Phát huy trí lực của học sinh thông qua sử dụng bài tập thực nhiệm trong dạy học hóa học vô cơ - Pdf 35

Sáng kiến kinh nghiệm



Trần Hùng Chỉnh

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, nên các thí nghiệm hoá học đóng
vai trò quan trong trong việc đào tạo, cũng như giảng dạy môn hoá học ở các trong
phổ thông. Tuy nhiên trong giảng dạy hoá học ở trường phổ thông bài tập hoá học
cũng có tác dụng rất to lớn trong việc phát huy trí lực của học sinh; đặc biệt là các
bài tập thực nghiệm hoá học.
Bài tập thực nghiệm hoá học là một trong những xu hướng phát triển của bài tập
hiện nay. Vì nó có khả năng phát triển tư duy cho học sinh ở cả ba phương diện: lý
thuyết, thực hành và ứng dụng.
Giải bài tập thực nghiệm hoá học là một cách thức học tập tích cực đối với học
sinh, nó giúp học sinh thường xuyên cũng cố các kiến thức lý thuyết, nâng cao kỹ
năng, kỹ xảo thực hành và vận dụng các kiến thực học được để giải thích các vấn
đề trong cuộc sống sản xuất.
Vì thế, bài tập thực nghiệm hoá học là phương tiện rất tốt để phát huy tính tích
cực, chủ động và sự sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học.
Xuất phát từ suy nghĩ đó, với vốn kiến thức và kinh nghiệm của mình tôi đã
chọn đề tài
“ Phát huy trí lực của học sinh thông qua sử dụng bài tập thực nghiệm trong
giảng dạy hoá vô cơ”
Mục tiêu tôi chọn đề tài này cũng với mong muốn xây dựng và chọn lọc một số
bài tập thực nghiệm hoá học vô cơ, nhằm rèn luyện cho học sinh tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của mình trong học tập môn hoá học. Đồng thời giúp học sinh
nâng cao kỹ năng, kỹ xảo thực hành hoá học và vận dụng các kiến thức học được
để giải thích các hiện tượng xảy ra trong đời sống sản xuất; từ đó tạo ra hứng thú

Nghiên cứu thực tiễn: Trao đổi, tìm hiểu việc dạy và học môn hoá học và về
tình hình sử dụng bài tập thực nghiệm ở trường phổ thông.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường phổ thông.
VI. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Tổng quan lý thuyết về sự phát triển trí lực của học sinh phổ thông trong quá
trình nhận thức-học tập.
Lựa chọn và sử dụng bài tập thực nghiệm hoá học vô cơ lớp 10, 11, 12.
Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm.
Nêu kết quả và kiến nghị
VII. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
- Phần I: Mở đầu
- Phần II. Nội dung
Chương I: Tổng quan lý thuyết
Chương II: Lựa chọn, sử dụng bài tập thí nghiệm hoá học vô cơ ở trường
THPT để phát huy trí lực của học sinh.
- Phần III: Kết luận và tài liệu tham khảo

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------2


Sáng kiến kinh nghiệm



Trần Hùng Chỉnh

PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ LỰC CỦA HỌC SINH
TRONG QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC - HỌC TẬP

nhưng có ba con đường chủ yếu
1. Thứ nhất là: hình thành những tri thức sâu sắc hơn thuộc môn học
2. Thứ hai là: Dạy cho học sinh những thao tác hành động trí tuệ (thao tác tư
duy) quan trọng nhất đối với việc lĩnh hội giáo trình hoá học
3. Thứ ba là: Sử dụng rộng rãi các biện pháp và phương pháp dạy học có tác
dụng nâng cao tối đa tính tích cực hoạt động học tập của học sinh, bỗi dưỡng
ở học sinh tính độc lập hứng thú nhận thức và áp dụng một cách có suy nghĩ
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------3


Sáng kiến kinh nghiệm



Trần Hùng Chỉnh

các tri thức và những dạng công tác học tập trong lớp cũng như các hoạt
động ngoài lớp khác nhau như: Việc sử dụng các thí nghiệm hoá học thực
hành, thí nghiệm hoá học vui, thí nghiệm biểu diễn, đặc biệt là các bài tập thí
nghiệm hoá học trong giảng dạy và học tập môn hoá học.
III. RÈN LUYỆN TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CỦA
HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN HOÁ HỌC
Để phát huy tính tích cực của học sinh giáo viên cần:
1. Đặt cho học sinh những câu hỏi, những bài tập có tính chất nê vấn đề và học
sinh giải quyết nó thông qua những suy nghĩ, trao đổi và thảo luận hoặc
thông qua các thí nghiệm, bài tập thí nghiệm hay các bài tập hoá học nói
chung.
2. Đề ra công việc cho học sinh mang tính chất nghiên cứu
3. Sử dụng két hợp đồng thời, hợp lý các phương tiện trực quan, đồ dùng dạy
học của môn học.

Sáng kiến kinh nghiệm



Trần Hùng Chỉnh

V. VAI TRÒ VÀ TÁC DỤNG CỦA BÀI TẬP THÍ NGHIỆM HOÁ HỌC
TRONG VIỆC RÈN LUYỆN TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC MÔN
HOÁ HỌC
1. Tác dụng trí dục
1.1. Bài tập thí nghiệm làm hiểu sâu hơn các kiến thức đã học
1.2. Bài tập thí nghiệm hoá học có tác dụng mở rộng hiểu biết của học sinh một
cách sinh động, phong phú, nâng cao hiểu biết của học sinh.
1.3. Bài tập thí nghiệm hoá học có tác dụng củng cố các kiến thức cũ một cách
thường xuyên và hệ thống các khái niệm đã học…
1.4. Bài tập hoá học nói chung và bài tập thí nghiệm hoá học nói riêng có tác dụng
rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo hoá học cần thiết cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng thực
hành hoá học…
1.5. Bài tập thí nghiệm hoá học có tác dụng tạo điều kiện để phát huy tư duy, rèn
luyện tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh…
2. Tác dụng giáo dục tư tưởng
Giúp học sinh tin tưởng hơn vào khoa học, kỹ thuật và công nghệ
3. Tác dụng giáo dục kỹ thuật tổng hợp phục vụ đời sống và sản xuất.
VI. CÁC LOẠI BÀI TẬP THỰC NGHIỆM HOÁ HỌC
Bài tập thực nghiệm hoá học thường được chia làm hai loại cơ bản: Bài tập thực
nghiệm định tính và bài tập thực nghiệm định lượng
1. Bài tập thực nghiêm định tính gồm các dạng sau
1.1.Bài tập về lắp giáp dụng cụ, sử dụng hình vẽ tranh ảnh
1.2. Bài tập về quan sát, mô tả và giải thích hiện tượng thí nghiệm.

cao đến đâu đi chăng nữa cũng không đảm bảo việc lĩnh hội tri thức khoa học của
người học ở mức độ cao…
Tóm lại, thí nghiệm hoá học có vai trò bậc nhất trong việc giảng dạy và học tập
môn hoá học. Nó có tác dụng làm phát triển tính tích cực, tính độc lập, óc sáng
kiến, những hứng thú nhận thức và naang cao lòng tin vào khoa học cho học sinh.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------6


Sáng kiến kinh nghiệm



Trần Hùng Chỉnh

CHƯƠNG II:
LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP THỰC NGHIỆM HOÁ HỌC
VÔ CƠ Ở TRƯỜNG THPT ĐỂ PHÁT HUY TRÍ LỰC CHO HỌC SINH
I. VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP
THỰC NGHIỆM HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY
Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, do đó bài tập thực nghiệm là một
dạng bài tập mang bản chất hoá học. Vì vậy những năm trở lại đây bài tập thực
nghiệm hoá học đã được sử dụng rất nhiều trong quá trình dạy học của các thầy cô
giáo ở các trường phổ thông để phát huy trí lực của học sinh, cũng như phục vụ
cho việc thi cử trong các kì thi tốt nghiệp, kì thi tuyển sinh đại học và cao đẳng của
học sinh.
II. LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP THỰC NGHIỆM HOÁ
HỌC VÔ CƠ Ở CHƯƠNG TRÌNH THPT
1. Căn cứ vào chương trình hoá học THPT
2. Chọn lọc và hướng dẫn cách giải bài tập một số bài tập thực nghiệm hoá




Trần Hùng Chỉnh

- NHóm II: Không tan trong nước là BaCO3, BaSO4
* Đa số các học sinh đều có thể phân biệt được đến bước này. Nhưng để phân biệt
được tiếp nữa thì các học sinh trung bình, yếu đều không thể phân biệt được nữa.
Để các em có thể nhận biết được nữa thì giáo viên phải hướng dẫn tiếp, ở nhóm II
các em xem các chất có đặc điểm gì khác nhau. Khi đó học sinh dùng cả H 2O và
CO2 cho vào nhóm II thì được
- Chất rắn tan là BaCO3
- Chất rắn không tan là BaSO4
* Nhưng đối với các chất ở nhóm I thì gần như học sinh không tìm ra thuốc thử để
nhận biết. Giáo viên lúc này nên hướng dẫn học sinh là trong loại bài tập nhận biết
giới hạn thuốc thử ta có thể dùng các chất vừa tìm được hoặc là sản phẩm của các
quá trình nhận biết để nhận biết ra các chất còn là. Khi đó học sinh sử dụng thuốc
thử Ba(HCO3)2 để nhận biết ra các chất ở nhóm I như sau:
- Xuất hiện kết tủa trắng là Na2CO3, Na2SO4: Nhóm III
- Còn lại là NaCl
* Đến đây thì học sinh lại không thể định hướng tiếp được nữa. Giáo viên phải hỏi
học sinh xem nhận biết ra các chất ở nhóm II thế nào và có liên hệ với nhóm III
không? Học sinh dùng Cả dung dịch Ba(HCO3)2 và CO2 thì nhận biết ra các chất ở
nhóm III:
- Xuất hiện kết tủa trắng sau đó tan ra là Na2CO3
- Xuất hiện kết tủa trắng không tan là Na2SO4.
* Sau khi phân tích xong giáo viên yêu cầu học sinh lập sơ đồ tóm tắt các bước làm
thí nghiệm, quan sát hiện tượng:
* Dựa vào sơ đồ học sinh có thể mô tả cách làm thí nghiêm theo các bước sau:
- Lấy mẫu thử của các chất cần nhận biết.

giấy lọc, cột chưng cất, các dụng cụ nung, sấy, làm lạnh...
Để tìm hiểu tác dụng của bài tập loại này ta xét một số thí dụ sau:
Thí dụ: Tách riêng mỗi chất rắn sau ra khỏi hỗn hợp NaCl, MgCl2, AlCl3 mà không
làm thay đổi khối lượng
Hướng dẫn giải
* Để học sinh giải tốt bài này trước tiên giáo viên cần phải đặt các câu hỏi gợi ý
để học sinh được các kiến thức về:
- Tính chất vật lí và tính chất hoá học của các hợp chất trên
+ Các hợp chất trên tan như thế nào trong nước?
+ Các hợp chất trên thuộc loại chất gì?
+ Các kim loại trên có hiđoxit tan hay không tan trong nước và môi trường
kiềm
- Cách lọc, cách nung, dụng cụ lọc và dụng cụ nung.
* Sau đó giáo viên có một số gợi ý giúp học sinh tự tìm ra lời giải
- Các chất trên là chất rắn tan tốt trong nước nên ta phải làm gì?
- Các kim loại trên có hiđroxit có đặc tính gì?
- Khi tách không làm thay đổi khối lượng của các chất ta phải lựa chọn thuốc
thử nào
cho phù hợp, để thuốc thử đó không làm ảnh hưởng đến lượng chất của mỗi
chất, mà
lại chỉ tác dụng lên các chất cần tách, sản phẩm dễ tách ra khỏi hỗn hợp và sản
phẩm
dễ điều chế được chất ban đầu và đặc biệt chất đó cũng dễ đuổi ra khỏi hỗn hợp
(dung
dịch NH3).
- Các phản phẩm sinh ra có đặc điểm gì? Thực hiện phương pháp nào để tách
chúng
ra khỏi hỗn hợp sản phẩm
- Sản phẩm dung dịch NaCl, NH4Cl, NH3 dư thì NH4Cl và NH3 có đặc điểm gì
chung để có thể đuổi nó ra khỏi hỗn hợp

2.3. Bài tập sử dụng hình vẽ, tranh ảnh
Bài tập sử dụng hình vẽ, tranh ảnh về các thí nghiệm hoá học vô cơ cũng là
một loại bài tập có tác dụng lớn trong việc phát huy trí lực của học sinh. Nó có
tác dụng tạo điều kiện để phát huy tư duy khoa học cho học sinh. Khi giải bài
tập loại này bắt buộc học sinh phải phân tích, tổng hợp các bộ phận của hình vẽ,
tranh ảnh để từ đó lập luận đưa ra kết luận phù hợp.
Sau đây là thí dụ về bài tập dạng này
HCl đặc
Thí dụ 1:Cho sơ đồ thí nghiệm như hình vẽ.
- Phểu chứa dung dịch HCl đặc;
MnO2
- Bình cầu chứa MnO2.
- Bình tam giác 1 chứa dung dịch NaCl.
- Bình tam giác 2 chứa H2SO4 đặc.
- Miệng bình tam giác 3 có bông tẩm dung dịch NaOH. bình 1 bình 2 bình 3
Sơ đồ thí nghiệm trên điều chế chất gì, nêu tác dụng của các bình tam giác:
1, 2, 3 và viết phương trình phản ứng xảy ra?
Hướng dẫn
Trước khi giải bài tập này giáo viên cần nhắc lại để học sinh nắm chắc các kiến
thức về:
- Chất khử, chất oxi hoá và phản ứng oxi hoá - khử
- Phương pháp điều chế các chất khí
- Tính chất vật lí của các chất khí, dung dịch H2SO4 đặc
- Tính chất hoá học của khí Cl2, dung dịch NaCl, dung dịch H2SO4 đặc, dung
dịch NaOH.
Sau đó học sinh tiến hành trả lời:
- Các phương trình xảy ra chủ yếu:
t
 MnCl2 + Cl2 + 2H2O (*)
MnO2 + 4HCl 

Học sinh giải bài toán này như sau:
Độ sáng bóng đèn:
Ca(OH)2 + CO2  CaCO3  + H2O
(1)
CaCO3 + CO2 + H2O  Ca(HCO3)2
(2)
 Ban đầu không đổi: Ca(OH)2 hòa tan bị giảm do phản ứng 1 lại được bổ sung từ
Ca(OH)2 dạng huyền phù.
 Sau đó giảm dần: Do Ca(OH)2 huyền phù đã tan hết
 Có thể tắt khi Ca(OH)2 vừa hết, sau đó sáng dần, cuối cùng sáng hơn ban đầu.
Do CaCO3 tan ra ở phản ứng 2.
2.4. Một số bài tập thực nghiệm khác
2.4.1. Bài tập trắc nghiệm

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 11 


Sáng kiến kinh nghiệm



Trần Hùng Chỉnh

Sử dụng bài tập trắc nghiệm về các thí nghiệm vô cơ cũng là một phương pháp
phát huy tính tích cực nhận thức và sự sáng tạo của học sinh trong quá trình học
tập môn hoá học ở phổ thông.
Sau đây xin giới thiệu một số bài tập thuộc dạng này:
Bài 1: Cho các lọ mất nhãn đựng riêng biệt dung dịch các chất sau: NaCl, NaOH,
Ba(OH)2, H2SO4, BaCl2, Na2SO4. Chỉ dùng thêm quỳ tím nhận biết được bao
nhiêu chất trong dãy chất trên?

A. CuSO4 khan B. dung dịch H2SO4 đặc
C. CaO
D. P2O5
2.4.2.Bài tập về dự đón và giải thích hiện tượng
Thí dụ 1: Nêu và giải thích hiện tượng của thí nghiệm
Dẫn từ từ khí NH3 đến dư vào bình đựng khí Cl2
Hướng dẫn
Để học sinh giải tốt bài này giáo viên cần đặt một số câu hỏi sau:
- Nêu tính chất hoá học của NH3 và Cl2, HCl
- Tính chất vật lí của NH4Cl, Cl2
Học sinh giải
 N2(k) + 6HCl(k)
- Màu vàng bị mất dần: 2NH3(k) + 3Cl2(k) 
 NH4Cl(r)
- Sau đó có khói màu trắng: NH3(k) + HCl(k) 
Thí nghiệm 2: Nêu và giải thích hiện tượng của thí nghiệm
Cho từ từ dung dịch NH3 đến dư vào bình đựng dung dịch CuSO4
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 12 


Sáng kiến kinh nghiệm



Trần Hùng Chỉnh

Hướng dẫn
Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại tính chất hoá học của NH3 và CuSO4
Học sinh giải
- Ban đầu xuất hiện kết tủa xanh, lượng kết tủa tăng dần

III. TRIỂN KHAI DẠY THỬ
Để biết được mức độ lĩnh hội tri thức của học sinh khi sử dụng bài tập thực
nghiệm hoá học trong quá trình dạy học, tôi đã tiến hành triển khai dạy thử ở các
khối lớp 10,11,12 trường THPT Lê Văn Hưu-Thiệu hoá-Thanh hoá trong năm học
2012-2013. Trong quá trình giảng dạy tôi đã sử dụng một số bài tập thực nghiệm
đã chọn để phát huy tính tích cực của học sinh
Sau đó tôi đã chọn hai lớp để tiến hành kiểm tra một tiết là lớp 10A2 và lớp
10A6 trường THPT Lê Văn Hưu. Lớp 10A2 là lớp dạy thử mà tôi trực tiếp giảng
dạy, còn lớp 10A6 là lớp để đối chứng. Hai lớp này có số lượng học sinh và sức
học tương đối nhau.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 13 




Sáng kiến kinh nghiệm

Trần Hùng Chỉnh

KẾT QUẢ KIỂM TRA ĐƯỢC THỐNG KÊ Ở BẢNG DƯỚI ĐÂY
Số
điểm
4

5

6

7



2

7,15

11B7

45

6

7

12

15

3

2

0

6,17

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 14 


Sáng kiến kinh nghiệm


Trong quá trình giảng dạy tôi đã tiến hành dạy thử và sau đó thực hiện 1 tiết
kiểm tra để lấy kết quả thực nghiệm (được thể hiện ở bảng trên )
Qua kết quả thực nghiệm sư phạm chứng tỏ rằng những bài tập được lựa chọn
là phù hợp với trình độ học sinh hiện nay. Các em đã có hứng thú trong việc giải
bài tập, thích làm bài tập, nhất là các bài tập thực nghiệm.
4. Kiến nghị
Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông tăng cường giải các bài tập hoá
học nói chung và nhất là cần chú ý nhiều hơn việc giải các bài tập thí nghiệm hoá
học vô cơ, đây là chương trình hoá học học sinh chưa được tiếp cận nhiều.
Để phát huy tính tự nghiên cứu và lòng đam mê nghiên cứu khoa học của học
sinh thì nhà trường cần tạo điều kiện nhiều hơn cho học sinh có nhiều buổi ngoại
khoá về các môn học, nhiều hình thức nghiên cứu khoa học với những đề tài
nhỏ…để học sinh phát huy năng lực của mình trong học tập cũng như trong nghiên
cứu khoa học.
Cần trang bị cho học sinh những kỹ năng, kỹ xảo về thực hành hoá học phổ
thông.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 15 




Sáng kiến kinh nghiệm

Trần Hùng Chỉnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê văn Dũng. Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh PTTH
qua bài tập hoá học. Luận án tiến sỹ, Hà Nội, 2001.
2. Cao Cự Giác. Bài tập lí thuyết và thực nghiệm hoá học vô cơ. NXB Giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status