Sự tác động của mạng xã hội đối với báo mạng điện tử TIỂU LUẬN CAO HỌC - Pdf 35

Mục lục:
I. Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
3. Mục đích nghiên cứu
4. Đối tượng nghiên cứu
5. Phạm vi nghiên cứu
6. Phương án nghiên cứu
II. Nội dung
1.Cơ sở lý luận
1.1. Báo mạng điện tử
a. Báo mạng điện tử là gì
b. Lịch sử hình thành và xu hướng phát triển
c. Vai trò của Báo mạng điện tử
1.2. Mạng xã hội
a. Mạng xã hội là gì
b. Lịch sử hình thành và xu hướng phát triển
c. Vai trò của Mạng xã hội
1.3. So sánh các đặc điểm của Mạng xã hội và Báo mạng
điện tử
a. Điểm tương đồng
b. Điểm khác nhau
1.4. Sự tác động giữa Mạng xã hội và Báo mạng điện tử
1.4.1. Tác động tích cực
1.4.2. Tác động không có lợi
2. Khảo sát thực tế
1


2.1. Tiến hành khảo sát
2.2. Phân tích thực tế

thu hút sự chú ý, tham gia của cộng đồng hơn hẳn. Mạng xã hội tác động
không nhỏ đến đời sống sinh hoạt của mọi người, đến các phương tiện
truyền thông đại chúng, trong đó có báo mạng điện tử.
Bà Ennelie Ewars, Viện trưởng viện đào tạo báo chí FOJO, Thụy Điển
chia sẻ: “Mạng xã hội đang là chủ đề nóng trên thế giới, đang từng ngày
thách thức các phương tiện truyền thông truyền thống. Vai trò của các nhà
báo cũng đang thay đổi và chúng ta đang đứng giữa ngã tư đường: Ai sẽ
nắm quyền tác động và vai trò của nhà báo trong tương lai sẽ như thế
nào?”
Tại Việt Nam, các mạng xã hội cũng đang “làm mưa làm gió”, khẳng
định chỗ đứng của mình trong thế giới mạng. Và mạng xã hội cũng đang tác
động không nhỏ đến báo mạng điện tử. Vì thế, việc nghiên cứu những tác
3


động của mạng xã hội đối với báo mạng điện tử là vô cùng cần thiết để báo
mạng điện tử có thể đối phó được với những thách thức mà mạng xã hội
đem đến cũng như khai thác hiệu quả các mạng xã hội để phục vụ cho hoạt
động báo chí.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trên thế giới đã có rất nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu về vấn đề này
bởi mạng xã hội được hình thành sớm và ảnh hưởng rất mạnh đến các kênh
báo chí chính thống. Có thể kể ra một số bài như: Facebook effect: “Social
network sways online news readership as people share, 'like' items” trên
trang www.vancouverobserver.com, “The Social Media Revolution:
Exploring the Impact on Journalism and News Media Organizations” của
Ruth A. Harper, “Internet and Social Media Affect Newspaper Numbers”
của Frank, “How has social media changed the way newsrooms work” của
Kevin Bakhurst…
Tại Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có nhiều bài báo, bài nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của bài tiểu luận là những hoạt động của
một số mạng xã hội nổi bật như Facebook, Yume; tên các website đầy đủ là:
www.facebook.com, www.yume.vn. Cụ thể là hoạt động truyền tải thông
tin, kết nối,… có ảnh hưởng, tác động đến báo chí nói chung và báo mạng
điện tử nói riêng. Hoạt động của các trang báo mạng điện tử trong việc khai
thác, tương tác với các mạng xã hội ấy, cụ thể là một số trang báo mạng điện
tử như các trang: Vnexpress, Vietnamnet; địa chỉ website đầy đủ là:
www.vnexpress.net, www.vietnamnet.vn. Từ đó, nghiên cứu, làm rõ sự tác
5


động của mạng xã hội đối với báo mạng điện tử bằng các cơ sở lý luận và
khảo sát thực tế.
Trong cuộc khảo sát, đối tượng khảo sát là những người trẻ, độ tuổi từ
18 đến 30 tuổi bởi vì đó là lứa tuổi truy cập Internet cao nhất; tiếp cận dễ
dàng với các phương tiện truyền thông đại chúng, các mạng xã hội và cập
nhật các trang báo mạng điện tử khá thường xuyên. Đó là những sinh viên,
những người đã đi làm và những nhà báo, phóng viên trực tiếp hoạt động
trong lĩnh vực báo chí, cho các trang báo mạng điện tử. Số lượng nam và nữ
được hỏi cân bằng nhau. Qua đó sẽ làm tăng giá trị thực tiễn, tính khách
quan cho bài tiểu luận.
5. Phạm vi nghiên cứu
Do dung lượng và thời gian hoàn thành bài tiểu luận không nhiều nên
em tập trung nghiên cứu các mạng xã hội, các trang báo mạng điện tử này
trong suốt tháng 11 năm 2011. Bên cạnh đó, cũng có những so sánh, dẫn
chứng, minh họa các trường hợp cụ thể phù hợp với đề tài: “Sự tác động
của Mạng xã hội đối với Báo mạng điện tử” ở các trang báo điện tử và các
mạng xã hội khác để tăng tính khái quát cho bài viết.
6. Phương án nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp truyền thống để khai thác tư liệu, khảo

b. Lịch sử hình thành và xu hướng phát triển
Kể từ sau khi cơn bão khoa học kỹ thuật và công nghệ “đổ bộ” xuống
các quốc gia trên thế giới thì mọi mặt của đời sống xã hội nói chung đã dần

7


thay da đổi thịt. Các nước phát triển trên thế giới không ngừng phát minh ra
những sản phẩm công nghệ để phục vụ nhu cầu của con người.
Năm 1962, ý tưởng đầu tiên về mạng kết nối các máy tính với nhau của
J.C.R Licklider ra đời. Năm 1969, mạng này được đưa vào hoạt động và là
tiền thân của Internet; Internet –liên mạng bắt đầu xuất hiện khi nhiều mạng
được kết nối với nhau. Tiếp đó là hàng loạt phát kiến về giao thức chuyển
gửi tin TCP/IP (Transmision Control Pro –tocol và Interner Protocol), hệ
thống các tên miền DNS (Domain Name System) để phân biệt các máy chủ,
ngôn ngữ siêu văn bản HTML (Hyper Text Mark –up Language)….
Và trong guồng quay công nghệ đó, khi mọi lĩnh vực của cuộc sống đều
được ứng dụng khoa học công nghệ thì báo chí cũng không tránh khỏi
những tác động. Kết quả là, những tờ báo mạng điện tử ra đời theo xu thế
phát triển của thời đại.
Trên thế giới, tờ báo điện tử đầu tiên được ra đời tại Mỹ vào tháng 5
năm 1992, tờ Diễn đàn Chicago (Chicago Tribune). Dần dần, các tờ Báo
mạng điện tử xuất hiện nhiều hơn nhưng gặp phải không ít rào cản: số lượng
người có máy tính để đọc báo còn ít, sự hạn chế và trục trặc trong khâu kỹ
thuật, tâm lý người đọc còn e ngại trong việc sử dụng máy móc…
Ở Việt Nam, mạng toàn cầu được kết nối vào ngày 19-11-1997, điều
này đã tạo ra sự thay đổi mới trong phương thức thông tin của xã hội. Chỉ
một tháng sau, (31-12-1997), tạp chí Quê hương đã trở thành tờ báo mạng
điện tử đầu tiên của nước ta. Liên tiếp sau đó là sự ra đời của hàng loạt các
báo mạng điện tử khác như: Nhân dân, Lao động, Vietnamnet, Vnexpress,


Xu hướng phát triển của Báo mạng điện tử nói riêng và báo chí nói
chung đều hướng đến xã hội hóa, toàn cầu hóa và thương mại hóa báo chí,
hình thành tập đoàn báo chí. Đặc biệt, từ những đặc trưng riêng biệt của
mình, Báo mạng điện tử đang chú trọng đẩy mạnh các ưu điểm của mình
như: lấy tốc độ cập nhật thông tin làm trọng tâm, kết hợp truyền thông đa
phương tiện, sử dụng công nghệ Web 2.0 để tăng độ tương tác.
c. Vai trò của Báo mạng điện tử
Khi mới ra đời, Báo in không được tin tưởng bằng những lời truyền
miệng, Phát thanh được coi là trò nhảm nhí, Truyền hình là trò tiêu khiển,
phù thủy; còn Báo mạng điện tử thì bị cho là lá cải, không chính thống.
Nhưng theo quy luật phát triển tự nhiên, Báo mạng điện tử đã khẳng định vị
thế của mình trong làng báo. Báo mạng điện tử không thua kém, thậm chí
đang “lấn lướt” các loại hình báo chí khác.
Sự ra đời của Báo mạng điện tử đã làm thay đổi thói quen tiếp nhận
thông tin trước đây của một số bộ phận công chúng đọc giả. Nếu như trước
đây công chúng phải chờ đến một thời điểm nhất định trong ngày, thường là
buổi sáng để mua tờ báo in mới nhất và đọc nó, hoặc phải chờ đến một giờ
giấc nhất định để nghe đài, xem tivi. Thì nay, với sự ra đời và phát triển vượt
bậc của công nghệ Internet, báo mạng điện tử có thể đáp ứng nhu cầu thông
tin của công chúng vào bất cứ thời điểm nào trong ngày chỉ qua một cái kích
chuột.
Với những đặc trưng như tính tức thì, khả năng siêu liên kết và khả
năng lưu trữ thông tin, Báo mạng điện tử là một phương tiện truyền thông
hữu hiệu chủ trương, chính sách và đường lối của Đảng và Nhà nước, những
10


thành tựu lớn lao của công cuộc đổi mới với công dân trong nước, bạn bè
quốc tế cũng như với gần 3 triệu kiều bào xa Tổ quốc.

nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục
đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian.
Mạng xã hội có những tính năng như chat, e –mail, phim ảnh, voice
chat, chia sẻ file, blog và xã luận.
Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở
thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp
thế giới. Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm
bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố),
dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa
trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh
vực quan tâm: kinh doanh, mua bán...
Hiện nay thế giới có hàng trăm mạng mạng xã hội khác nhau, với
MySpace và Facebook nổi tiếng nhất trong thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu;
Orkut và Hi5 tại Nam Mỹ; Friendster tại Châu Á và các đảo quốc Thái Bình
Dương. Mạng xã hội khác gặt hái được thành công đáng kể theo vùng miền
như Bebo tại Anh Quốc, CyWorld tại Hàn Quốc, Mixi tại Nhật Bản và tại
Việt Nam xuất hiện rất nhiều các mạng xã hội như: Zing Me, YuMe,
Tamtay...
12


b. Lịch sử hình thành và xu hướng phát triển
Mạng xã hội xuất hiện lần đầu tiên năm 1995 với sự ra đời của trang
Classmate với mục đích kết nối bạn học, tiếp theo là sự xuất hiện của
SixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích.
Năm 2002, Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàng
triệu thành viên ghi danh. Năm 2004, MySpace ra đời với các tính năng như
phim ảnh (Embedded video) và nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thành
viên mới mỗi ngày. Các thành viên cũ của Friendster cũng lũ lượt chuyển
sang MySpace. Và trong vòng một năm, MySpace trở thành mạng xã hội

đến hết tháng 10-2011, đã có hơn 26 triệu người sử dụng, tương đương với
khoảng 31% tổng dân số và đứng đầu các nước ASEAN về số lượng người
dùng Internet. Trong đó, gần 2/3 số người sử dụng Internet tại các thành phố
lớn ở độ tuổi dưới 30. Nhóm dân số sử dụng Internet nhiều nhất là 20-24
tuổi (chiếm hơn ¼). Tỷ lệ nam –nữ sử dụng Internet tương đối cân bằng ở
nhóm tuổi 15-19, nhưng khi tuổi càng cao thì tỷ lệ nữ dùng Internet càng
giảm. Hầu hết người dùng mạng xã hội có độ tuổi từ 15 đến 29 tuổi. 72%
dân số có độ tuổi từ 18 đến 30 và 43% dân số lớn tuổi sử dụng mạng xã hội
để tương tác với bạn bè.

14


Hiện nay, người ta dùng điện thoại di động để truy cập mạng xã hội
thấp hơn nhiều so với dùng máy tính (48% dân số của mạng xã hội truy cập
thông qua máy tính, trong khi 33% truy cập thông qua điện thoại di động).
Những phản ứng của giới trẻ Việt Nam với mạng xã hội khá tốt, đặc
biệt với những chương trình, kế hoạch hành động mang tính cộng đồng cao.
Ví dụ như chiến dịch SEAChange YouthSays phát động ở Việt Nam chủ yếu
trên Facebook, sau một tháng đã thu hút 15.000 bạn trẻ tham gia trả lời và
ủng hộ chiến dịch Người trẻ Đông Nam Á cùng thay đổi.
Một số fanpage của các nhãn hiệu Việt Nam cũng đạt xấp xỉ 10.000
người hâm mộ, báo hiệu cho một tương lai phát triển mạnh mẽ của chiến
lược quảng cáo qua các mạng xã hội.
Đó là những con số đáng khích lệ với sự phát triển của cộng đồng
mạng xã hội ở Việt Nam. Trong tương lai, mạng xã hội sẽ còn tăng nhiều
tính năng, tích hợp nhiều tiện ích để phù hợp với nhu cầu sử dụng của công
chúng. Mạng xã hội có xu hướng gắn kết chặt chẽ hơn với các trang báo
mạng điện tử qua weblink và cũng sẽ là nơi “chọn mặt gửi vàng” của các
doanh nghiệp, công ty, nhãn hàng lớn.

công nghệ thông tin –Internet, qua các giao tiếp trực tuyến, bằng các giao
thức, ngôn ngữ, ký hiệu… của tin học.

16


Báo mạng điện tử và Mạng xã hội đều có khả năng tương tác cao với
công chúng. Đều truyền tải những thông tin, hình ảnh, đa phương tiện.
Báo mạng điện tử và Mạng xã hội có sức chứa to lớn cả về không gian
và thời gian, dường như không giới hạn dung lượng thông tin.
Cả hai đều có tính tức thời và phi định kỳ. Tính tức thời, phi định kỳ ở
Báo mạng điện tử thể hiện ở việc công chúng có thể phản hồi ngay lập tức
khi bài báo ra lò; cập nhật thông tin bất cứ lúc nào. Các bài báo có thể được
đẩy lên trang không theo kỳ, theo phiên, không giới hạn số lượng bài. Còn ở
các trang mạng xã hội, các thông tin của thành viên cũng có thể được phản
hồi tức thì từ phía bạn bè. Người dùng có thể truyền link, đăng tin, trạng
thái… bất cứ khi nào họ muốn. Điều này tạo sự chủ động, cập nhật cho mọi
người.
Để được công nhận, các trang mạng xã hội hay báo mạng điện tử đều
phải được cấp phép, thừa nhận. Sự tồn tại, phát triển của mạng xã hội và báo
mạng điện tử đều phụ thuộc vào công chúng, vào lượng truy cập, lượng ủng
hộ.
b. Điểm khác nhau
Do ra đời trước nên số lượng các trang báo mạng điện tử lớn hơn nhiều
so với các trang mạng xã hội. Mỗi tờ báo mạng điện tử lại hoạt động dựa
trên những tôn chỉ, mục đích riêng. Các trang báo mạng điện tử là đại diện,
cơ quan ngôn luận cho những cơ quan chức năng khác nhau. Hầu hết các
trang báo mạng điện tử đều chứa những thông tin tổng hợp, phù hợp cho các
đối tượng truy cập ở các nhóm tuổi khác nhau, bên cạnh đó cũng có một số
trang báo mạng điện tử hướng đến các đối tượng tiếp nhận riêng biệt.


kiểm duyệt bởi Ban biên tập, sự xét duyệt của Tổng thư ký tòa soạn. Các tin
bài này mang những đặc trưng của báo chí, giúp báo chí thực hiện vai trò,
nhiệm vụ và chức năng xã hội của mình. Còn nguồn tin, bài ở các trang
mạng xã hội do người dùng sưu tầm hoặc tự viết ra, đậm chất cá nhân; nội
dung thông tin hạn chế, chủ quan. Không có sự kiểm duyệt, xác minh từ phía
các cơ quan quản lý, các cơ quan chức năng có tính pháp lý hợp pháp.
Về tính tương tác, khi những tin bài được lấy từ báo mạng điện tử,
được truyền link hoặc ghi chép lại trên mạng xã hội thì người dùng có thể
bình luận, phản hồi ngay lập tức, lan truyền đến nhiều người. Còn trên báo
mạng điện tử thì chỉ những chuyên mục có phần ý kiến bạn đọc, bạn đọc
mới gửi được phản hồi, bình luận trực tiếp trên mục ấy. Ngoài ra, họ có thể
gửi email, gọi đến đường dây nóng để phản hồi, góp ý.
Về bản chất, báo chí tác động đến người đọc về lý trí còn mạng xã hội
tác động đến người đọc về mặt tâm lý, tình cảm.
Những thông tin sai trên báo mạng điện tử sẽ bị dư luận phản ứng, bị
kiện tụng và thậm chí Tổng biên tập báo bị cách chức, báo ngừng hoạt động
còn những thông tin sai trên mạng xã hội không ai đứng ra chịu trách nhiệm,
không ai chịu trách nhiệm xác minh, trừng phạt theo luật pháp.
Những bài viết có giá trị trên báo chí có thể được vinh danh, nhận giải
thưởng còn những bài viết hay, ý nghĩa trên mạng xã hội sẽ chỉ dừng lại ở
việc được “like” (thích), lan truyền và ủng hộ của bạn bè; trừ những bài đặc
biệt khác biệt và ấn tượng thì sẽ được giới truyền thông để ý.
1.4. Sự tác động

19


Cùng được khai sinh nhờ sự ra đời của Internet, Mạng xã hội và Báo
mạng điện tử có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có không ít điểm khác

Các đánh giá, xếp hạng trên cho thấy trên thế giới, mạng xã hội đang
thực sự là “sát nhân nguy hiểm” của những trang báo mạng điện tử. Vai trò
và ảnh hưởng của mạng xã hội dường như chiếm ưu thế so với báo mạng
điện tử.
Còn ở Việt Nam, do sự du nhập, đi sau nên các mạng xã hội mới chỉ
đang bắt đầu phát triển. Tuy nhiên, nó cũng đã tác động đến báo mạng điện
tử và có những tác động như sau:
1.4.1. Tác động tích cực
a. Cung cấp thông tin, là nguồn đề tài cho báo mạng điện tử
Tại Việt Nam, mạng xã hội thu hút hàng nghìn người truy cập mỗi
ngày, trong đó có nhiều lứa tuổi, tầng lớp. Ở đó có nhà ảo của các học sinh,
sinh viên, người đi làm, các ngôi sao nổi tiếng. Họ kết bạn với nhau và cập
nhật thông tin của nhau nhanh chóng. Đặc biệt là với những người nổi tiếng,
mọi trạng thái, lời nói,hình ảnh của họ trên các mạng xã hội luôn được quan
tâm theo dõi.
Những điểm mới của các ngôi sao, những phát ngôn, hình ảnh của họ
là đề tài nóng hổi để các mục văn hóa, giải trí khai thác. Rồi các hiện tượng
nổi bật trên mạng xã hội của bất cứ “người thường” nào có ảnh hưởng đến
nhiều người cũng là tâm điểm để báo chí khai thác.

21


Những thông tin ấy chủ yếu được sử dụng viết cho các mục giới trẻ, tin
học, văn hóa, giải trí; hầu như để dành cho giới trẻ, hướng đến đối tượng bạn
đọc trẻ.

Từ vnexpress.net

Từ vietnamnet.vn

Một cách thức nữa là phóng viên có thể gửi phiếu thăm dò đến công
chúng qua các mạng xã hội, trực tiếp hỏi trên trang cá nhân của các thành
viên đang tham gia mạng xã hội về các vấn đề…

(Phóng viên đăng phiếu khảo sát trên Facebook)
Tóm lại, phóng viên có nhiều cách khai thác mạng xã hội để nắm bắt
tâm lý công chúng. Từ đó họ có thể biết công chúng cần gì, công chúng

23


đánh giá gì về thông tin báo chí đưa ra…để có những bài viết hay hơn, sát
với thực tế, thị hiếu người đọc hơn.

d. Là nơi giao lưu, học hỏi giữa nhà báo với nhà báo, nhà báo với công
chúng
Mạng xã hội du nhập vào nước ta lúc đầu còn khá mới mẻ, lạ lẫm
nhưng sau đó, mọi người rất hào hứng đón nhận. Các nhà báo, phóng viên
cũng khá cởi mở đón nhận hình thức giao tiếp mới này: xã hội ảo. Nhiều nhà
báo, phóng viên rất thường xuyên sử dụng các trang mạng xã hội, thậm chí
họ còn sử dụng nhiều mạng xã hội cùng lúc. Có người đăng lại những bài
viết của mình, có người giới thiệu các bài viết hay từ các nguồn khác nhau,
… Họ xây dựng “ngôi nhà” của mình bằng những blog dạng nhật ký tác
nghiệp; mỗi bài được đăng lên như những diễn đàn để cùng nhau bàn luận,
trao đổi.

(Blog của nhà báo Nguyễn Quyết –Báo Người lao động)
24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status