẾ TRONG DOANH NGHIỆP đối với học SINH KHỐI TRUNG cấp CHUYÊN NGHIỆP - Pdf 35

MỤC LỤC
Trang
I. Phần mở đầu
I.1 Lý do chọn đề tài
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
I.3. Đối tượng nghiên cứu.
I.4. Phạm vi nghiên cứu
I.5. Phương pháp nghiên cứu
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận
II.1.1. Sự cần thiết của đào tạo theo nhu cầu thị trường
II.1.2. Một số vấn đề về thuế và thuế giá trị gia tăng
II.1.3. Kinh nghiệm về công tác giảng dạy thuế trong cả nước
II.2. Thực trạng về công tác giảng dạy cách báo cáo thuế đối với học sinh
khối trung cấp chuyên nghiệp ngành kế toán tại trường trung cấp Kinh tế Kỹ thuật ĐăkLăk.
II.2.1. Đặc điểm tình hình nhà trường
II.2.1.1 Đặc điểm tình hình chung

2
4
4
4
4
6
6
6
7
10
13

II.2.1.2 Đặc điểm tình hình tại khoa kinh tế

đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện
tượng xã hội do chính con người định ra, nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và
pháp luật. Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một
phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước. Để nền tài chính quốc gia trở nên lành mạnh phải dựa chủ yếu vào
nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân đó, vì thế thuế là một công cụ quan
trọng góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát
triển lâu dài của đất nước.
Việt Nam đang từng bước tiến tới hội nhập nền kinh tế thế giới. Để bắt
kịp tiến trình này chúng ta cần phải có những cải cách nhằm phù hợp và thích
nghi với điều kiện, hoàn cảnh của nền kinh tế thế giới. Trong đó việc thực hiện
cải cách về thuế là một vấn đề hết sức quan trọng nhằm tăng sức cạnh tranh của
Việt Nam về thương mại mậu dịch trên thương trường quốc tế. Tại kì họp lần
thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia
tăng và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01-01-1999. Từ khi ra đời cho đến nay,
thuế giá trị gia tăng đã chiếm vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống thuế của
nước ta.
Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu, người tiêu dùng là người
chịu thuế nhưng người bán hàng lại là người nộp thuế, như vậy có nghĩa là
những người bán hàng hay những doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế hàng
tháng theo quy định và để thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ cục thuế đã đưa ra
biểu mẫu kê khai thuế giá trị gia tăng hàng tháng chung cho tất cả các đối tượng
nộp thuế, điều này đồng nghĩa với việc mỗi doanh nghiệp phải có một kế toán
để kê khai thuế một cách thường xuyên.

3


Nắm bắt được tình hình thực tiễn đó và nhận thức được tầm quan trọng
của thuế đối với sự phát triển của đất nước, trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về việc giảng dạy báo cáo thuế
trong doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng về công tác giảng dạy cách báo cáo thuế đối với học
sinh khối trung cấp chuyên nghiệp ngành kế toán tại trường trung cấp Kinh tế Kỹ thuật ĐăkLăk
- Đề xuất một số giải pháp để tăng cường và nâng cao công tác giảng dạy
cách báo cáo thuế đối với học sinh khối trung cấp chuyên nghiệp ngành kế toán
tại trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật ĐăkLăk
I.3. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là công tác giảng dạy cách báo cáo thuế đối với học
sinh khối trung cấp chuyên nghiệp ngành kế toán tại trường trung cấp Kinh tế Kỹ thuật ĐăkLăk
I.4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: nội dung giảng dạy cách báo cáo thuế GTGT trong
doanh nghiệp, bao gồm: Pháp luật về thuế, các thông tư ban hành về thuế giá trị
gia tăng; Biên bản hướng dẫn kê khai thuế giá trị gia tăng; Các biểu mẫu kê khai
thuế giá trị gia tăng.
- Phạm vi không gian: Học sinh khối trung cấp chuyên nghiệp chuyên
ngành kế toán tại trường trung cấp Kinh tế - Kỹ Thuật Đăklăk.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thu thập trong năm học 2011-2012.
I.5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
+ Nghiên cứu tài liệu: Sách, báo, báo điện tử có liên quan.
+ Điều tra, phỏng vấn học sinh sau khi ra trường về nhu cầu đào tạo
cách báo cáo thuế và học sinh đang học tại trường chuyên ngành kế toán về chất
lượng thực hành nghiệp vụ báo cáo, kê khai thuế.

5


+ Phỏng vấn bán cấu trúc đối với cán bộ, giáo viên về thực trạng
đào tạo cách báo cáo thuế đối với học sinh khối trung cấp chuyên nghiệp ngành

đồng ý hợp tác”. Rồi ông nhấn mạnh: Như thế làm sao các trường nắm được
thông tin cũng như nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp để có hướng đào
tạo cho phù hợp.
Thiếu thông tin lẫn nhau giữa đơn vị đào tạo và các doanh nghiệp sử dụng
lao động, nên chất lượng đào tạo không đáp ứng nhu cầu thị trường. Bên cạnh
đó, chất lượng giáo viên cũng là vấn đề được nhiều doanh nghiệp đề cập đến.
7


Suy cho cùng, sức lao động là một loại hàng hóa (hàng hóa đặc biệt). Khi là
hàng hóa thì sản phẩm làm ra phải bán được, phải đáp ứng nhu cầu thị trường.
Thế nhưng, chất lượng đào tạo về nghiệp vụ tại các trường Trung cấp chuyên
nghiệp hiện nay vẫn chưa đáp ứng yêu cầu này.
Chính sự thiếu định hướng thông tin thị trường cùng chất lượng đào tạo
chưa bảo đảm khiến cho khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng ngày càng xa
nhau. Chính vì vậy, làm thế nào để sinh viên khi tốt nghiệp phải là sản phẩm
“được mua” hơn là những sản phẩm được đem đi bán. Việc tăng cường đầu tư
công tác giảng dạy nghiệp vụ báo cáo thuế đối với học sinh ngành kế toán là rất
cần thiết giúp học sinh sau khi ra trường nhanh chóng tiếp cận với công việc
thực tiễn tại doanh nghiệp.
II.1.2. Một số vấn đề về thuế và thuế giá trị gia tăng
Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Được gọi là thuế GTGT vì thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua
mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, và tổng số thuế thu được ở mỗi
khâu bằng chính số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Về bản chất, thuế GTGT do các nhà sản xuất kinh doanh nộp hộ người
tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán mà người tiêu dùng phải
thanh toán. Do vậy, thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Người tiêu dùng hàng
hóa là người chịu thuế.

dịch vụ xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từ đó
khuyến khích xuất khẩu tăng trưởng mạnh qua các năm, cụ thể là:
- Việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu phù hợp với thông lệ
quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các cam kết trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế

9


Theo cam kết khi hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta phải cắt giảm thuế
nhập khẩu, đồng thời phải bãi bỏ các khoản trợ cấp trực tiếp từ ngân sách cho
doanh nghiệp, việc thu thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu, hoàn thuế cho
hàng hoá xuất khẩu đã góp phần điều chỉnh cơ chế kinh tế phù hợp với thông lệ
quốc tế nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu hàng
hoá, dịch vụ, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước và bù đắp cho Ngân sách phần
thiếu hụt do cắt giảm thuế nhập khẩu.
- Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng và ổn định của NSNN, tăng cường
tài chính quốc gia, đảm bảo nguồn lực để phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói,
giảm nghèo và củng cố an ninh, quốc phòng
Năm 1999 số thu từ thuế GTGT là 17.113 tỷ đồng, chiếm 23% trong tổng
thu NSNN tổng thu từ thuế, phí và lệ phí, đến năm 2007, các con số này là
72.022 tỷ đồng tương ứng là 30,6%. Số thu thuế GTGT năm sau so với năm
trước tăng bình quân là 19,13%. Dự báo trong những năm tới, số thu từ thuế
GTGT vẫn giữ vai trò quan trọng cho ngân sách quốc gia.
- Thuế GTGT đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện pháp luật về kế toán,
thuế của doanh nghiệp, từ đó, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, hiện
đại hoá và đổi mới phương thức quản lý thuế
Áp dụng thuế GTGT vừa đặt ra yêu cầu, vừa tạo điều kiện để cơ quan
thuế hiện đại hoá, đổi mới phương thức quản lý thuế (chuyển từ cơ chế cơ quan
thuế trực tiếp tính thuế và ra thông báo nộp thuế sang cơ chế đối tượng nộp thuế

báo, đài; đối thoại trực tiếp; trang thông tin điện tử của ngành; thi tìm hiểu pháp
luật... Tuy vậy, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thuế hiện nay vẫn chưa
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, do nhiều nguyên nhân. Ở các cấp
học phổ thông, giáo dục về thuế chưa trở thành một môn học chính thức, chưa
có chương trình giảng dạy và sách học chính thống giáo dục về thuế. Ở cấp đại
học, thuế mới chỉ được giảng dạy tại một số khoa ở các trường kinh tế. Ngoài
11


khoa giảng dạy chuyên về thuế thì nội dung giảng dạy ở các khoa khác mới chỉ
đề cập tới những vấn đề cơ bản nhất của thuế như khái niệm về thuế, chức năng
của thuế, bản chất của thuế, phân loại thuế, hệ thống thuế... Xuất phát từ thực
tế đó, đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
thuế cho người dân ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nhằm trang bị
những kiến thức cơ bản về thuế để khi trở thành chủ thể kê khai, nộp thuế thì tự
giác chấp hành tốt chính sách thuế của Đảng và Nhà nước.
Nội dung giảng dạy đối với từng cấp học được định hướng rõ ràng. Đối
với cấp Tiểu học chỉ đưa nội dung về mối quan hệ giữa thuế và cuộc sống của
con người: tác dụng của thuế với các hoạt động hàng ngày của con người; công
trình, dịch vụ công cộng sử dụng tiền thuế; thuế là gì, tại sao cần tiền thuế? tại
sao cần phải nộp thuế?... Đối với cấp Trung học cơ sở cần nâng cao hơn một
bước: tìm hiểu về Tài chính quốc gia như thu-chi ngân sách nhà nước; khái niệm
và ý nghĩa của thuế; những phúc lợi xã hội mang lại từ thuế; tìm hiểu về thuế
qua các thời kỳ; pháp luật về thuế... Đối với cấp trung học phổ thông, cần đưa
các nội dung tìm hiểu bản chất, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của thuế; khái
quát hệ thống thuế Việt Nam; phân biệt giữa thuế và phí, lệ phí...; lịch sử hình
thành thuế trên thế giới; chế tài xử lý vi phạm về thuế...
Để triển khai chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật thuế vào các cấp
học đường đạt kết quả cao, ngành Thuế Hoà Bình đang tiến hành xây dựng nội
dung, chương trình và các bước triển khai đề án và sẽ tiến hành theo ba giai

tại đây đã thu hút được đông đảo học sinh, sinh viên tham gia, được sự nhất trí,
đồng thuận cao của các cấp, các ngành. Theo Cục trưởng Cục thuế Yên Bái
Nguyễn Văn Chung, hạn chế của đề án là chưa nâng cao được toàn diện ý thức
học sinh về thuế; việc đẩy mạnh tuyên truyền để học sinh thấy rõ ý nghĩa, vai
trò, tầm quan trọng của luật thuế còn hạn chế, đôi khi còn mang tính hình thức.
Đây là thực trạng đang còn tồn tại ở nhiều tỉnh, thành. Ông Chung trăn trở: “Cần
để kiến thức giáo dục luật thuế là hành trang tương lai cho mỗi học sinh vào đời.
Điều đó rất cần sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa của các cấp, ngành địa phương”.
13


II.2. Thực trạng về công tác giảng dạy cách báo cáo thuế đối với học sinh
khối trung cấp chuyên nghiệp ngành kế toán tại trường trung cấp Kinh tế Kỹ thuật ĐăkLăk.
Dựa trên cơ sở lý luận đã trình bày, có thể nhận thấy rằng tất các các cơ
sở kinh doanh, các doanh nghiệp đều phải thực hiện nghĩa vụ kê khai và nộp
thuế giá trị gia tăng đối với Nhà nước. Đây cũng chính là nhiệm vụ hàng tháng
và thường niên của mỗi nhân viên kế toán trong các doanh nghiệp. Chính vì vậy,
nội dung đào tạo nghiệp vụ thuế là không thể thiếu trong chương trình đào tạo
ngành kế toán tại trường Trung cấp chuyên nghiệp.
II.2.1. Đặc điểm tình hình nhà trường:
II.2.1.1 Đặc điểm tình hình chung:
Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật ĐăkLăk được thành lập theo Quyết
định số 1549/QĐ-UBND, ngày 28/8/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk trên
cơ sở nâng cấp Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp Hướng nghiệp Buôn Ma Thuột.
Trường có 4 phòng chức năng (Phòng tổ chức hành chính; phòng tài chính
kế toán; phòng quản lý học sinh ; phòng đào tạo) và 5 khoa chuyên môn (Khoa
lao động hướng nghiệp; Khoa đao tạo lái xe; Khoa công nghệ thông tin; Khoa cơ
bản và khoa kinh tế tài chính ). Tổng số cán bộ, công chức, nhân viên của trường
là 75. Trong đó Thạc sĩ: 5; Đại học: 52 ; Cao đẳng: 06. Về chuyên môn nghiệp vụ
hầu hết cán bộ, giáo viên đã được đào tạo đáp ứng với nhiệm vụ được giao.

- Trường tọa lạc ngay trung tâm thành phố, trên trục đường chính giao
nhau giữa đường Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, thuận tiện cho việc đi lại
và liên hệ với các cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
- Cơ sở vật chất của trường đảm bảo phục vụ gần 2000 học sinh, sinh viên
học tập và sinh hoạt phong trào đoàn thể; có đủ nơi làm việc, nhà công vụ đáp
ứng được yêu cầu cho cán bộ, giáo viên nhà trường.
- Đội ngũ cán bộ nhân viên, giáo viên có trình độ, có nhiệt huyết với công
tác giáo dục.
15


- Ban lãnh đạo nhà trường luôn chú trọng đầu tư cho công tác giảng dạy
đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để nâng cao trình độ cho cán bộ nhân viên,
giáo viên trong nhà trường.
- Nhà trường luôn có những chính sách ưu tiên, động viên, khuyến khích
đối với học sinh – sinh viên.
- Nhà trường luôn nêu cao chủ trương học đi đôi với hành để nâng cao kỹ
năng nghề nghiệp và kỹ năng sống cho học sinh sau khi các em tốt nghiệp ra
trường.
- Nhà trường luôn đi đầu trong việc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến
vào công tác giảng dạy.
b. Khó khăn.
- Do chưa có bề dày lịch sử nên lực lượng giáo viên cơ hữu còn mỏng;
chưa cân đối được giữa giáo viên và nhân viên.
- Đầu vào của học sinh còn thấp, một số học sinh có ý thức học tập chưa
cao, còn ham chơi chưa xác định rõ tư tưởng học tập.
- Đội ngũ giáo viên hầu hết đều còn trẻ tuổi nên chưa có nhiều kinh
nghiệm trong công tác giảng dạy.
II.2.2.Thực trạng về kinh nghiệm giảng dạy cách báo cáo thuế của nhà trường
• Về chương trình giảng dạy.

nghiệp ra trường chỉ có 20% số học sinh trên đã thấy qua mẫu báo cáo thuế, trên
90% học sinh chưa được thực hành về kê khai cũng như báo cáo thuế.

17


II.2.3. Các giải pháp nâng cao vai trò giảng dạy cách báo cáo thuế cho học
sinh ngành kế toán tại trường trung cấp.
- Nhà trường cần mở thêm các khóa dạy chứng chỉ về nghiệp vụ kê khai
và báo cáo thuế ngoài giờ học để học sinh có cơ hội tiếp cận với thực tiễn. Thêm
vào đó cần thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu giữa doanh nghiệp với học
sinh để tăng cường mối tương tác giữa các bên. Học sinh có thể nhận thức rõ
hơn những yêu cầu thực hành mà doanh nghiệp cần ở mình là gì. Đồng thời
doanh nghiệp cũng có quan sát và nhận định toàn diện hơn về nguồn nhân lực
tương lai của đơn vị mình để đưa ra những chiến lược đào tạo phù hợp.
- Đối với những môn học thực hành, đòi hỏi kinh nghiệm thực tiễn và kỹ
năng chuyên nghiệp trong báo cáo thuế, cần mời các kế toán có nghiệp vụ và
thời gian làm báo cáo thuế thực tế tại các đơn vị doanh nghiệp hoặc mời trực
tiếp các cán bộ thuế về trường giảng dạy để nâng cao chất lượng học sinh đồng
thời nâng cao uy tín của trường đối với xã hội nói chung và ngành giáo dục nói
riêng.
- Bản thân mỗi giáo viên chuyên ngành kế toán phải xác định được vai trò
và tầm quan trọng của nghiệp vụ báo cáo thuế, cần chủ động hơn nữa trong công
tác giảng dạy, trao đổi và đề xuất những giải pháp giúp cải thiện chất lượng dạy
bài học báo cáo thuế. Giáo viên cần sát sao hơn trong việc tiếp cận và theo dõi
quá trình học, thực hành của học sinh để kịp thời phản ánh trong các buổi họp
chuyên môn.
- Giáo viên cần tăng cường công tác tự bồi dưỡng, học tập nâng cao trình
độ của giáo viên chuyên ngành kế toán dưới sự chỉ đạo, theo dõi hướng dẫn của
Trưởng khoa Kinh tế và Ban giám hiệu nhà trường, cần chú ý đặc biệt đến bồi

Muốn thực hiện tốt được điều này đòi hỏi sự phối kết hợp của không chỉ
Ban giám hiệu, các Phòng ban có liên quan mà còn cần sự hợp tác chặt chẽ của
các cán bộ giáo viên, sự ủng hộ của học sinh ngành kế toán.
Những phân tích, đánh giá và giải pháp được đề cập đến trong đề tài hi
vọng sẽ giúp cải thiện chất lượng đầu ra của chuyên ngành kế toán, để thương
hiệu giáo dục ngành kế toán tại trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật ĐăkLăk
ngày càng được khẳng định đối với các doanh nghiệp và những nhà tuyển dụng.
Do hạn chế về mặt thời gian và phạm vi thời gian nghiên cứu nên đề tài
chắc chắn không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự đánh giá,
thẩm định của Ban lãnh đạo để có thể đưa vào thực tiễn. Tôi xin chân thành cảm
ơn!

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006;
2. Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế
3.Luật số 13/2008/QH12; Luật thuế giá trị gia tăng.
4. Hướng dẫn thực hành lập sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo thuế.
GTGT theo phương pháp thủ công / Đặng Văn Sáng . - NXB. : Giao thông Vận
tải, 2009 .
5. Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ : Ban hành theo Quyết định số
48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính / Bộ Tài Chính
. NXB :
Thống kê, 2007 .
6. Chế độ kế toán Việt Nam / Bộ Tài chính . - NXB : Lao động Xã hội, 2008 .
7. www.ctu.edu.vn/colleges/law/vietnamese
8. http://www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=612&ItemID=28115


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status