PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DƯỢC PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC – TRANG THIẾT BỊ Y TẾ BÌNH ĐỊNH BIDIPHAR - Pdf 35

1

LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp “PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU DƯỢC PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC – TRANG
THIẾT BỊ Y TẾ BÌNH ĐỊNH BIDIPHAR”, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã
nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các cá nhân và tổ chức. Vì
vậy, lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng cám ơn đến những cá nhân và tổ chức đã góp
sức tạo lập nền tảng vững chắc cho việc bộc lộ hết nội dung em muốn trình bày
trong báo cáo này.
Xin chân thành gửi lời cám ơn đến:
Giảng viên, Thạc sĩ Hồ Xuân Hướng, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn từ
khâu viết, sửa đề cương chi tiết cũng như sửa bản thảo hoàn chỉnh. Đó là những
bước đi đầu tiên cần thiết để khóa luận của em có thể hoàn thành tốt .
Quý thầy cô Khoa Tài chính ngân hàng và quản trị kinh doanh Trường Đại
Học Quy Nhơn và Ban lãnh đạo khoa đã truyền đạt đầy đủ những kiến thức căn bản
cũng như kỹ năng làm nền tảng cho việc viết khóa luận, đồng thời tạo mọi điều kiện
thuận lợi để sinh viên có cơ hội thực tập tốt nhất.
Em cũng xin gửi lời cám ơn tới tập thể các cán bộ công nhân viên, đặc biệt
là các anh (chị) Phòng Xuất nhập khẩu, phòng Tài chính kế toán và phòng Hành
chính công ty CP dược, trang thiết bị y tế Bình Định, đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, tạo
không khí thân thiết và cung cấp nhiều thông tin, tài liệu hữu ích để em có thể hoàn
thành tốt chuyên đề này.
Em xin chân thành cám ơn!
Bình Định, Ngày …. Tháng... Năm 2014
Sinh viên thực hiện

Trình Thị Ngọc Anh


2



Khảo sát, nghiên cứu và phân tích thực trạng của hoạt động xuất khẩu

dược phẩm của Công ty CP dược phẩm, trang thiết bị y tế Bình Định.


3


Từ thực trạng của công tác, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả của hoạt động xuất khẩu dược phẩm tại Công ty CP dược phẩm, trang thiết
bị y tế Bình Định.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động xuất
khẩu dược phẩm nói riêng tại công ty CP dược phẩm, trang thiết bị y tế Bình Định.
* Phạm vi nghiên cứu
+ Nội dung: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động
xuất khẩu dược phẩm nói riêng tại công ty CP dược phẩm, trang thiết bị y tế Bình
Định.
+ Không gian: Số liệu thống kê và các báo cáo về thực trạng của hoạt động
xuất khẩu dược phẩm tại công ty CP dược phẩm, trang thiết bị y tế Bình Định.
+ Thời gian:


Nghiên cứu và hoàn thiện đề tài trong vòng 3 tháng ( tháng 2, tháng 3,

tháng 4 năm 2014)

phẩm, trang thiết bị y tế.
+ Trong báo cáo so sánh các số liệu : Các chỉ tiêu tăng (+), giảm (-)
-

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

+ Thu thập thông tin từ khách hàng
+ Thu thập số liệu và thông tin từ cán bộ hành chính và phòng tài chính kế
toán công ty.
* Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
- Phương pháp xử lý số liệu : Dùng phần mềm Excel để tính toán
- Phương pháp phân tích: Phương pháp so sánh
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mục lục, mở đầu, danh mục từ viết tắt, bảng biểu và danh mục
tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành hai chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu hàng hóa
Chương 2: Tình hình sản xuất kinh doanh và thực trạng xuất khẩu dược
phẩm tại Công ty CP dược phẩm, trang thiết bị y tế Bình Định


5

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
HÀNG HÓA
1.1. Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu hàng hóa
1.1.1. Khái niệm xuất khẩu
Như đã đề cập ở trên, xuất nhập khẩu là nội dung chủ yếu của hoạt động
ngoại thương ở bất kỳ quốc gia nào. Khái niệm xuất nhập khẩu nói chung và xuất
khẩu nói riêng đã xuất hiện từ rất lâu và cho đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau

Hoạt động XK là việc thực hiện những công việc liên quan đến những
nghiệp vụ bán hàng cho doanh nhân có quốc tịch khác với quốc tịch của nước sản
xuất hay lưu kho hàng hóa.
Như vậy, có thể hiểu xuất khẩu đơn thuần như việc bán hàng hóa giữa
người bán và người mua, tuy nhiên phạm vi mua bán không nằm trong một đất
nước mà thuộc về nước này với nước khác. Đó là cách hiểu đơn giản nhất về cụm
từ “Xuất khẩu”.
Bên cạnh đó, xuất khẩu hàng hóa còn được định nghĩa như sau:
“Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt
Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu
vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật3”
Như vậy, XK là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó
không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán
phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy
sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng
cao mức sống của nhân dân.
Nhìn chung, có thể hiểu xuất khẩu là hoạt động buôn bán giữa một nước và
một nước khác, tuân thủ theo pháp luật quy định và đem lại lợi nhuận cho cả hai
bên.
1.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Như đã đề cập ở trên, hoạt động xuất khẩu có vai trò rất lớn đối với sự phát
triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Cụ thể, nội dung vai trò của hoạt động xuất
khẩu bao gồm:

3

Theo định nghĩa từ văn phòng luật sư C&M, Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, Hà Nội


7

8
Thứ ba, đối với doanh nghiệp, hoạt động xuất khẩu đòi hỏi các doanh
nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất và kinh doanh
cho phù hợp với thời đại, từ đó doanh nghiệp sẽ phát triển các hoạt động đầu tư,
nghiên cứu, phát triển các hoạt động liên quan đến mục tiêu lợi nhuận của mình.

 Như vậy, có thể thấy xuất khẩu có vai trò rất quan trọng đối với nền
kinh tế quốc dân, với người dân và với cả doanh nghiệp.
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu
Về các hình thức xuất khẩu, ta có bảng phân loại sau:

Hình thức
xuất khẩu

Xuất khẩu
trực tiếp

Xuất khẩu
ủy thác

Xuất khẩu
theo hình
thức buôn
bán đối
lưu

Xuất khẩu
theo hình
thức gia
công quốc

với các công ty có quy mô lớn đủ về nguồn nhân lực, tài chính cũng như quy mô
xuất khẩu đủ lớn.
* Xuất khẩu ủy thác:
Xuất khẩu uỷ thác là hình thức xuất khẩu trong đó đơn vị được cấp giấy
phép xuất khẩu không có điều kiện đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện hợp đồng
xuất khẩu, phải uỷ thác cho đơn vị khác có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu
tiến hành xuất khẩu hộ.
Cũng giống như hình thức xuất khẩu trực tiếp, hình thức xuất khẩu ủy thác
cũng có những hạn chế và lợi ích riêng. Cụ thể, đây là hình thức xuất khẩu không
cần đầu tư về nguồn lực lớn, rủi ro thấp và tốc độ chu chuyển vốn nhanh. Hạn chế
của hình thức là không kiểm soát được sản phẩm, phân phối, giá cả ở thị trường
nước ngoài giống như hình thức xuất khẩu trực tiếp nên không nắm bắt được sự
thay đổi nhu cầu thị hiếu các yếu tố môi trường, thị trường nước ngoài nhằm làm
thích ứng các hoạt động marketing
Xuất khẩu ủy thác có hiệu quả với những công ty hạn chế về nguồn lực,
quy mô xuất khẩu nhỏ.
* Xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu:
Xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu hay buôn bán đối lưu (Couter –
trade) là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp
chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hoá giao đi
có giá trị tương đương với lượng hàng hoá nhập về.
Mục đích của Xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu không phải là
đem về khoản ngoại tệ mà đem về một hàng hóa có giá trị tương đương.


10
Xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu có những ưu điểm nổi trội như
tránh được sự kiểm soát của Nhà nước về vấn đề ngoại tệ và loại trừ sự ảnh hưởng
của biến động tiền tệ, đồng thời khắc phục được tình trạng thiếu ngoại tệ trong
thanh toán.

nắm bắt được những vấn đề này, công tác nghiên cứu thị trường là không thể thiếu.
Công tác nghiên cứu thị trường sẽ giúp doanh nghiệp xuất khẩu tìm ra
những nhu cầu, thị hiếu của một bộ phận khách hàng nào đó của nước ngoài , một
danh mục sản phẩm nào đó mà họ yêu … để từ đó có chiến lược xuất khẩu phù
hợp.
Các bước cần thực hiện đối với quá trình nghiên cứu thị trường như sau:
- Xác định mục tiêu nghiên cứu
- Thu thập thông tin về thị trường xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm
- Phân tích thị trường xuất khẩu
- Đánh giá thị trường xuất khẩu
- Phân đoạn thị trường xuất khẩu
Từ việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ có những chính
sách về sản phẩm, giá, kênh phân phối cũng như các chính sách xúc tiến phù hợp và
hiệu quả nhất.
1.1.4.2. Tìm kiếm khách hàng:
Sau khi đã nghiên cứu về thị trường xuất khẩu các doanh nghiệp tiến hành
bước tiếp theo là tìm kiếm khách hàng. Như đã biết, đối với doanh nghiệp , khách
hàng là nhân tố có vai trò rất quan trọng, đó sẽ là người tiêu dùng sản phẩm và dịch
vụ của doanh nghiệp và quyết định sự thành bại của các chiến lược.
Để có thể tiến hành hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp cần tiến hành
tìm kiếm khách hàng có nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng mà doanh nghiệp bạn
xuất khẩu. Việc tìm kiếm khách hàng cũng cần dựa vào những đánh giá và những
báo cáo từ công tác nghiên cứu thị trường đưa ra.
1.1.4.3. Đánh giá khả năng xuất khẩu


12
Để công tác xuất khẩu hàng hóa đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp,
việc đánh giá khả năng xuất khẩu là rất quan trọng. Việc đánh giá này sẽ giúp
doanh nghiệp lường trước những rủi ro có thể gặp phải và có những kế hoạch đề

và củng cố những mối quan hệ hợp tác lâu dài với các đối tác nước ngoài, phục vụ
cho các giao dịch sau đó.
Ngược lại, khi đàm phán thất bại, công ty sẽ mất đi những cơ hội và những
mức lợi nhuận lớn. Nói như vậy để thấy rằng đàm phán thương lượng có tầm ảnh
hưởng lớn đến toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và công tác xuất
khẩu trong doanh nghiệp nói riêng.
1.1.4.6. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi đã tiến hành đàm phán thành công các giao dịch, doanh nghiệp sẽ
tiến hành tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Việc tổ chức thực hiện hợp đồng
xuất khẩu sẽ được thực hiện theo quy trình cụ thể được quy định bởi Nhà nước và
quy chế của doanh nghiệp.
Sau khi hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết, đơn vị kinh doanh xuất nhập
khẩu với tư cách là một bên ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là một
công việc rất phức tạp. Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời
đảm bảo được quyền lợi quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của đơn vị.
Công việc tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu thông thường trải qua các
công việc sau:
- Kiểm tra L/C ( nếu có )
- Chuẩn bị hàng xuất khẩu
- Thuê tàu
- Kiểm nghiệm hàng hóa
- Làm thủ tục hải quan
- Giao hàng lên tàu
- Mua bảo hiểm
- Thanh toán hợp đồng ( Thư tín dụng hoặc phương thức nhờ thu)
- Giải quyết các tranh chấp phát sinh


14
1.2. Cơ sở lý thuyết về thị trường xuất khẩu

Như vậy, có thể hiểu yếu tố cầu trong thị trường xuất khẩu tức là những
nhu cầu nhập khẩu những hàng hóa mà các đơn vị doanh nghiệp muốn xuất khẩu và
nó bao gồm cả yếu tố đủ khả năng thanh toán cho các đơn hàng nhập về.
Yếu tố cầu trong thị trường xuất khẩu có hai nhân tố chính là nhu cầu và
khả năng tài chính. Cầu thị trường xuất khẩu xuất hiện thì các doanh nghiệp mới
tiến hành cung ứng và lúc đó yếu tố cung sẽ xuất hiện trên thị trường xuất khẩu.
1.2.2.2. Yếu tố cung
Cung là một thuật ngữ dùng để chỉ thái độ của người bán và khả năng bán
về một loại hàng hóa nào đó. Cung trong thị trường xuất khẩu chỉ việc các doanh
nghiệp xuất khẩu có khả năng cung ứng các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với cầu
thị trường xuất khẩu.
Yếu tố cầu và cung nói chung và đối với thị trường xuất khẩu nói riêng có
liên hệ mật thiết với nhau. Thị trường xuất khẩu có cầu thì mới có cung và khi cung
quá cao hoặc quá thấp cũng đều ảnh hưởng đến yếu tố cầu. Việc phân tích sự ảnh
hưởng hai nhân tố này sẽ giúp các doanh nghiệp nhìn nhận đúng về thị trường để có
những chiến lược phù hợp.
1.2.2.3. Yếu tố giá cả
Giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay dịch vụ
của nhà cung cấp. Nó được xác định bởi một số yếu tố trong đó có thị phần, cạnh
tranh, chi phí nguyên liệu, nhận dạng sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng
với sản phẩm.
Trong chiến lược giá, việc định giá là rất quan trọng. Nếu định giá sai,
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút . Khi định giá, doanh nghiệp
có thể định giá cao hoặc định giá thấp. Nếu đặt giá quá thấp, nhà cung cấp sẽ phải
tăng số lượng bán trên đơn vị sản phẩm theo chi phí để có lợi nhuận. Nếu đặt giá
quá cao, khách hàng sẽ dần chuyển sang đối thủ cạnh tranh.
Trên thị trường xuất khẩu nói riêng và các thị trường khác nói chung, yếu
tố giá cả là yếu tố không thể bỏ qua. Trước khi đưa hàng hóa xuất khẩu ra thị



17
tác đã có mối quan hệ lâu dài với nhau nên mức độ tin tưởng cũng như những ưu
đãi trong các hợp đồng xuất khẩu sẽ cao hơn.
Thị trường xuất khẩu mới là thị trường doanh nghiệp có quan hệ hợp tác
trong thời gian ngắn, lượng hàng hóa trao đổi nhỏ lẻ và mang tính chất thăm dò.
Thị trường xuất khẩu tiềm năng là thị trường xuất khẩu mà các doanh
nghiệp xuất khẩu chưa có mối quan hệ làm ăn nhưng doanh nghiệp nhìn nhận được
những tiềm năng, những lợi ích mà thị trường này mang lại.
* Căn cứ vào loại hình cạnh tranh:
Căn cứ vào loại hình cạnh tranh, thị trường xuất khẩu được chia thành thị
trường độc quyền, thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường độc quyền nhóm.
Thị trường độc quyền là loại hình thị trường xuất khẩu mà trong đó doanh
nghiệp xuất khẩu có độc quyền bán .Độc quyền bán là chỉ có duy nhất doanh
nghiệp có quyền bán, xuất khẩu sản phẩm đó đến thị trường. Trên thị trường này,
giá cả và các quan hệ kinh tế do nhà độc quyền áp đặt, việc tham gia thị trường của
các đối tượng khác rất khó khăn.
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường ở đó có nhiều người tham gia
mua bán nhưng không có ai có ưu thế kiểm soát thị trường.
Thị trường độc quyền nhóm tồn tại ở hai trạng thái cạnh tranh và độc
quyền.
Bên cạnh đó, ta còn có phân loại thị trường xuất khẩu căn cứ theo phương
thức xuất khẩu. Với căn cứ này, thị trường được phân thành thị trường xuất khẩu
trực tiếp và gián tiếp, trong đó thị trường trực tiếp là hoạt động xuất khẩu diễn ra
trực tiếp giữa doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp nước ngoài, còn thị trường
gián tiếp thì khách hàng của các doanh nghiệp xuất khẩu là những trung gian chu
chuyển hàng hóa.
Hơn nữa, nếu căn cứ theo đặc điểm sản xuất hàng hóa, ta còn có thể phân
thành thị trường xuất khẩu hàng hóa gia công, thị trường xuất khẩu sản phẩm sản
xuất.




19
này là điều rất khó khăn với các doanh nghiệp nội địa, đòi hỏi các doanh nghiệp
này phải đầu tư về thời gian, nguồn lực và năng lực khác nhau.
Về nội dung của môi trường kinh doanh quốc tế, môi trường kinh doanh
quốc tế thường bao gồm môi trường chính trị, pháp luật, môi trường kinh tế, môi
trường văn hóa, cũng tương tự như nội dung của môi trường nội địa.
Môi trường chính trị là đề cập tới chính phủ, mối quan hệ giữa chính phủ
với doanh nghiệp, và mức độ rủi ro chính trị ở một nước. Kinh doanh quốc tế có
nghĩa là phải làm việc với các mô hình chính phủ khác nhau, các mối quan hệ và
mức độ rủi ro khác nhau. Ở mỗi quốc gia, mô hình và chế độ chính trị là khác nhau
dẫn đến những quy định về pháp luật kinh doanh cũng khác nhau. Việc tiến hành
các hoạt động kinh doanh xuất khẩu với các đơn vị doanh nghiệp của quốc gia đó
đòi hỏi các đơn vị xuất khẩu phải thích ứng và tuân theo môi trường chính trị của
nước đó.
Môi trường kinh tế giữa các nước khác nhau cũng khác nhau. Các nước về
mặt kinh tế thường được chia ra làm ba loại chính – nước phát triển hoặc nước công
nghiệp phát triển, nước đang phát triển và nhóm các nước chậm phát triển. Chính vì
có sự khác nhau về trình độ phát triển nên môi trường kinh tế cũng dẫn đến những
khác biệt trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi tham gia kinh doanh xuất
khẩu đối với thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp cần phân tích cụ thể về môi
trường kinh tế các nước đối tác để có những chiến lược kinh doanh phù hợp.
Môi trường văn hóa là một trong những cấu phần quan trọng của môi
trường kinh doanh quốc tế và là nội dung có tính thách thức nhất đối với kinh
doanh quốc tế. Mỗi quốc gia có văn hóa và cách ứng xử khác nhau, việc làm ăn với
các đối tác nước ngoài đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải nắm rõ
văn hóa của nước đối tác để có những cư xử đúng thuần phong mỹ tục của họ.
Đồng thời, việc nghiên cứu về môi trường văn hóa cũng có thể giúp các doanh
nghiệp nắm được nhu cầu và thị hiếu của khách hàng nước ngoài.

Sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế tác động trực tiếp tới sức mua
và cơ cấu chi tiêu của dân chúng. Sức mua phụ thuộc vào mức thu nhập hiện tại, chỉ


21
số giá cả, lạm phát v.v…Việc sức mua bị ảnh hưởng cũng sẽ ảnh hưởng đến yếu tố
cầu trên thị trường xuất khẩu.
Một minh chứng cụ thể là cuộc khủng hoàng kinh tế khởi phát từ Mỹ giữa
năm 2008 và nhanh chóng lan rộng tòan cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức mua
cho tới suốt năm 2009 tới nay mới có dấu hiệu phục hồi. Rất nhiều công ty lớn đã
lâm vào cành phá sản hay đình trệ. Chính phủ nhiều nước phải bỏ ra cả tỉ đô la để
kích cầu. Việt nam cũng bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp
đã phải nỗ lực hết sức để có thể vượt qua, trong đó có các doanh nghiệp xuất khẩu.
* Môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên hình thành nên đặc điểm của các khu vực thị trường
và những lợi thế trong cung ứng hàng hóa và ảnh hưởng tới vị thế cạnh tranh của
DN. Một quốc gia nước ngoài có môi trường tự nhiên khác nhau và các DB xuất
khẩu cần quan tâm tới các đặc điểm về địa lý, thời tiết, khí hậu, tài nguyên thiên
nhiên ở các nước đó, đồng thời nhìn nhận môi trường tự nhiên trong nước để thấy
sự ảnh hưởng đến khả năng cung ứng các sản phẩm sẽ đem xuất khẩu.
* Môi trường khoa học kỹ thuật và công nghệ:
Khoa học kỹ thuật và công nghệ có ảnh hưởng to lớn tới sản xuất, kinh
doanh và cả sự tiêu thụ. Các phát minh mới, các tiến bộ của khoa học kỹ thuật sẽ
làm ra các sản phẩm mới, đồng thời làm này sinh các nhu cầu mới và làm triệt tiêu
cá công nghệ cụ hay nhu cầu cũ.
Việc đầu tư tốt cho khoa học kỹ thuật sẽ giúp các sản phẩm xuất khẩu đạt
chất lượng cao hơn và từ đó doanh nghiệp sẽ đưa ra cho thị trường những sản phẩm
thu hút.
* Môi trường chính trị pháp luật:
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải hoạt động trong một thế chế chính trị

nghiệp xuất khẩu, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh của ngành kinh doanh
xuất khẩu của các doanh nghiệp.
Có 5 yếu tố cơ bản của môi trường tác nghiệp là đối thủ cạnh tranh, người
mua, người cung cấp, các đối thủ mới tiềm ẩn và sản phẩm thay thế, trong đó đối
thủ tiềm ẩn chỉ một đối thủ có khả năng gia nhập và cạnh tranh trong một thị trường
cụ thể song hiện tại chưa gia nhập, sản phẩm thay thế là sản phẩm có thể thay thế


23
các loại sản phẩm khác tương đương về công dụng (hoặc tiêu thụ) khi có các điều
kiện thay đổi. Sản phẩm thay thế có thể có chất lượng tốt hơn hoặc thấp hơn mặt
hàng nó thay thế và đa số có mức giá rẻ hơn.
1.3.4. Các yếu tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, các yếu tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp xuất
khẩu cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu trên thị trường xuất khẩu
nói chung.
Các yếu tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp bao gồm: Nguồn
lực về con người, tài chính, công nghệ, sản phẩm, giá, kênh phân phối, xúc tiến
quảng cáo... của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có văn hóa doanh nghiệp. Yếu tố văn
hóa doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động nói chung, trong đó
có hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Cụ thể, các yếu tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp xuất khẩu
bao gồm:
- Chi phí sản xuất và giá dược phẩm xuất khẩu
- Chất lượng và cơ cấu dược phẩm xuất khẩu
- Thương hiệu dược phẩm xuất khẩu
- Phương thức xuất khẩu dược phẩm
- Nguồn cung ứng đầu vào
- Nguồn nhân lực và hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D)
- Năng lực marketing và chất lượng dịch vụ, phục vụ của doanh nghiệp

tiềm năng để phát triển.

CHƯƠNG 2


25

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG
XUẤT KHẨU DƯỢC PHẨM CỦA CÔNG TY CP DƯỢC
PHẨM, TRANG THIẾT BỊ Y TẾ BÌNH ĐỊNH
2.1. Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần dược phẩm, trang thiết bị y
tế Bình Định
Dưới đây là một số thông tin cơ bản của Công ty Cổ phần dược phẩm,
trang thiết bị y tế Bình Định:
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC - TRANG THIẾT BỊ Y TẾ
BÌNH ĐỊNH (BIDIPHAR)
Tên giao dịch quốc tế: BinhDinh Pharmaceutical and Medical Equipment
Join Stock Company
Địa chỉ:

498 Nguyễn Thái Học, Tp Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định

Điện thoại: +84 (56) 3846500 – 3846040 – 3847798
Fax: +84 (56) 3846846
Email:



Website:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status