Sự hình thành và phát triển những luận điểm cơ bản của mác – ăngghen về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân liên hệ với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân việt nam - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1.

Lý do và tính cấp thiết của đề tài:
Trong suốt nhiều thế kỷ qua, các nhà tư tưởng tiến bộ của loài người
đã cố sức một cách khó nhọc và uổng công nhằm giải quyết vấn đề thủ tiêu sự
bất bình đẳng xã hội. Mỗi một giai đoạn lớn của lịch sử toàn thế giới đều có ý
định phát hiện những quy luật của sự phát triển xã hội trong cái mớ bòng
bong những hiện tượng và sự kiện xã hội. Vì vậy tất cả các thời đại lịch sử
đều để lại những học thuyết, những dấu vết nào đó của sự tìm tòi lý luận. Tuy
nhiên, cho đến khi sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác – Lênin thì mới có sự
chuyển biến căn bản trong lĩnh vực lý luận về chủ nghĩa xã hội. Các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã thực hiện một cuộc cách mạng khoa học
trong toàn bộ lĩnh vực những quan điểm xã hội, trong đó điển hình có lý luận
về học thuyết sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là trọng tâm
của chủ nghĩa xã hội nói riêng cũng như chủ nghĩa Mác nói chung. V.I.Lênin
viết: “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò
lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ
nghĩa”.
C.Mác – Ăngghen là những người đầu tiên nhìn giai cấp công nhân
không chỉ là một giai cấp đang bị đau khổ, mà còn với tư cách là chủ thể sáng
tạo lịch sử, có sứ mệnh lịch sử cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới bằng
việc thực hiện một cuộc cách mạng to lớn. Hai ông đã chỉ ra người đại biểu
của LLSX và QHSX mới, người bảo vệ tất cả tập đoàn, các giai cấp bị bóc lột
khác, người thực hiện công cuộc giải phóng xã hội loài người không phải ai
khác ngoài giai cấp công nhân.
Tuy nhiên, đến những năm 90 của thế kỷ XX, do những nhân tố
khách quan và chủ quan đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu.
Trước tình hình đó, nhiều người đã tỏ ra hoang mang dao động và hoài nghi
về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch

2.
2.1.

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Giới hạn về khách thể nghiên cứu:

2


Khách thể nghiên cứu của đề tài này là quá trình xây dựng học thuyết
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân của C.Mác – Ph.Ăngghen và liên hệ
với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam.
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:

2.2.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung học thuyết sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân của C.Mác – Ph.Ăngghen và sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân Việt Nam.
Giới hạn khảo sát đề tài:
Quá trình hình thành và phát triển lý luận về học thuyết sứ mệnh lịch

2.3.

sử của giai cấp công nhân được các nhà kinh điển Mác – Ăngghen nghiên cứu
từ tổng kết thực tiễn. Mác – Ăngghen quan tâm đến vấn đề này ngay từ khi
hai ông mới bắt đầu hoạt động. Các ông dần hình thành lý luận về học thuyết
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân qua đúc rút từ thực tiễn. Sau này,
những quan điểm, những tư tưởng ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta
kế thừa và phát huy những cống hiến và thành tựu đó của hai ông trong điều

khoa học, do TS.Nguyễn Thọ Khang làm chủ nhiệm đề tài – Khoa chủ nghĩa
xã hội khoa học – Học viện báo chí và tuyên truyền – Hà Nội 10/2009. Trong

-

cuốn đề cương này có những tác phẩm trực tiếp liên quan đến đề tài tiểu luận.
Đề cương bài giảng Học phần sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do
TS.Đặng Thị Linh giảng dạy cũng cung cấp rất nhiều tư liệu quý báu cho đề
tài.
Đặc biệt, với tư cách là sinh viên chuyên ngành khoa chủ nghĩa xã hội
khoa học nên tác giả còn có nhiều điều kiện được học tập, nghiên cứu thông
qua các giò giảng của thầy cô và thông qua việc trao đổi bài với bạn bè. Điều
đó đã trở thành cơ sở nền tảng vững chắc giúp tác giả thực hiện đề tài: ““Sự
hình thành và phát triển những luận điểm cơ bản của Mác – Ăngghen về
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Liên hệ với sứ mệnh lịch sử của

4.

giai cấp công nhân Việt Nam” .
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục tiêu của đề tài này là: Những quan điểm của C.Mác – Ăng
ghen về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó, liên hệ với sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Tác giả cố gắng
hệ thống hóa về mặt lý luận những quan điểm đó, để có một cái nhìn toàn
diện và xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển. Qua đó, nổi bật về
con đường, hình thức và phương pháp thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân. Để đạt được mục tiêu ấy, tác giả xác định cần thực hiện

-


trọng sử dụng một cách hợp lý các phương pháp; phân tích - tổng hợp, trừu

-

tượng hóa…
Phương pháp cụ thể: Sử dụng phương pháp thu thập, nghiên cứu và phân tích
tài liệu, sắp xếp và tóm tắt tài liệu…Ngoài ra, tác giả còn tiến hành trao đổi,
thảo luận với các thầy cô và các học viên cùng lớp để củng cố, bổ sung những

6.

tri thức quý báu cho việc hoàn thành tiểu luận của mình.
Kết cấu nội dung tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh lục tài liệu tham khảo và phần
phụ lục, tiểu luận có kết cấu gồm 3 chương và 8 tiết.

Chương 1:
Những điều kiện, tiền đề sự ra đời sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân
1.1.

Làm rõ một số khái niệm liên quan:
Theo Theo từ điển Cộng sản Chủ nghĩa xã hội khoa học: Cách mạng
XHCN là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo, là phương diện
chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội TBCN sang hình thái kinh tế - xã hội
CSCN.
Theo nghĩa rộng: Cách mạng XHCN là một cuộc cách mạng nhằm
thay thế chế độ xã hội cũ nhất là chế độ TBCN bằng chế độ XHCN, trong

5

GCCN. Chính sự vận động, tác động qua lại của hai khuynh hướng đối lập
nhau mà thống nhất này đang tạo nên bức tranh chính trị sôi động, phức tạp
đa dạng đã đặt ra nhu cầu cấp bách cần có những nghiên cứu sáng tạo mới về
phương diện lý tưởng, lý luận CNXH để nhận thức những quy luật ẩn chứa
6


bên trong, đằng sau những sự kiện chính trị phức tạp ấy, điều mà CNXH của
Henri Saint Simont, Charle Fourie và Robert Owen đã không đủ sức lý giải.
Những học thuyết của các ông cũng đã tạo nên những tiền đề, những giá trị
cần thiết tối thiểu cho những nghiên cứu mới ấy. Đồng thời, thực tiễn chính trị
sôi động ấy đã là một mảnh đất hiện thực cung cấp những dữ liệu, số liệu cần
thiết để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu sáng tạo ấy.
Theo phương diện thứ nhất có thể thấy, những năm giữa thế kỷ XIX
là những năm thuộc về GCTS, là thời kỳ các cuộc cách mạng tư sản. Cách
mạng chẳng những nổ ra ở Pháp mà còn ở hầu khắp Châu Âu: Ý, Đức, Pháp,
… Đây là năm hỗn loạn nhất ở Châu Âu, nếu như những biến động ấy được
nhìn nhận dưới góc độ của triết học cổ điển Đức, của kinh tế - chính trị học
cổ điển Anh và nhất là của CNXHKH không tưởng – phê phán đầu thế kỷ
XIX.
Cách mạng Italia, Đức là đế quốc thống nhất quốc gia, các cuộc cách
mạng khác là để xác lập chế độ dân chủ. Ngày 24/2/1848 bùng nổ cách mạng
tháng Hai ở Pari, lật đổ nền quân chủ tháng Bảy. Ngày 4/5/1848 tuyên bố
thành lập nền cộng hòa thứ hai ở Pháp. Ngày 25/2/1848 thành lập Chính phủ
lâm thời ở Pháp do kết quả của cuộc cách mạng tháng Hai 1848. Ngày
5/3/1848 bùng nổ cách mạng ở Budapest chống lại ách thống trị của triều
đình, thành lập Chính phủ Hunggari độc lập. Tháng 1/1849 bị quân Anh trấn
áp. Từ 13/3 – 15/3/1848 cách mạng tháng Ba ở Viên, nhằm chống lại chính
quyền phản động của thủ tướng Metternich đòi ban hành hiến pháp dân chủ
và tiến hành bầu cử. Ngày 14/3/1848 bùng nổ cách mạng tháng Ba ở Berlin

quan điểm mơ hồ và không tưởng. Đây là tiền thân của Đồng minh những
người Cộng sản. Ngày 2/5/1842 đại biểu công nhân London đệ trình nghị viện
bản kiến nghị có 3.315.712 chữ ký đánh dấu đỉnh cao của giai đoạn II Phong
trào Hiến chương ở Anh (1842 – 1848). Ngày 3/6/1844, khởi nghĩa của công
nhân dệt Silesia ở Đức đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện đời sống. Năm
1847, Chính phủ Anh ban hành đạo luật ngày làm 10 giờ đối với phụ nữ và trẻ
em. Ngày 10/4/1848, công nhân Anh đệ trình Nghị viện Bản kiến nghị có 5
triệu chữ ký, nhưng bị bác bỏ, kết thúc phong trào Hiến chương (1836 –
1848). Tuy nhiên đây là phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên thực
8


sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị. Từ 23/6 – 26/6/1848,
khởi nghĩa tháng Sáu của công nhân Pari chống Chính phủ tư sản, đòi
thành lập nền cộng hòa xã hội được coi là cuộc giao chiến đầu tiên giữa vô
sản và tư sản.
Mặc dù CNXHKH đã ra đời, nhưng đấu tranh giai cấp của GCCN
một số nước (điển hình là Pháp) vẫn còn mang nặng tính chất tự phát, chưa có
chính đảng, chưa có cương lĩnh, chiến lược, sách lược, còn chịu ảnh hưởng rõ
rệt của các trào lưu xã hội không tưởng - phê phán. Ở Châu Âu chưa phát
triển đến mức có đủ điều kiện để xóa bỏ phương thức sản xuất TBCN. Một
hiện thực đang trong quá trình thành thục ấy đòi hỏi sự tiếp tục phải nghiên
cứu phát triển lý luận CNXHKH, với tính cách là sự phản ánh mảnh đất hiện
thực đang thành thục ấy. Nhiệm vụ lịch sử trọng đại đó giờ đây đặt lên vai
C.Mác – Ph.Ăng ghen và những lãnh tụ chân chính của chính đảng đầu tiên
của GCCN.
Vào cuối thế kỷ XIX (từ nhứng năm 70 trở đi), cách mạng tư sản đã
cơ bản hoàn thành ở Châu Âu. Một trong những hậu quả của cuộc cách mạng
công nghiệp là các nước như Anh, Pháp, Đức,…đã thực hiện chính sách đế
quốc bành trướng mạnh, do cần thị trường tiêu thụ máy móc và thị trường

GCVS có sứ mệnh phá hủy xã hội đó. “Vấn đề không phải ở chỗ hiện nay
người vô sản nào đó, thậm chí toàn bộ GCVS, coi cái gì là mục đích của
mình. Vấn đề là ở chỗ GCVS thực ra là gì, và sự phù hợp với sự tồn tại ấy của
bản thân nó, GCVS buộc phải làm gì về mặt lịch sử”. [1,56]
10


Việc phân tích quá trình hình thành phát triển nền đại công nghiệp
trong điều kiện TBCN cùng các biến đổi trong cơ cấu xã hội – giai cấp, các
quan hệ chính trị giữa các giai cấp được nảy sinh tất yếu từ sự ra đời, phát
triển của nền đại công nghiệp cho phép C.Mác – Ph.Ăngghen khái quát, chỉ ra
một cách chính xác hai đặc trưng bản chất nhất của GCCN:
-

Thứ nhất, GCCN ra đời cùng với sự xuất hiện của nền đại công nghiệp. Có
nghĩa là họ là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất trong nền
đại công nghiệp có trình độ công nghệ - kỹ thuật tiên tiến hiện đại và có tính

-

chất xã hội cao.
Thứ hai, sức lao động của GCCN kết hợp với TLSX là nguồn gốc tạo ra giá
trị thặng dư, đây là nguồn gốc chủ yếu cho sự giầu có của xã hội. Đây là một
nguyên lý quan trọng được rút ra trên cơ sở học thuyết giá trị thặng dư – một
phát hiện vĩ đại của Mác – Ăngghen trong lĩnh vực kinh tế và kinh tế - chính
trị học hiện đại.Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” Mác – Ăngghen
viết: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với GCTS thì chỉ có GCVS
là thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự
phát triển của đại công nghiệp. GCVS thì trái lại, là sản phẩm của bản thân
nền đại công nghiệp”. [2,613]

lập quan hệ sản xuất mới TBCN, chưa đầy một thế kỷ GCTS đã tạo ra một
LLSX khổng lồ, lớn hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thời kỳ trước cộng
lại. Nền đại công nghiệp – vũ khí mà GCTS dùng để chiến thắng giai cấp
phong kiến trước đây đã quay trở lại đánh vào GCTS. Mác – Ăng ghen đi đến
kết luận: “Như vậy là sự phát triển của đại công nghiệp đã phá sập dưới chân
GCTS, chính ngay cái nền tảng trên đó GCTS đã xây dựng lên chế độ sản
xuất là chiếm hữu của nó, trước hết GCTS tạo ra những người đào huyệt chôn
chính nó. Sự sụp đổ của GCTS và thắng lợi của GCVS đều là tất yếu như
nhau”. Kết luận này vừa thể hiện tính khoa học vừa thể hiện tính chính trị sâu
sắc. Nền đại công nghiệp TBCN đã tạo nên những điều kiện khách quan để
GCCN thực hiện SMLS của mình. Tóm lại, SMLS của GCCN là toàn bộ
những nhiệm vụ cách mạng, tất yếu mà GCCN có thể, cần phải thực hiện
nhằm thủ tiêu chế độ TBCN, xây dựng CNXH và chủ nghĩa cộng sản trên
phạm vi thế giới. Những nhiệm vụ lịch sử này là do chính địa vị kinh tế - xã
12


hội của GCCN trong nền sản xuất, trong nền kinh tế - xã hội của chủ nghĩa
tư bản quy định.[3,33]
Trong các tác phẩm “Gia đình thần thánh”, “Hệ tư tưởng Đức”, đỉnh
cao là “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và cuối cùng là “Đấu tranh giai cấp ở
Pháp” Mác – Ăngghen đã nêu ra những thuộc tính cơ bản của GCVS. Hai ông
đã trình bày khái niệm về GCVS một cách tương đối đầy đủ.
Trong “Gia đình thần thánh”, C.Mác đề cập GCVS, chủ yếu với tính
cách là “lực lượng đối lập với quyền tư hữu”. Mà sự vận động của hai lực
lượng này tạo ra sự phát triển của CNTB. Sự phát triển thường xuyên của xã
hội tư bản thường xuyên tái sản xuất ra sự đối lập đó – sự đối lập giữa “quyền
tư hữu với GCVS”.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, đứng trên quan điểm duy vật về
lịch sử C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra quá trình hình thành và phát

này do được quy định bởi địa vị tiến bộ của giai cấp ấy trong phương thức sản
xuất, và do đó, trong nền kinh tế của CNTB.
Nói một cách khái quát, nội dung SMLS của GCCN là xóa bỏ chế độ
TBCN, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng GCCN, nhân dân lao
động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu,
xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
Ph.Ăngghen viết: “Thực hiện sứ mệnh giải phóng thế giới ấy, - đó là
SMLS của GCVS hiện đại”. V.I.Lênin cũng chỉ rõ: “Điểm chủ yếu trong học
thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của GCVS là
người xây dựng xã hội XHCN”.[5,1]
Ở nước ta, GCCN trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân. SMLS của GCCN là phải lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua
đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh giành chính
quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân. Trong giai đoạn cách
mạng XHCN, GCCN từng bước lãnh đạo nhân dân lao động xây dựng thành
công CNXH, không có người bóc lột người, giải phóng nhân dân lao động
khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công. SMLS của GCCN chỉ được hoàn thành
khi CNCS được thiết lập trên phạm vi thế giới.
14


2.2. Tính tất yếu sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
Chỉ khi nào GCCN đạt tới trình độ tự giác bằng việc tiếp thu lý luận
khoa học và cách mạng của học thuyết SMLS của GCCN thì phong trào cách
mạng của nó mới thực sự là một phong trào chính trị. C.Mác – Ăng ghen đã
chỉ ra rằng lợi ích giai cấp của GCVS hoàn toàn nhất trí với những lợi ích
“của số quần chúng mà những điều kiện giải phóng hiện thực khác một cách
căn bản với những điều kiện trong đó GCTS đã có thể tự giải phóng mình và
giải phóng xã hội”. Trình độ lý luận đó cho phép GCCN nhận thức được vị
trí, vai trò của mình trong xã hội, nguồn gốc tạo nên sức mạnh đó bằng sự

sản. Nhưng bộ phận này không thể tách rời, đối lập với các đảng công
nhân khác mà gắn liền với lọi ích của GCVS, lãnh đạo GCVS hoàn thành
SMLS. Các Mác đã nhấn mạnh rằng, trong cuộc đấu tranh của mình
chống lại quyền lực liên hiệp của các giai cấp hữu sản, chỉ khi nào GCVS
tự mình tổ chức được thành một đảng độc lập với tất cả mọi chính đảng cũ
do giai cấp hữu sản lập ra thì mới có thể hành động với tư cách là một giai
cấp được.
2.3. Điều kiện chủ quan, khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân:
- Điều kiện chủ quan quy định SMLS của giai cấp công nhân:
SMLS của GCCN xuất hiện một cách khách quan, song để biến khả
năng khách quan thành hiện thực thì phải thông qua những nhân tố chủ quan.
Trong những nhân tố chủ quan ấy, việ thành lập ra Đảng cộng sản trung thành
với sự nghiệp, lợi ích của GCCN là yếu tố quyết định đảm bảo cho GCCN có
thể hoàn thành SMLS của mình.
Bản thân giai cấp công nhân:
Ngay từ khi mới hình thành trong xã hội TBCN, bản thân GCCN đã
không ngừng hoạt động và trưởng thành từng bước về số lượng và chất lượng.
Về số lượng chẳng những ngày càng tăng lên rất rõ rệt ở tất cả các
nước, kể cả trong “kinh tế tri thức” hiện nay, mà còn đa dạng hơn về cơ cấu
các loại công nhân với nhiều ngành nghề ngày càng phong phú, phát triển,

16


tinh vi hơn. Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì: từ năm 1990, thế giới
đã có hơn 600 triệu công nhân và đến 1998 đã có 800 triệu công nhân…
Về chất lượng, bản thân GCCN luôn có sự nâng cao về học vấn, về
khoa học công nghệ và tay nghề; từ hoạt động kinh tế, đấu tranh kinh tế trước
mắt, đã từng bước hoạt động chính trị, đấu tranh kinh tế trước mắt, đã từng

GCCN, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại: “Trong tất cả
các giai cấp hiện đang đối lập với GCTS thì chỉ có GCVS là thực sự cách
mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển
của đại công nghiệp, còn GCVS là sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp” [6,610]; “GCVS là một giai cấp cách mạng so với GCTS, bởi vì bản
thân nó, tuy lớn lên trên mảnh đất của đại công nghiệp, nhưng lại muốn làm
cho nền sản xuất trút bỏ các tính chất TBCN mà GCTS đang cố duy trì vĩnh
viễn”. [7,38]. GCCN được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ,
đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Bị GCTS áp
bức, bóc lột nặng nề, là giai cấp trực tiếp đối kháng với GCTS, và xét về bản
chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột
TBCN. Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự
giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ TBCN. Trong cuộc
cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình.
Địa vị kinh tế - xã hội khách quan không chỉ khiến cho GCCN trở
thành giai cấp cách mạng triệt để nhất mà còn tạo cho họ khả năng làm việc
đó. Cụ thể GCCN phải trải qua hai bước cơ bản trong quá trình thực hiện
SMLS của mình là: biến thành giai cấp thống trị, giành lấy dân chủ; sau đó,
dùng sự thống trị chính trị củ mình từng bước đoạt lấy dân chủ; sau đó, dùng
sự thống trị chính trị của mình từng bước đoạt lấy tư bản trong tay GCTS để
tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào tay nhà nước – GCVS đã được tổ
chức thành giai cấp thống trị, để tăng nhanh số lượng những lực lượng sản
xuất, mang lại cuộc sống tự do, hạnh phúc, “làm theo năng lực, hưởng theo
nhu cầu cho con người” – sáng tạo ra một xã hội mới. Đó là khả năng đoàn
kết các giai cấp khác trong cuộc đấu tranh của toàn thể dân lao động và của
dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là khả năng đoàn kết
toàn thể GCVS và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế theo chủ nghĩa
quốc tế vô sản.

18

biểu cho toàn thể nhân dân lao động và dân tộc.
Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, khi phân tích vai trò lịch sử
thế giới của GCCN, Mác – Ăng ghen đã chỉ rõ tính tất yếu của cuộc đấu tranh
của GCCN trong thực tế lao động và trong cuộc sống hàng ngày chứ không
19


phải trong tư duy như “sự phê phán có tính chất phê phán” hướng dẫn. Các
ông chỉ rõ: “Nhưng những công nhân cộng sản chủ nghĩa có tính chất quần
chúng ấy…không hề nghĩ rằng dùng tư duy thuần túy”, nghĩa là chỉ dựa vào
những nghị luận của họ là có thể thoát khỏi bọn chủ của họ và thoát khỏi địa
vị nhục nhã thực tế của bản thân họ. Họ cho rằng phải dùng phương thức
thực tế và cụ thể để tiêu diệt chúng.
Mác – Ăng ghen đã đưa ra tư tưởng cho rằng: GCVS càng nhận thức
được SMLS của nó – tính chất nặng nề của tệ bóc lột TBCN giúp cho nó nhận
thức được SMLS ấy thì nó lại càng thống nhất nhau lại để đấu tranh chống
chế độ hiện tồn. Sự thống nhất đó – Mác nhận xét – “biến GCVS thành một
lực lượng hùng mạnh”. Tư tưởng này là tiền đề xuất hiện cho tư tưởng về
Đảng của GCCN. “Sự thống nhất đó” phải chăng là dự báo về việc sẽ xuất
hiện một tổ chức của GCCN?
Trong tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh”, Ph.Ăng
ghen chỉ ra: Công nhân bắt đầu cảm thấy mình – về toàn thể - là một giai cấp;
họ đã hiểu được rằng đứng riêng lẻ thì họ yếu, nhưng liên hợp lại thì thành
một lực lượng; điều này đã giúp cho họ tách ra khỏi GCTS và giúp cho những
quan niệm về tư tưởng độc lập, đặc trưng cho công nhân và cho hoàn cảnh
sinh sống của họ được hình thành; họ bắt đầu hiểu về địa vị bị áp bức của
mình và công nhận có tầm quan trọng về mặt xã hội và chính trị. “Trong mọi
ngành lao động đều tổ chức những công liên như thế với chủ trương công
khai là ra sức bảo vệ từng người công nhân riêng lẻ, chống những hành động
bạo ngược và sự đối đãi tàn nhẫn của GCTS”.

những điều kiện thực sự của công cuộc giải phóng GCCN”. Điều đó là sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Mác – Ăng ghen chỉ ra: Những người cộng sản chiến đấu cho những
mục đích và những lợi ích trước mắt của GCCN, nhưng đồng thời trong
phong trào hiện tại, họ cũng bảo vệ và đại biểu cho tương lai của phong trào.
[1, 644 – 645] Tóm lại, “ở tất cả mọi nơi, những người cộng sản đều ủng hộ
mọi phong trào cách mạng chống lại trật tự xã hội và chính trị hiện hành”.
[1,645 – 646]
21


Hai ông nhận thức rằng chỉ có trong quá trình giáo dục chính trị lâu
dài cho GCCN, chỉ có trong quá trình đấu tranh của giai cấp ấy với giai cấp
thống trị thì mới có thể xây dựng được những đảng vô sản ở các nước. Hai
ông viết: “Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên
quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn
thúc đẩy phong trào tiến lên về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của GCVS
ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong
trào vô sản”. [1,614 – 615]
Vai trò tiên phong của Đảng đảm bảo cho Đảng tập hợp được GCVS.
Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện đảm bảo cho GCVS hoàn thành SMLS
toàn thế giới. Nhưng Đảng Cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, Đảng
là một bộ phận gắn liền với giai cấp. Lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích
của giai cấp: “Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối
lập với các đảng công nhân khác. Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào
tách khỏi lợi ích của toàn thể GCVS”. [1,614] Theo đó, mục đích của Đảng là
mục đích của giai cấp, Đảng là đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào vô
sản.
Hai ông đồng thời cũng chỉ ra rằng: Những người cộng sản là những
người tiên phong, giác ngộ lợi ích và vị trí vai trò của GCCN, đi đầu trong

[1,645 – 646]
Tóm lại, tư tưởng về Đảng Cộng sản được đề cập trong Tuyên ngôn
có thể tóm tắt như sau:
Đảng Cộng sản là nhân tố quan trọng nhất, đảm bảo thực hiện thắng
lợi SMLS của GCCN. Đảng là tổ chức của những đại biểu giác ngộ nhất,
trung thành nhất với lý tưởng cộng sản, luôn đi đầu trong quá trình đấu tranh
thực hiện SMLS của GCCN. Đảng là đại biểu cho lợi ích của toàn bộ giai cấp,
toàn bộ phong trào cách mạng.
Đến tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, C.Mác đã chỉ ra một
nguyên nhân cơ bản làm cho Khởi nghĩa tháng Sáu thất bại là do GCVS chưa
giác ngộ, thiếu sự thống nhất về tổ chức, chưa có chính đảng độc lập. “Giai
cấp công nhân Pháp chưa có một cuộc nghiên cứu lý luận nào về nhiệm vụ
của chính nó cả. GCCN Pháp chưa đạt được đến chỗ đó, chưa có khả năng
thực hiện cuộc cách mạng của chính nó”. [8,29 – 30]
23


Lý luận cơ bản và đầu tiên mà GCCN cần đạt tới là những cuộc đấu
tranh của nó cần phải “đụng tới cái trật tự tư sản” hiện hành, muốn thế nó cần
có chính đảng, cần được thống nhất lại…Cần nhận thức được rằng, cuộc đấu
tranh của mình là xóa bỏ các quan hệ xã hội nảy sinh từ các quan hệ kinh tế
của CNTB do đó, phải tiến tới “cải biến các tư tưởng nảy sinh từ các quan hệ
xã hội đó”. [8,137] Chỉ có như vậy, SMLS của GCCN mới được thực hiện
thắng lợi.
Mác chỉ ra, khối liên minh với nông dân của GCVS là quan trọng,
đảm bảo cách mạng thắng lợi, nhưng khối liên minh ấy chỉ có thể thực hiện
được GCCN đứng đầu, để dần dần tập hợp các giai cấp nông dân, tiểu tư sản,
các tầng lớp trung đẳng đứng xung quanh và về phía GCVS. “Cũng như hồi
tháng Hai, đây là khối liên minh chung chống lại GCTS và Chính phủ. Nhưng
lần này thì GCVS đứng đầu khối liên minh này”. [8,140]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status