CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ VIỆT NAM
CHI NHÁNH HƯNG YÊN
Họ và tên:
MSSV:
Lớp:
Giáo viên hướng dẫn:
Hà nội - 2015
Tài chính Ngân hàng 25B
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
MỤC LỤC
Hà nội - 2015.................................................................................................................................1
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
DANH MỤC VIẾT TẮT
NHNN
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Hà nội - 2015.................................................................................................................................1
Sơ đồ 2.1:
Cơ cấu tổ chức.............................Error: Reference source not found
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế đầy biến động và nhiều rủi ro như hiện nay, ngân hàng có
vai trò vô cùng quan trọng. Đó là điều tiết nhịp nhàng nền kinh tế, đưa nền kinh
tế trở về trạng thái cân bằng. Ngân hàng vốn được biết đến là một trung gian tài
chính, là nơi mà người có nhu cầu vay vốn đến vay và người có nhu cầu gửi tiết
kiệm đến gửi. Nhờ ngân hàng mà nhu cầu của cả người đi vay và người cho vay
đều được đáp ứng.
Nhắc tới ngân hàng là chúng ta không thể không nhắc tới vấn đề tín dụng. Tín
dụng ngân hàng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng. Nhờ hoạt động
này mà ngân hàng được coi là kênh huy động vốn quan trọng nhất trong hệ thống
tài chính nước ta, góp phần thúc đẩy sự phát triển cân đối của các ngành, các lĩnh
vực theo định hướng của Nhà nước. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng ngân hàng luôn
chứa đựng nhiều rủi ro. Rủi ro trong hoạt động tín dụng không chỉ tác động tới tài
sản, uy tín của mỗi ngân hàng mà còn tác động tiêu cực tới các ngân hàng và tổ
dụng trong hoạt động kinh doanh của Co-opBank – Chi nhánh Hưng Yên.
- Để giải quyết từng vấn đề trên, ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề bao
gồm những nội dung chính như sau :
Chương I: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng tại Tổ chức tín dụng hợp tác .
Chương II: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Co-opBank - Chi nhánh
Hưng Yên.
Chương III: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Co-opBank –
Chi nhánh Hưng Yên.
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chuyên đề vẫn không tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy, rất mong được sự tham gia đóng góp của quý thầy, cô.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Nguyễn Thị Minh Huệ người đã tận tình
hướng dẫn, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong thời gian qua để em có thể hoàn
thành chuyên đề này.
Xin cảm ơn Ban Giám đốc và các cán bộ nhân viên làm việc tại Co-opBank –
Chi nhánh Hưng Yên đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian tôi thực
tập tại cơ quan.
SVTH: Lê Văn Đoan
2
MSSV: 12131034
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG HỢP TÁC
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
quyền tự do lựa chọn của thành viên nhưng lại vừa đảm bảo tính ổn định
trong tổ chức và hoạt động của TCTD hợp tác.
+ Nguyên tắc quản lý dân chủ và bình đẳng: Sau khi gia nhập, mọi
thành viên đều được quyền tham gia quản lý TCTD hợp tác thông qua các
quyền cơ bản của thành viên, đó là: Được dự đại hội thành viên để thảo luận
và biểu quyết các vấn đề quan trọng của TCTD hợp tác; được ứng cử, bầu cử
vào bộ máy quản trị, kiểm soát và điều hành của TCTD hợp tác; được cung
cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động của TCTD hợp tác; các
thành viên có quyền ngang nhau trong biểu quyết (mỗi thành viên bằng một
phiếu bầu, không phân biệt số vốn góp). Đây chính là một trong những điểm
khác biệt cơ bản của loại hình TCTD hợp tác so với các loại hình TCTD cổ
phần khác.
+ Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: Với tư cách là một
doanh nghiệp, TCTD hợp tác tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của
mình, tự quyết định về phân phối thu nhập; đồng thời, đảm bảo rằng TCTD
hợp tác và các thành viên cùng có lợi.
+ Nguyên tắc chia lãi đảm bảo kết hợp lợi ích của thành viên và sự phát
triển của TCTD hợp tác: Theo nguyên tắc truyền thống, lợi nhuận của
TCTD hợp tác không được chia theo vốn góp, vì điều này có thể làm xói
mòn tinh thần hợp tác, đề cao tư tưởng lợi nhuận, nhưng nếu không chia thì
không thể thu hút được đông đảo thành viên tham gia. Tuy nhiên, nếu chia
toàn bộ lợi nhuận theo vốn góp thì rất dễ quay trở về mô hình doanh nghiệp
thương mại, theo đó lợi nhuận cơ bản chia theo vốn góp và như vậy thì
TCTD hợp tác không còn có lợi thế trong việc khuyến khích tinh thần tương
trợ cộng đồng. Vì vậy, qua quá trình phát triển lâu dài của các TCTD hợp
hợp tác có thể áp dụng hoặc không áp dụng.
Chính các nguyên tắc hợp tác xã này đã tạo nên sự gắn bó tự nguyện
nhưng hết sức chặt chẽ giữa TCTD hợp tác với các thành viên của nó. Mỗi
một thành viên khi gia nhập vào TCTD hợp tác đều xác định sẽ gắn bó lâu
dài, không chỉ vì lợi ích của riêng mình mà còn vì lợi ích của cộng đồng.
Mặt khác, việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của TCTD hợp tác không chỉ
là nhu cầu mà còn là trách nhiệm, là nghĩa vụ của thành viên. Điều này hoàn
toàn khác biệt với các cổ đông của các TCTD thương mại.
- Các thành viên (đồng thời là khách hàng và là chủ sở hữu) luôn hiểu
rõ tình hình hoạt động của TCTD hợp tác
Nói chung, các TCTD hợp tác thường hoạt động trong một địa bàn dân
cư nhất định, nơi mà các thành viên chỉ sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của
TCTD hợp tác, trừ những sản phẩm, dịch vụ mà TCTD hợp tác không đáp
SVTH: Lê Văn Đoan
5
MSSV: 12131034
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
ứng được. Mặt khác, bộ máy kiểm soát, giám sát hoạt động của TCTD hợp
tác do chính các thành viên bầu ra luôn sẵn sàng cung cấp các thông tin về
tình hình tổ chức và hoạt động của TCTD hợp tác. Ngoài ra, các thành viên
còn được quyền tiếp cận với mọi thông tin về TCTD hợp tác khi cần thiết. Vì
vậy, những băn khoăn, nghi ngờ của các thành viên đối với sự an toàn của
TCTD hợp tác luôn được giải tỏa một cách nhanh chóng.
Trong cơn khủng hoảng, yếu tố niềm tin đóng một vai trò hết sức quan
Đây chính là một trong những yếu tố hết sức quan trọng giúp các TCTD
hợp tác vượt qua cơn bão khủng hoảng tài chính, đặc biệt là ở những nước
có cấu trúc hệ thống TCTD hợp tác hoàn chỉnh như Canada hay CHLB Đức.
Khả năng liên kết hệ thống của các TCTD hợp tác được biểu hiện thông qua
hai hình thức sau:
Một là, liên kết thông qua hoạt động, chủ yếu gồm: (i) Điều hoà vốn
khả dụng trong toàn hệ thống theo nguyên tắc “bình thông nhau”, trong đó
TCTD đầu mối (ở Việt Nam là QTDND Trung ương) đóng vai trò trung gian
điều tiết; (ii) Trích lập và quản lý chung các loại quỹ nhằm hỗ trợ các TCTD
hợp tác khi gặp khó khăn tạm thời (quỹ dự phòng khả năng chi trả, quỹ tiền
gửi,…), nâng cao hiệu quả đầu tư đối với những dự án lớn mà từng TCTD
hợp tác cấp cơ sở riêng lẻ khó thực hiện được (quỹ đầu tư, cơ chế đồng tài
trợ,..); (iii) Xây dựng, áp dụng các chuẩn mực, quy tắc về đầu tư an toàn,
thận trọng thống nhất cho cả hệ thống; (iv) Tư vấn về các vấn đề pháp lý và
hoạt động nghiệp vụ; (v) Thiết lập hệ thống thanh toán, thông tin nội bộ; (vi)
Phối hợp thực hiện các chương trình hành động chung trong hệ thống; (vii)
Lập bảng cân đối tổng hợp chung để có thể phân tích tình hình hoạt động của
toàn hệ thống.
Hai là, liên kết thông qua cơ cấu tổ chức: Mặc dù mỗi TCTD hợp tác là
một pháp nhân độc lập nhưng lại được liên kết hết sức chặt chẽ thông qua cơ
cấu tổ chức của hệ thống. Các TCTD hợp tác cùng nhau thành lập nên tổ
chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Với vai trò điều
phối hoạt động chung của toàn hệ thống, tổ chức này chịu trách nhiệm thiết
lập và quản lý các tổ chức hỗ trợ liên kết, phát triển hệ thống như: Tổ chức
kiểm toán đóng vai trò phát hiện, đồng thời đưa ra những tư vấn, khuyến
nghị giúp các TCTD hợp tác kịp thời khắc phục những yếu kém, bất cập về
tổ chức và hoạt động; Quỹ An toàn đóng vai trò hỗ trợ nhằm giúp các TCTD
hợp tác vượt qua khó khăn về tài chính.
SVTH: Lê Văn Đoan
- Theo kỳ hạn nợ, tín dụng được chia thành: nợ chưa đến hạn, nợ đến hạn và
nợ quá hạn
- Theo xuất xứ của tín dụng có thể phân loại thành: tín dụng trực tiếp (là hình
thức tín dụng mà theo đó ngân hàng sẽ cung cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu sử
dụng vốn đồng thời vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng) và tín dụng gián tiếp (là
hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không trực tiếp cung cấp vốn cho người có nhu
cầu vay vốn mà là mua lại các khoản cho vay, các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát
sinh vẫn còn thời hạn của các doanh nghiệp hoặc của các ngân hàng khác).
SVTH: Lê Văn Đoan
8
MSSV: 12131034
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
- Theo mức độ bảo đảm, tín dụng được chia thành: tín dụng có bảo đảm (là
hình thức cấp tín dụng có bảo đảm bằng tài sản của chính người vay, tài sản hoặc
bảo lãnh của bên thứ ba); tín dụng không có bảo đảm (là hình thức tín dụng không
có bảo đảm bằng tài sản hoặc bảo lãnh đối với khoản vay)
Ngoài ra, còn có thể phân loại tín dụng theo nhiều tiêu chí khác: theo ngành
nghề kinh tế (tín dụng công nghiệp, tín dụng nông nghiệp...), theo đồng tiền cho vay
(VND, USD,..), theo phương pháp hoàn trả (tín dụng trả góp, phi trả góp), theo đối
tượng sử dụng vốn (tín dụng bán lẻ, doanh nghiệp,...) theo hình thái tín dụng của
ngân hàng (tín dụng bằng tiền, bằng tài sản)...
1.2. Quản trị rủi ro tín dụng của tổ chức tín dụng hợp tác
1.2.1. Rủi ro tín dụng của TCTD hợp tác
1.2.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng .
- Rủi ro tín dụng và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với
nhau trong một phạm vi nhất định ( lợi nhuận càng cao, thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn).
- Vì rủi ro tín dụng có tính chất khách quan nên không thể loại trừ hoàn toàn được
mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra.
1.2.1.2. Đo lường rủi ro tín dụng
a, Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là một khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi đã quá hạn.
Một khía cạnh khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không được hoàn trả
đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện được gia hạn nợ.
Công thức tính chỉ tiêu nợ quá hạn:
Tỷ lệ nợ quá hạn =
100%
Trong một thời kỳ nhất định, tỷ lệ nợ quá hạn cao, tức là nợ quá hạn chiếm tỷ
lệ lớn trong tổng dư nợ, thì chất lượng tín dụng của ngân hàng được đánh giá là
kém. Khi khách hàng vay ngân hàng một khoản tiền từ ngân hàng nhưng không trả
cho ngân hàng gốc, lãi đúng hạn thì khoản tiền đó được xếp vào nợ quá hạn. Khi
khoản nợ quá hạn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tiền cho vay thì khả năng không thu
hồi được vốn của ngân hàng là khá cao. Nếu tình trạng nợ quá hạn diễn ra trong một
thời gian dài thì ngân hàng sẽ bị đặt trong tình trạng báo động, có nguy cơ mất khả
năng thanh khoản và từ đó có thể dẫn tới bị phá sản.
b, Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay.
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm đầy đủ, thống nhất về nợ xấu. Và khi nói
đến nợ xấu, người ta mới chỉ mô tả, nêu lên được một vài đặc điểm chung nhất của
SVTH: Lê Văn Đoan
10
-
Những khoản nợ mà ngân hàng không thể lien lạc được với người mắc nợ
hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
-
Những khoản nợ mà người mắc nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc
thanh lý tài sản hoặc kinh doanh thua lỗ và tài sản không còn đủ để trả nợ.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức
tín dụng. Công thức tính tỷ lệ nợ xấu:
Số tiền nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu =
------------------Tổng dư nợ
Hiện nay, một tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu dưới 5% được coi là nằm trong
giới hạn cho phép, khi tỷ lệ nợ xấu vượt quá 5% thì TCTD đó cần phải xem xét, rà
SVTH: Lê Văn Đoan
11
MSSV: 12131034
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
soát lại danh mục đầu tư của mình một cách đầy đủ, chi tiết và thận trọng.
12
MSSV: 12131034
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
cũng như trình độ phân tích, đánh giá của cán bộ tín dụng.
- Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor
Moody và Standard & Poor là những công ty cung cấp dịch vụ tốt nhất trong
việc đánh giá rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thông qua việc xếp hạng trái
phiếu và khoản vay. Moody và Standard & Poor xếp hạng trái phiếu và khoản cho
vay theo 9 hạng với chất lượng giảm dần, trong đó 4 hạng đầu ngân hàng nên cho
vay, còn các hạng sau thì không nên đầu tư cho vay.
- Mô hình điểm số Z:
Đây là mô hình dùng để cho điểm tín dụng đối với các khách hàng là doanh
nghiệp. Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối
với người đi vay và nó phụ thuộc vào:
- Trị số của các chỉ số tài chính.
- Tầm quan trọng của các chỉ số đó trong xác định xác suất vỡ nợ của người
vay trong quá khứ.
Ưu điểm của phương pháp này là kỹ thuật đo lường đơn giản. Nhưng lại có
nhược điểm là mô hình chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro và
không có rủi ro. Nhưng trong thực tế, mức độ rủi ro tiềm năng của khách hàng khác
nhau từ mức thấp nhất như chậm trả lãi, không trả được lãi cho đến mức không trả
được cả gốc và lãi. Mặt khác, các chỉ số trong mô hình có thể thay đổi khi các điều
kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường thay đổi do đó rất khó lượng hóa một
cách chính xác. Ngoài ra, mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng
nhưng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến khoản vay như: mối quan
Cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục cho
vay và cấp tín dụng khác, tránh xảy ra sự cố gây thất thoát tài sản, sắp xếp lại bộ
máy tổ chức, tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu kinh
doanh ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với từng đối tượng khách
hàng, từng hoạt động kinh doanh và tính chất rủi ro của khoản nợ của tổ chức tín dụng.
Thực hiện chính sách quản lý rủi ro tín dụng, phương pháp xác định và đo
lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, mô hình giám sát rủi ro tín dụng, trong đó bao
gồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, các tài sản bảo đảm,
hợp đồng tín dụng, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của tổ chức tín dụng.
Thực hiện các quy định bảo đảm kiểm soát rủi ro và an toàn hoạt động tín
dụng bao gồm:
- Xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ thống các quy chế, quy trình nội bộ về
quản lý rủi ro, trong đó đặc biệt chú trọng về xây dựng chính sách cho vay khách
hàng, quy định về đánh giá, sổ tay tín dụng, xếp hạng khách hàng vay, đánh giá chất
lượng tín dụng và xử lý các khoản nợ xấu.
- Mở rộng tín dụng trung và dài hạn ở mức thích hợp, đảm bảo cân đối về thời
SVTH: Lê Văn Đoan
14
MSSV: 12131034
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
hạn cho vay với thời hạn của nguồn vốn huy động được.
- Thực hiện đúng quy định về giới hạn cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh,
bao thanh toán đối với mọi khách hàng và các tỷ lệ đảm bảo an toàn cho hoạt động
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
– Nhận thêm tài sản thế chấp hoặc sự bảo lãnh.
b. Biện pháp giải quyết nợ quá hạn
– Biện pháp khai thác: áp dụng để xử lý những khoản nợ quá hạn thuộc loại
khó đòi giống như một chương trình phục hồi.
–
Ngân hàng hướng dẫn, tư vấn khách hàng về những vấn đề như khả năng
tạo ra sản phẩm và lợi nhuận.
– Gia hạn điều chỉnh lại kỳ hạn để giảm quy mô hoàn trả trước mắt, cho vay
tiếp để tăng sức mạnh tài chính cho người vay, khôi phục lại cho sản xuất kinh
doanh và tổ chức giám sát.
– Quản lý chặt chẽ ngân quỹ chi tiêu, bán bớt tài sản có giá trị, giảm lượng
hàng tồn kho.
– Đề nghị khách hàng nên cải tạo hệ thống sản xuất kinh doanh, thay đổi
thiết bị, máy móc và công nghệ, tổ chức lại sản xuất. Khuyến khích khách hàng thu
hồi những khoản nợ trả chậm bằng cách đẩy mạnh tiến trình thu hồi khoản phải đòi,
giảm tối đa lượng vốn bị chiếm dụng.
– Trực tiếp giúp đỡ những khách hàng khi gặp khó khăn tài chính như cấp
thêm tín dụng để phục hồi sản xuất kinh doanh.
– Cuối cùng nếu tình thế không thể giải quyết được thì tiến hành thanh lý
TSĐB.
c. Trích lập dự phòng tổn thất:
Việc trích lập dự phòng tổn thất được thực hiện đối với các khoản nợ quá
hạn,chia theo 5 nhóm, tỷ lệ trích lập khác nhau:
1.3.1.2 Công tác thực hiện tài sản đảm bảo
Thị trường bất động sản ở Việt nam hiện nay khá đa dạng nhưng lại thiếu sự
ổn định gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong quá trình thẩm định. Măc dù có yêu
cầu phải bảo hiểm tài sản nhưng không thể coi đó là tấm bùa hộ mệnh đối với giá trị
của khoản tín dụng. Đôi khi cán bộ tín dụng có thể bỏ sót một số khâu trong quá
trình thẩm định, gây ra những rủi ro cho ngân hàng trong quá trình thu hồi nợ. Hơn
nữa hiệu quả quản lý tài sản đối với ngân hàng còn khó khăn do không có đủ cơ sở
vật chất về kho bãi riêng để bảo quản nên thường xảy ra tình trạng giảm sút giá trị
của tài sản do những hao mòn vô hình mà ngân hàng không thể kiểm soát được.
1.3.1.3. Năng lực của đội ngũ nhân viên tín dụng
Hiện nay hàng loạt các ngân hàng cổ phần ra đời, sự cạnh tranh giữa các ngân
hàng ngày càng gia tăng kéo theo sự cạnh tranh về nguồn lực. Để mở rộng mạng
lưới hoạt động, các TCTD cũng có nhiều chính sách riêng để thu hút lao động. Tuy
SVTH: Lê Văn Đoan
17
MSSV: 12131034
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
nhiên, việc tuyển dụng lao động đa phần là nhân viên mới ra trường nên chưa có đủ
kinh nghiệm để tiến hành thẩm định cho vay, chưa nhận thức được đầy đủ vể yêu
cầu và tính phức tạp của công tác tín dụng trong môi trường mới. Do thiếu kinh
nghiệm nên không thể nhận biết được những dấu hiệu của rủi ro đôi khi nó xuất
hiện ngay từ khâu tiếp xúc khách hàng.
Đôi khi cán bộ tín dụng không chấp hành đầy đủ quy trình, quy chế nghiệp vụ
tín dụng đã được ban hành, công tác thẩm định không kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, do
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
đều có thâm niên hoạt động từ thời bao cấp nên tư tưởng quản tị còn yếu kém va ỷ lại.
Do những người quản lý ở đây trình độ chuyên môn còn thiếu những kỹ năng quản trị,
hoạch định, kiến thức về kinh tế vĩ mô và chưa nhạy bén với tình hình thi trường, vì
vậy hiệu quả của công tác quản lý rất thấp.
- Do doanh nghiệp khan hiếm thông tin
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp thường thiếu thông
tin về tình hình tài chính trong nước và quốc tế để phục vụ cho quá trình sản xuất
kinh doanh. Nhất là đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập
khẩu, họ thiếu thông tin về các tập quán, thông lệ quốc tế, khi đó dẫn đến tình
trạng vi phạm hợp đồng, thiệt hại trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do thiếu
thông tin nờn cỏc doanh nghiệp phân tích nhu cầu thị trường kém chuẩn xác, gây
lãng phí vốn.
- Doanh nghiệp chậm thích nghi với cơ chế mới
Hiện nay, bản thân các doanh nghiệp chưa xác định rõ cơ hội và khó khăn sau
khi ra nhập WTO, chưa có sự chuẩn bị vì trong tương lai vai trò của các doanh
nghiệp trong nước và nước ngoài là bình đẳng, không có sự bảo hộ của Nhà nước.
Vì vậy, khả năng thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp trong nước là rất lớn.
- Do khách hàng gian lận
Khách hàng gian lận là loại rủi ro khó quản lý nhất. Một số trường hợp khách
hàng gian lận khi đến vay vốn tại Chi nhánh như:
Gian lận liên quan đến báo cáo tài chính hoặc gian lận kế toán: hình thức gian lận
này xảy ra khi một công ty cố tình khai mang các số liệu trên báo cáo tài chính. Gian
lận báo cáo tài chính diễn ra dưới hình thức như: Ghi nhận doanh thu không đúng, có
sự khác biệt giữa nội dung và hình thức; gian lận doanh thu không đúng kỳ kế toán;
công bố không đầy đủ các giao dịch với cỏc bờn liên quan; xác định giá trị tài sản
không đúng; gian lận liên quan đến tài sản đảm bảo; giõn lận liên quan đến việc ngụy
tạo uy tín để lợi dụng vay tiền như cố ý gây thanh thế, móc nối với cán bộ ngân hàng…
- Sự thiếu nghiêm túc của người vay trong quá trình thực hiện hợp đồng
- Rủi ro do sự thay đổi của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh, bão
lụt gây tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh
Việt Nam là nước nông nghiệp với thế mạnh về các mặt hàng nông sản như:
gạo, cà phê, cao su, tiêu, điều… và có tỷ trọng xuất khẩu cao hàng năm. Bên cạnh
đú cũn cú ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm chế biến thủy hải sản. Đặc điểm
của ngành nghề này là rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết và dịch bệnh.
Trong những năm qua, dịch cúm gia cầm và thiên tai bão lũ diễn ra thường xuyên
tại khắp các khu vực đó gõy tổn thất năng nề cho nền kinh tế.
Các hộ gia đình, các doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh để kinh doanh nông
sản, chăn nuôi gia súc gia cầm và nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng nặng nề nên rất
SVTH: Lê Văn Đoan
20
MSSV: 12131034
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
khó khăn trong việc trả nợ vay.
- Rủi ro do sự biến động quá nhanh và không dự đoán trước được của thị
trường thế giới
Trong những năm vừa qua, thế giới cớ nhiều biến động lớn về giỏ cỏc loại
mặt hàng nguyên nhiên liệu đầu vào như ngành nhừa, xăng, dầu… đã ảnh hưởng
trực tiếp đến việc triển khai dự án, hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng
và đã gián tiếp làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Chi nhánh vì phương
án kinh doanh của khách hàng bị thất bại, không đủ khả năng trả nợ.
- Rủi ro tín dụng do môi trường pháp lý
Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương. Trong những năm