Ph¹m Thanh S¬n
Trường THPT Hoàng Lệ
Kha
......................................................
......................................................
......................
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học là một việc làm thường xuyên và rất
cần thiết đối với mỗi người giáo viên, nó không chỉ có ý nghĩa thiết thực trong
việc nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh trong mỗi giờ lên lớp mà còn
tạo thói quen say mê nghiên cứu khoa học cho mỗi thầy cô nhằm đáp ứng được
yêu cầu của giáo dục trong thời đại mới.
Hiện nay trong chương trình phổ thông, các tác phẩm văn học được trích
giảng chiếm một số lượng lớn. Do đó, việc tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra những
phương pháp tìm hiểu, tiếp cận văn bản có một ý nghĩa vô cùng quan trọng,
giúp học sinh có một phương pháp học tập, nghiên cứu chủ động, sáng tạo đúng
theo quan điểm đổi mới trong giáo dục của Đảng và nhà nước ta hiện nay.
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin mạnh dạn đề xuất một vài giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học tác phẩm ngữ văn trong nhà trường
phổ thông qua việc xây dựng một hệ thống câu hỏi hợp lí, khoa học đúng theo
tinh thần đổi mới trong hoạt động dạy và học văn hiện nay, mong rằng sẽ đem lại
những hiệu quả thiết thực.
Với vốn kinh nghiệm ít ỏi và thời gian có hạn, khó tránh khỏi những
khiếm khuyết trong quá trình thực hiện. Mong rằng các đồng chí, đồng nghiệp sẽ
có nhiều ý kiến đóng góp để sáng kiến kinh nghiệm này được hoàn thiện hơn.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HỌC TÁC PHẨM NGỮ VĂN TRONG NHÀ
còn bị hạn chế (thiếu giáo cụ trực quan, thiếu trang thiết bị hiện đại…).
1.2. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
Là giáo viên trực tiếp đứng lớp, tôi nhận thấy trách nhiệm của mình là
phải làm gì để đáp ứng được yêu cầu đổi mới đó trong từng tiết học. Nhận thức
rõ những vấn đề cụ thể của riêng sách giáo khoa nhằm đảm bảo tốt kết quả giảng
dạy, tôi đã nhận thức được hệ thống văn bản và ý đồ nâng cao chất lượng văn
bản của sách giáo khoa Ngữ văn THPT qua việc đọc và hiểu văn bản.Từ thực
trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung
......................................................
......................................................2
......................
Ph¹m Thanh S¬n
Trường THPT Hoàng Lệ
Kha
......................................................
......................................................
......................
phương pháp tiếp cận, tìm hiểu các tác phẩm văn học được chọn giảng trong nhà
trường phổ thông, nhằm giúp người thầy tìm ra được những phương pháp giảng
dạy tích cực, khoa học theo hướng đổi mới. Đối với học trò khi đã nắm được
phương pháp học tập, hiểu văn bản kĩ hơn sâu hơn sẽ tạo được niềm hứng thú
say mê trong học tập, khơi dậy tính tích cực chủ động sáng tạo, dần dần làm thay
đổi phương pháp học cũ “thầy đọc- trò chép” mang tính thụ động.
2. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Căn cứ vào thực trạng trên, để việc tìm hiểu văn bản đạt kết quả hơn, tôi xin
nêu ra một số giải pháp sau:
đọc theo từng cấp độ từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp thì mới có kết
quả.
Từ việc nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của khâu đọc văn bản, trước khi
đi vào tìm hiểu văn bản, ta cần hướng dẫn cho học sinh đọc kĩ văn bản để có
những cảm nhận đầu tiên.
Giải pháp 2: Đổi mới hoạt động dạy và học theo hướng tích cực.
Theo giải pháp này, phải lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên đóng vai trò
là người hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh các đơn vị kiến thức. Để giờ dạy trên
lớp thực sự có hiệu quả, trước hết cần phát huy tối đa tính chủ động sáng tạo,
tích cực của học sinh trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Học sinh có thể vận dụng
những hiểu biết, những kiến thức đã được trang bị ở cấp dưới để làm cơ sở cần
thiết trong việc tìm hiểu tác phẩm. Có thể sử dụng phương pháp đàm thoại, nêu
câu hỏi có tính chất gợi mở, đưa học sinh vào các tình huống có vấn đề để phát
huy tính sáng tạo và khả năng phát hiện của học sinh vừa nhằm phát triển năng
lực tư duy, vừa tạo hứng thú trong học tập cho học sinh. Trong việc nêu câu hỏi
vấn đáp có ba phương pháp (mức độ) vấn đáp là: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải
thích minh hoạ và vấn đáp tìm tòi, ta có thể sử dụng một cách linh hoạt với từng
đối tượng học sinh cụ thể để đạt hiệu quả cao nhất.
......................................................
......................................................4
......................
Ph¹m Thanh S¬n
Trường THPT Hoàng Lệ
Kha
......................................................
......................................................
Trường THPT Hoàng Lệ
Kha
......................................................
......................................................
......................
-Tích hợp ngang: Văn-Tiếng Việt- Tập làm văn.
-Tích hợp dọc: Lớp 10 (đã học) với lớp 11 (đang học) và lớp 12 (sẽ học).
-Tích hợp chéo: giữa các bộ môn Văn- Sử-Địa-GDCD…….
Nhưng dù tích hợp ngang hay dọc, chéo… nhất định phải được cụ thể hoá
bằng một hệ thống những tình huống sư phạm đã được giáo viên tính toán kĩ
lưỡng cả về nội dung và cách thức thực hiện. Hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc
hiểu văn bản trong sách giáo khoa cũng đã thực hiện được yêu cầu tích hợp.
Phát huy sách Ngữ văn lớp 10, sách giáo khoa lớp 11,12 tiếp tục phấn đấu
theo hướng tích cực, song vai trò của giáo viên là vô cùng quan trọng, bằng hệ
thống câu hỏi, giáo viên giúp học sinh khai thác kiến thức để từ đó nhận thức
được giá trị của văn bản đúng với tư cách là một tác phẩm văn chương.
Qua những năm thực hiện chương trình thay sách Ngữ văn, tôi xin mạnh
dạn trình bày những suy nghĩ của mình về hệ thống câu hỏi mang tính tích cực
trong một giờ đọc hiểu văn bản của phân môn văn học lớp 11.
3.1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm văn chương theo hệ thống câu
hỏi.
Để giúp học sinh nắm chắc một tác phẩm văn chương đòi hỏi người giáo
viên phải thể hiện rõ thuần thục các phương pháp giảng dạy bộ môn bằng các
hoạt động cụ thể hướng dẫn học sinh tiếp cận, phân tích, đánh giá, bình giá để
chiếm lĩnh văn bản.Các phương pháp ấy phải đảm bảo yêu cầu phù hợp với đặc
trưng bộ môn, với đặc điểm loại thể của từng loại văn bản. Các phương pháp
......................................................
......................................................6
-Phát hiện phương thức biểu cảm của văn bản.
Dạng câu hỏi phát hiện là dạng câu hỏi dễ nên dành cho đối tượng học
sinh trung bình và yếu.
3.1.2. Câu hỏi tạo ấn tượng thẩm mỹ:
......................................................
......................................................7
......................
Ph¹m Thanh S¬n
Trường THPT Hoàng Lệ
Kha
......................................................
......................................................
......................
Cảm xúc về văn bản hay chi tiết, hình ảnh trong văn bản nhằm định hướng
tạo tâm thế thâm nhập, tìm hiểu văn bản và thường được dùng sau câu hỏi phát
hiện hoặc để dùng mở đầu trong hệ thống câu hỏi phân tích, bình….
3.1.3. Câu hỏi phân tích - bình:
Sau khi học sinh phát hiện những đơn vị kiến thức cần thiết, giáo viên đưa
ra những câu hỏi phân tích và bình những đơn vị kiến thức đó.
- Phân tích hình ảnh (a), từ ngữ (b).
- Phân tích giá trị, tác dụng nghệ thuật (c) đối với văn bản hoặc đối với
đơn vị kiến thức đang phân tích.
Qua phân tích a,b,c nâng lên tư tưởng tình cảm của người viết cũng như người
đọc văn bản.
Dạng câu hỏi này nhằm phát huy khả năng tư duy của học sinh, đồng thời
cũng là dạng câu hỏi làm nổi bật kiến thức trọng tâm của văn bản. Vì vậy giáo
vừa tiếp thu một cách tổng quát về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của văn
bản.
3.1.7. Câu hỏi thảo luận:
Khi một vấn đề văn học đưa ra có rất nhiều cách hiểu, nhiều cách lí giải,
nhiều cách trả lời thì giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh thảo luận sau đó sẽ giúp
các em thống nhất ý kiến đúng.
Để có được một hệ thống câu hỏi tối ưu giáo viên cần bám sách giáo khoa,
hệ thống câu hỏi và hướng dẫn của sách giáo khoa, sách giáo viên. Tùy theo đối
tượng học sinh mà vận dụng và đưa ra những câu hỏi phù hợp với trình độ học
sinh.Trong chương trình sách giáo khoa mới việc bám sách giáo khoa, sách giáo
viên là vô cùng quan trọng. Khi câu hỏi đưa ra cho học sinh trả lời cần có lời dẫn
của giáo viên, lời dẫn được ghi đầy đủ, chi tiết trong giáo án, câu hỏi phải được
gọt giũa, trau chuốt, không vụn vặt và cũng đừng quá khái quát gây sự nhàm
chán hoặc khó hiểu trong học sinh, câu hỏi cần sáng, rõ mới thu hút được sự tích
......................................................
......................................................9
......................
Ph¹m Thanh S¬n
Trường THPT Hoàng Lệ
Kha
......................................................
......................................................
......................
cực xây dựng bài của học sinh, từ đó sẽ tạo ra không khí học tập sôi nổi, gây
hứng thú học bộ môn cho các em.
3.2. Vận dụng hệ thống câu hỏi vào một văn bản cụ thể:
......................................................
......................
2. Tác phẩm:
Hỏi: Nêu hoàn cảnh sáng tác tác phẩm “Vũ Như Tô”?
Hỏi: Hãy tóm tắt thật ngắn gọn tác phẩm?
-Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử 5 hồi viết về một sự kiện xảy ra ở kinh
thành Thăng Long khoảng năm 1516-1517 dưới triều Lê Tương Dực.Tác phẩm
được hoàn thành 1941.
- HS khái quát chung về tác phẩm, đọc tóm tắt.
- GV giới thiệu bảng nhân vật bằng máy chiếu hoặc in trên giấy khổ lớn.
Hỏi: Nêu vị trí đọan trích?
- Đoạn trích thuộc hồi thứ V của vở kịch.
II. Đọc hiểu văn băn bản
1. Đọc:
- GV hướng dẫn phân vai cho HS đọc đoạn trích
- Hướng dẫn HS chú ý dựa vào các chỉ dẫn sân khấu để thể hiện giọng đọc
cho phù hợp với tình huống kịch.
+ Giọng Đan Thiềm đầy lo lắng, hốt hoảng, cứng cỏi, đau đớn.
+ Giọng Vũ Như Tô băn khoăn, chất chứa những câu hỏi lớn vừa nhức
nhối vừa da diết vừa khắc khoải.
+ Giọng quân lính hỗn hào, giọng lũ cung nữ bợ đỡ, lẳng lơ…..
2. Phân tích văn bản
a. Các mâu thuẫn cơ bản
......................................................
......................................................11
......................
Ph¹m Thanh S¬n
......................................................12
......................
Ph¹m Thanh S¬n
Trường THPT Hoàng Lệ
Kha
......................................................
......................................................
......................
=>Sự đối lập này đã chỉ ra mâu thuẫn thứ hai: mâu thuẫn giữa quan niệm
nghệ thuật cao siêu, thuần tuý muôn đời và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.
Hỏi: Kết thúc vở kịch, dân chúng đã hiểu gì về Vũ Như Tô? Cách hiểu đó
liệu có khác so với trước đây?
Hỏi: Liệu Vũ Như Tô khi ra pháp trường đã tự trả lời được cho mình câu
hỏi “ta tội gì?” hay vẫn một câu trả lời không thay đổi “Vô lí. Ta không có tội”?
- HS trả lời.
b. Phân tích tâm trạng bi kịch của Vũ Như Tô và Đan Thiềm.
*Đan Thiềm:
Hỏi: Nguyễn Huy Tưởng đã viết trong tựa đề: “cầm bút chẳng qua cùng
một bệnh với Đan Thiềm”. Dựa vào đoạn trích, anh (chị) hãy lí giải điều mà nhà
văn gọi là “bệnh Đan Thiềm”?
- HS trả lời:“bệnh Đan Thiềm” chính là bệnh đam mê, trân trọng, nâng niu
cái tài, cái đẹp, bệnh của kẻ “biệt nhỡn liên tài”.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích tâm trạng của Đan Thiềm trong
đoạn trích
Hỏi: Hãy phân tích những biểu hiện của tấm lòng trân trọng, hết mình bảo
vệ cái tài, cái đẹp của Đan Thiềm?
Hỏi: Trong thời khắc đầy biến động dữ dội, sự thật phũ phàng dội xuống,
họ Vũ có còn mơ?
Hỏi: Đâu là khoảnh khắc Vũ Như Tô nhận ra giấc mộng lớn đã tan tành?
Tâm trạng của ông trong khoảnh khắc ấy?
Hỏi: Nỗi đau vỡ mộng của bi kịch Vũ Như Tô thức tỉnh ở chúng ta điều gì?
- HS trả lời từng khía cạnh câu hỏi.
- Giáo viên nhận xét, tổng hợp.
III. Tổng kết:
- Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích, đánh giá thành công nghệ thuật
của đoạn trích.
......................................................
......................................................14
......................
Ph¹m Thanh S¬n
Trường THPT Hoàng Lệ
Kha
......................................................
......................................................
......................
Hỏi: Anh (chị) hãy đánh giá những đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích?
- HS trả lời.
Hỏi: Anh (chị) hãy nêu ý nghĩa của bi kịch Vũ Như Tô?
- HS trả lời và đọc phần ghi nhớ SGK.
Trên đây là hệ thống câu hỏi vận dụng trong quá trình giảng dạy văn học.
Tuy nhiên việc vận dụng của người giáo viên trong từng bài dạy cần linh hoạt,
sáng tạo giúp các em tiếp cận văn bản, tích cực tìm đến được kiến thức bài học
năng để học sinh quan sát).
- Ở phần đọc - hiểu văn bản nên khai thác tối đa các tính năng của máy
chiếu đa năng, sử dụng hiệu quả giáo án điện tử (đưa các nội dung của bài dạy
vào các slide và trình chiếu - các slide chứa các câu hỏi và các đơn vị kiến thức
được trình bày một cách sống động, hấp dẫn). Mục đích của việc làm này là tạo
điều kiện cho giáo viên và học sinh có nhiều thời gian hơn trong việc tìm hiểu
văn bản (tổ chức trao đổi thảo luận), tạo hứng thú trong học tập, phát huy tính
tích cực chủ động, tránh lối dạy đọc chép, gây sự thụ động cho học sinh.
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:
1. Kết quả nghiên cứu:
Sau một thời gian vận dụng phương pháp dạy học bằng hệ thống câu hỏi
tối ưu tôi nhận thấy:
- Giờ dạy văn đã gây sự chú ý, cuốn hút các em tập trung học tập, động
não, suy nghĩ. Số học sinh tham gia phát biểu ý kiến tăng lên. Nội dung câu trả
lời tập trung vào kiến thức trọng tâm không lan man, dài dòng.
- Giờ học sôi nổi, học sinh nắm được nội dung tác phẩm ngay trên lớp.
So với phương pháp cũ, học sinh đã giảm được tình trạng hiểu văn bản một cách
hời hợt, cảm thấy khó hiểu dẫn đến tâm lí ngại học, dần dần mất đi niềm hứng
thú, say mê.
Với cách học này còn tạo cho học sinh một thói quen học tập nghiêm túc,
khoa học
......................................................
......................................................16
......................
Ph¹m Thanh S¬n
Trường THPT Hoàng Lệ
......................
Ph¹m Thanh S¬n
Trường THPT Hoàng Lệ
Kha
......................................................
......................................................
......................
Trên đây là một số đề xuất nhỏ, mong rằng những ý kiến trên sẽ góp phần
nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng dạy và học các tác phẩm văn chương trong
nhà trường phổ thông. Tôi xin chân thành cảm ơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hoá, ngày 20 tháng 05 năm 2013
Tôi xin can đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
PHẠM THANH SƠN
......................................................
......................................................18
......................