sáng kiên kinh nghiêm đổi mới hình thức củng cố theo định hướng phát triển năng lực trong giảng dạy môn giáo dục công dân THPT - Pdf 35

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lí do chọn đề tài:
Môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông được coi là
môn khoa học xã hội, cùng các môn học khác góp phần hình thành và phát
triển nhân cách, năng lực, phẩm chất, kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ
thông. Ngay từ tên gọi đã thể hiện bản chất của môn học là dạy và học để làm
người để trở thành người công dân đúng với chuẩn mực xác định. Điều đó làm
nên tính khác biệt với môn học khác trong trường trung học phổ thông. Môn
Giáo dục công dân có đặc thù luôn gắn với thực tế xung quanh, gắn với hoạt
động định hướng và có tác dụng điều chỉnh hành vi, hoạt động của học sinh. Vì
thế việc nắm vững kiến thức của môn học sẽ là cơ sở để xây dựng niềm tin,
tính tích cực xã hội của học sinh, giúp các em xây dựng, phát triển nhân cách
hài hòa.
Bộ môn Giáo dục công dân trang bị cho học sinh những kiến thức cơ
bản và thiết thực của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối
chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước, hệ
thống các chuẩn mực đạo đức mới. Từ đó giúp các em hình thành phẩm chất
chính trị, tư tưởng đạo đức, ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật; có ý thức
trách nhiệm cao đối với chính bản thân mình, đối với gia đình, cộng đồng và
Tổ quốc. Nhiệm vụ của môn học không chỉ dừng lại ở nhận thức mà phải từ
nhận thức biến thành niềm tin, thành hành động, biết vận dụng kiến thức đã
học để giải quyết những vấn đề mà cuộc sống đăt ra. Thực trạng hiện nay đạo
đức xã hội đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng, thước đo giá trị
của xã hội bị méo mó: thật giả, tốt xấu lẫn lộn đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự
giáo dục lòng tin của học sinh đối với tri thức của môn Giáo dục công dân,
chính vì thế giảng dạy môn Giáo dục công dân trong trường trung học phổ
thông đang gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Với mong muốn thực hiện tốt nội
dung giảng dạy và hoàn thành tốt nhiệm vụ của môn học bản thân tôi đang
giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân tôi nhận thấy việc truyền thụ chính xác
những tri thức, đồng thời cần phải củng cố và hoàn thiện tri thức thường xuyên
1

2


tâm đắc khi chọn đề tài: “Đổi mới hình thức củng cố theo định hướng phát
triển năng lực trong giảng dạy môn Giáo dục công dân THPT”
2.Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1. Mục tiêu:
- Tổng kết, khái quát hóa kiến thức của một chủ đề, một cụm bài, một phần
trong giảng dạy GDCD .
- Lấy ví dụ cụ thể về việc ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm đồ họa,
phần mềm Mindmap để củng cố bài học trong chương trình GDCD thêm sinh
động, đạt hiệu quả cao trong củng cố bài học theo định hướng phát triển năng
lực.
- Khuyến khích học sinh, xây dựng tình huống, đóng vai, làm việc theo nhóm
trong củng cố bài học theo định hướng phát triển năng lực.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của đề tài làm vai trò bước củng cố trong giờ lên lớp với
GDCD ở THPT. Từ đó, học sinh có thể ghi nhớ nội dung của môn học một cách
thoải mái nhẹ nhàng, từ đó giúp các em rèn kỹ năng, phát triển các năng lực .
Để đạt được mục đích trên, sáng kiến cần phải thực hiện hai nhiệm vụ sau:
Một là, sử dụng một số phương pháp trong kỹ thuật dạy học bản đồ tư
duy.
Hai là, hướng dẫn học sinh sử dụng phần mềm tin học trong đồ họa để
xây dựng các ví dụ minh họa hoặc xây dựng tình huống để đóng vai trong một
số tiết ngoại khóa cho phù hợp.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1.Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận là xuất phát từ lý luận dạy học, đổi mới phương pháp dạy
học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, chủ nghĩa Mác -


lại những tri thức đã có, biết cách suy luận để tìm tòi kiến thức mới. Các tri thức
phương pháp thường là các quy tắc, quy trình, phương thức hành động tuy
nhiên cũng cần coi trọng cả các quy tắc có tính chất dự đoán, giả định. Rèn cho
học sinh các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hóa, khái quát
hóa, quy từ lại về quen...để dần dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo
của họ.
1.2.3.Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo
phương châm “Tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và
thảo luận nhiều hơn”. Điều đó làm cho bản thân mỗi học sinh vừa cố gắng tự
lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận,
phát hiện và tìm tòi kiến thức mới. Lớp học trở thành giao tiếp thầy- trò, trò- trò

5


nhằm vận dụng sự hiểu biết của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết
nhiệm vụ học tập chung.
1.2.4. Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong
suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi bài tập. Chú trọng phát
triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình
thức như theo lời giải, theo hướng dẫn hoặc tự xác định tiêu chí để có thể
phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
Như vậy, dạy học dựa trên năng lực là Dạy học phải gắn với thực tiễn.
Sử dụng các phương pháp dạy học đảm bảo nguyên tắc học sinh tự mình
hoàn thành nhiệm vụ với sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên. Phương
pháp kỹ thuật dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý
tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải
quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống, đồng thời gắn hoạt
động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập
trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên- học sinh, theo hướng cộng tác nhằm

Thông qua củng cố tri thức cũ học sinh hiểu được mối liên hệ chặt chẽ
giữa các tri thức đã tiếp thu được, hiểu biết chắc chắn hơn, sâu sắc hơn từ đó
tạo ra tiền đề và khả năng vận dụng tốt các kiến thức đó vào trong thực tiễn,
rèn kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh. Với tri thức mang tính khái quát và trừu
tượng cao như môn Giáo dục công dân, việc củng cố tri thức tạo ra cơ sở hình
thành, nâng cao từng bước phương pháp tư duy khoa học, thế giới quan, nhân
sinh quan, tăng cường khả năng tư duy khái quát cho học sinh. Chính trong quá
trình củng cố kiến thức cho học sinh cũng là quá trình giáo viên tự nâng cao
trình độ, nghệ thuật sư phạm. Trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể sử
dụng các hình thức như hệ thống hóa, ôn tập, thảo luận, xê-mi-na, tham quan
thực tế…
2.2. Một số hình thức củng cố kiến thức cho học sinh.
2.2.1. Hệ thống hóa kiến thức.
Hệ thống hóa kiến thức là cách thức tập hợp, sắp xếp các kiến thức học
sinh đã tiếp thu theo một kết cấu lôgic xác định phản ánh nội dung kiến thức
trong chương trình môn Giáo dục công dân của một khối lớp ở trường trung
học phổ thông. Mục đích của hệ thống hóa kiến thức là củng cố kiến thức cho
7


học sinh trên cơ sở vạch ra mối liên hệ hữu cơ, làm tiền đề giữa các kiến thức.
Các kiến thức được tiếp thu trước là tiền đề, là nền tảng để tiếp thu kiến thức
tiếp sau đó. Các kiến thức tiếp thu sau làm phong phú hơn, sâu sắc hơn các
kiến thức tiếp thu trước. Tìm ra mối liên hệ khăng khít giữa các kiến thức cơ
bản là điều kiện cần thiết giúp học sinh nắm vững kiến thức trong phạm vi nhất
định và có khả năng mở rộng chúng. Đây là điều rất quan trọng trong khi giảng
dạy môn giáo dục công dân - một môn học cung cấp trang bị cho học sinh dù là
bước đầu, phương pháp biện chứng trong tư duy và hành động.
Hệ thống hóa kiến thức không phải là sự liệt kê đơn giản các kiến thức
học sinh đã tiếp thu, lại càng không phải là sự liệt kê đơn giản đầu đề của các

giáo viên phân công nhiệm vụ cho ba nhóm mỗi nhóm tìm hiểu nội dung của
một quy luật thông qua câu chuyện Vượt Vũ Môn.
Để có hệ thống hóa tốt người giáo viên phải dựa vào chương trình môn
học thể hiện ở sách giáo khoa, giáo viên bám sát vào tài liệu Hướng dẫn thực
hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Giáo dục công dân trung học phổ thông;
Chương trình giảm tải của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Song điều này không có
nghĩa là bắt buộc giáo viên phải tuyệt đối tuân theo. Giáo viên có thể tự mình
tìm ra cách hệ thống hóa tối ưu phù hợp với nội dung giảng dạy theo chương
trình và đối tượng học sinh, đặc biệt là những tri thức mới được đưa vào
chương trình môn học. Chẳng hạn như tích hợp nội dung phòng chống tham
nhũng vào chương trình môn Giáo dục công dân lớp10, lớp11, lớp12.
Chương trình môn học Giáo dục công dân nhằm trang bị cho học sinh
những kiến thức cơ bản và thiết thực, những kiến thức đó cũng được giới hạn ở
một phạm vi nhất định. Mục đích của hệ thống hóa là vạch ra sự liên kết hữu
cơ giữa các kiến thức của một số bài, một chương một phần hay toàn bộ
chương trình. Cho nên giáo viên phải có cách nhìn toàn diện, tổng hợp, khái
quát toàn bộ kiến thức học sinh đã, đang và sẽ học. Từ đó giáo viên mới có thể
tìm ra được cách hệ thống hóa kiến thức tốt nhất, giúp học sinh hiểu và nắm
được kiến thức. Phát hiện ra mối liên hệ và tác động qua lại, sự vận động và
phát triển của các phạm trù, khái niệm sẽ làm cho trình độ nhận thức của học
sinh từng bước được nâng cao và đó chính là cơ sở để hình thành phát triển tư
duy lý luận.

9


Chẳng hạn, những kiến thức về sự phát triển của tự nhiên và sự phát
triển của xã hội bổ sung cho những kiến thức về sự phát triển của thế giới, làm
cho kiến thức này được mở rộng và đào sâu. Sự phát triển của tự nhiên và xã
hội tuân theo những quy luật phát triển chung nhất của thế giới, góp phần làm

động có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện nhất định. Hình thức
vận động cao bao giờ cũng bao hàm hình thức vận động thấp, không thể có
diễn biến trường hợp ngược lại. Vì vậy khi xem xét các sự vật hiện tượng, quá
trình của thế giới khách quan phải xem xét chúng trong trạng thái vận động,
chứ không thể trạng thái đứng im.
Muốn bài giảng hệ thống hóa tốt giáo viên phải chuẩn bị tốt không chỉ
cho bản thân mà cho cả học sinh. Đối với học sinh, giáo viên cần hướng dẫn
học sinh biết cách tập hợp, sắp xếp các kiến thức cơ bản trong mỗi bài đã học
thành một hệ thống theo chương trình sao cho có thể thấy rõ mối liên hệ giữa
các kiến thức.
Giáo viên có thể phân công học sinh thành từng nhóm để các em chuẩn
bị từng cụm bài được chu đáo, kỹ càng, sâu sắc hơn. Chẳng hạn như học xong
bài 13: Công dân với cộng đồng các em sẽ phải thấy được rõ trách nhiệm của
công dân với cộng đồng. Để khắc sâu kiến thức, rèn kỹ năng, phát huy năng
lực của học sinh giáo viên giao cho các nhóm cùng xây dựng một kịch bản và
đóng kịch tình huống do giáo viên gợi ý là có một vụ tai nạn giao thông bản
thân các em là người được chứng kiến, các em sẽ xử lý như thế nào? Nhiệm vụ
của học sinh là sẽ phải phân công nhiệm vụ cho từng bạn trong mỗi nhóm.
Thông qua đó mỗi học sinh sẽ vận dụng nội dung của bài học để nhận xét, đánh
giá những hành vi sống có trách nhiệm với cộng đồng, đồng thời những hành
vi vô trách nhiệm sẽ bị lên án và phê phán. Trong đóng vai sẽ phát triển được
các năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh như năng lực giao tiếp, năng lực hợp
tác, năng lực sáng tạo,năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư nhận thức và điều
khiển hành vi phù hợp với pháp luật và các chuẩn mực đạo đức.
Trên cơ sở đó khi lên lớp giáo viên tổng hợp lại sự chuẩn bị của học
sinh tạo ra hệ thống hoàn chỉnh, kiến thức cơ bản, có điều kiện về thời gian
nâng cao nhận thức cho các em. Sự chuẩn bị như vậy sẽ góp phần rất quan
trọng phát huy năng lực tư duy độc lập, tính tích cực chủ động của học sinh,
vừa củng cố được kiến thức, lại vừa nâng cao tầm hiểu biết cho các em.
11

càng hiểu sâu kiến thức bao nhiêu thì học sinh càng nhớ sâu kiến thức bấy
nhiêu. Nhớ đi tới hiểu sâu kiến thức, tức là có thể tự mình diễn đạt chính xác tri
12


thức cơ bản bằng ngôn ngữ của bản thân. Để làm được điều đó thì học sinh
phải hiểu sâu kiến thức cơ bản, trước tiên là học sinh phải nhớ chính xác nội
dung cơ bản của kiến thức. Mặt khác, giáo viên phải đưa ra những tình huống
cụ thể trong thực tiễn gần gũi với học sinh và hướng dẫn các em dùng những
kiến thức đã học để giải thích nó, giúp học sinh từng bước hiểu sâu kiến thức.
Đối với kiến thức trừu tượng và khái quát cao của môn Giáo dục công dân việc
hiểu và nhớ kiến thức cơ bản không phải là điều dễ dàng nên trong ôn tập giáo
viên cần phải nghiêm túc tuân thủ theo nguyên tắc: Lý luận phải gắn với thực
tiễn, học đi đôi với hành.
Ôn tập không có nghĩa là nhắc lại hoàn toàn tất cả những kiến thức đã
học, không có nghĩa là hệ thống hóa kiến thức, mà chỉ nhắc lại những kiến thức
cơ bản, khái quát hơn. Cho nên trong ôn tập giáo viên cần chọn lọc kiến thức
cơ bản sao cho kiến thức đó bao quát được kiến thức khác. Muốn làm được
điều đó giáo viên phải dựa vào nội dung chương trình môn học.
Giáo viên có thể dùng các hình thức khác nhau để ôn tập. Ôn tập có thể
bằng cách nhắc lại những kiến thức cơ bản như định nghĩa, khái niệm, phạm
trù, nêu lại những quy luật, luận điểm khó. Giáo viên có thể hướng dẫn và cùng
học sinh phân tích, chứng minh một luận điểm. Cũng có thể ôn tập dưới hình
thức so sánh các sự vật, hiện tượng, quá trình từ đó làm nổi bật bản chất của
chúng. Chẳng hạn trong chương trình Giáo dục công dân lớp 11, cụm bài Công
dân với các vấn đề chính trị - xã hội. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh so
sánh bản chất của Chủ nghĩa tư bản với Chủ nghĩa xã hội…
Thực tế cho thấy, một bài ôn tập của môn Giáo dục công dân đạt hiệu
quả khi giáo viên biết lựa chọn những kiến thức trọng tâm, trong đó bao hàm
được nhiều kiến thức khác hoặc từ chúng có thể suy ra những kiến thức. Đồng

trong các kỳ thi quan trọng như thi tốt nghiệp hay thi đại học nên học sinh
thường học chỉ để có đủ điểm, bỏ qua vấn đề suy ngẫm, tìm hiểu thêm kiến thức
đằng sau mỗi bài học. Chính vì vậy, việc học và dạy môn GDCD chưa đạt được
kết quả như mong muốn.
Thời lượng dành cho môn GDCD chỉ có 1 tiết/ tuần mà kiến thức thì
nhiều nên học sinh càng cảm thấy ngại học. Không những thế, giáo viên không
14


có nhiều thời gian giảng dạy cặn kẽ cho học sinh một nội dung, vấn đề nào đó
mà học sinh có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn. Thời gian không nhiều, thời lượng
chương trình trong sách giáo khoa phải đảm bảo nên việc dạy học mang nặng
tính “cưỡi ngựa xem hoa”, làm sao để trả bài đầy đủ.
Hiện nay, cả người quản lý và người dạy đều chưa nhận thức hết tầm
quan trọng của bộ môn đã góp phần quan trọng trong việc hình thành phát triển
nhân cách của học sinh. Môn GDCD chưa được xem như một công cụ để hỗ trợ
cho học sinh, đem kiến thức học được trong nhà trường vận dụng, giải quyết
những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống.
Nội dung, chương trình của môn học GDCD còn nhiều điều chưa hợp
lý, nặng giáo dục chính trị, nhẹ giáo dục kỹ năng sống, coi trọng lý thuyết, chưa
chú ý vận dụng, thực hành, chưa yêu cầu thể hiện qua việc làm và hành vi cụ
thể trong đời sống. Nhiều bài học trong sách giáo khoa GDCD còn khô khan,
gượng ép, chưa phù hợp với đặc điểm tâm lí, tình cảm của học sinh.
Mặt khác, một số kiến thức triết học, kinh tế, chính trị, chủ nghĩa xã hội
khoa học... còn khá trừu tượng, khó hiểu đối với học sinh phổ thông, chưa chú ý
đúng mức tính liên thông, tích hợp nội dung dạy học môn GDCD với các môn
học khác. Bên cạnh đó, kết quả việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá chưa rõ, chủ yếu vẫn dạy chay, thuyết trình, đọc chép, độc thoại một
chiều; rao giảng đạo lý; lệ thuộc nhiều vào sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn
giảng dạy, thiếu sáng tạo trong tổ chức các hoạt động dạy học. Không những

xén. Trong bước củng cố thì hệ thống hóa và ôn tập có liên quan với nhau rất
chặt chẽ. Nhờ có hệ thống hóa giúp cho học sinh mang lại hiệu quả trong học
tập. Ôn tập là hình thức củng cố, bổ xung hoàn chỉnh kiến thức đã học và giúp
học sinh nắm vững và vận dụng các kiến thức đó vào thực tiễn, rèn kĩ năng,
định hướng phát triển năng lực .
3. Các giải pháp đổi mới hình thức củng cố theo định hướng phát
triển năng lực trong một số chủ đề môn Giáo dục công dân THPT.

16


BÀI 1: THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP
LUẬN BIỆN CHỨNG
I. Mục tiêu bài học:

1.Về Kiến thức:

- Nhận biết được chức năng của thế giới quan, phương pháp luận của Triết
học.
- Nhận biết được nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
- Nêu được chủ nghĩa duy vật biện chứng là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới
quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.
2.Về Kỹ năng
- Nhận xét, đánh giá những biểu hiện quan điểm duy vật hoặc duy tâm, phương pháp
luận biện chứng hoặc phương pháp luận siêu hình trong cuộc sống hàng ngày.
3. Về Thái độ
- Có ý thức trau dồi thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng.

II. Hệ thống bài tập củng cố:
1. Theo em thế giới quan duy tâm là gì ? Thế giới quan duy vật là gì ? Em

vật chỉ tồn tại trong chừng mực người ta cảm giác được nó). Theo em ông có
thế giới quan nào ? Vì sao ?
- Đây là TGQ duy tâm
- Bởi vì ông cho rằng cảm giác là cái có trước sự vật hiện tượng phụ thuộc
vào cảm giác, nếu sự vật hiện tượng quá nhỏ bé mà các giác quan không cảm
nhận được thì cũng có nghĩa là sự vật hiện tượng ấy không có thực, không tồn
tại trong thế giới này.
- Quan điểm này của G. Béc- cơ-li là sai lầm.
3. Có học sinh cho rằng: " Muốn học giỏi phải chăm đi lễ chùa trời phập sẽ
phù hộ". Theo em quan niệm đó đúng hay sai? làm thế nào để có thế giới
quan duy vật đúng đắn?
Mỗi chúng ta cần phải trang bị cho mình tri thức khoa học. Vì tri thức càng
phong phú, dồi dào bao nhiêu thì càng hình thành niềm tin một cách đúng đắn,
trong sáng bấy nhiêu. Nó càng có tác dụng định hướng đúng đắn cho các hoạt
động của con người.
Ngược lại, chúng ta không tích cực trang bị tri thức khoa học cho mình.
Nếu vốn hiểu biết của chúng ta nghèo nàn thấp kém, nông cạn thì niềm tin sẽ
không có cơ sở vững chắc, dẫn đến hành động của chúng ta sẽ không hợp lý,
hiệu quả không cao, thậm chí dẫn đến sai lầm.
18


CỤM BÀI: NGUỒN GỐC, CÁCH THỨC, KHUYNH HƯỚNG
VẤN ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỦA SỰ VẬT HIỆN TƯỢNG
I. Mục tiêu bài học
1. Về kiến thức
- Nêu được khái niệm mâu thuẫn theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng.
- Biết được sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc khách quan của mọi
sự vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng

(chứa đựng hai
mặt đối lập)

Thống nhất – Đấu
tranh

Mâu thuẫn

Giải quyết mâu thuẫn
bằng đấu tranh

Sự vật, hiện
tượng mới

2.Em hãy vẽ bức tranh thể hiện mâu thuẫn của bản thân em trong học tập

20


21


22


3.Tình huống:
Hưng và Mạnh chơi với nhau rất thân, Hưng rất chăm học bài là học sinh giỏi
của lớp còn Mạnh lại rất lười học nên xếp lực học yếu. Mạnh thường xuyên bị
điểm kém, bị thầy cô chê trách và bố mẹ la mắng. Thương bạn, Hưng cho Mạnh
chép bài mỗi khi có giờ kiểm tra, nhờ vậy Mạnh đã không bị điểm kém.

tích lũy của lượng về sức lực và trí tuệ nên kết quả đã vượt qua giới hạn của độ
dẫn đến thay đổi về chất của nó. Đó là cách thức của sự phát triển. Tuy nhiên
hình ảnh mới là rồng nhưng nó vẫn có tính kế thừa một số đặc điểm của cá như
có vẩy, có râu,vây đuôi, râu, sừng tự nhiên mọc đủ, hình dạng trọn vẻ oai
phong, rạng rỡ, một biểu tượng cho sự khát vọng của con người trên thế
gian…Nhưng không phải con nào cũng có tính chất quí sáng (mang ngọc quý
trong thân) và không phải cá chép nào cũng có phẩm chất, khả năng khắc phục
khó khăn, trở ngại để đạt được thành công!
Cá chép hóa rồng phun nước làm cho đất đai mầu mỡ, cây cối xanh tươi,
đem lại sức sống cho muôn loài. Con rồng đã phủ định con cá chép, sự vật mới
ra đời thay thế sự vật cũ đó là khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng.
Bởi vậy người ta thường xem hình ảnh cá chép hóa rồng là biểu tượng
của sự an lành và sung túc, thịnh vượng. Thăng tiến trong học hành, thi cử, công
danh và may mắn về tài lộc trong thương mại.
BÀI 7: THỰC TIỄN, VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI
NHẬN THỨC
I. Mục tiêu bài học
1. Về kiến thức
Thực tiễn có những vai trò gì như thế nào đối với nhận thức?
2. Về kĩ năng
- Giải thích được mọi sự hiểu biết của con người đều bắt nguồn từ thực tiễn.
- Biết vận dụng kiến thức liên môn để giải thích các vấn đề đặt ra trong cuộc
sống hàng ngày
3. Về thái độ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status