sáng kiến kinh nghiệm xây dựng hồ sơ tư liệu điện tử phần lịch sử thế giới cận đại, SGK lịch sử 11, ban cơ bản THPT - Pdf 35

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC

TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY THÌ

34.57.02

BÁO CÁO KẾT QUẢ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CẤP: CƠ SỞ

;

Tên sáng kiến kinh nghiệm: Xây dựng hồ sơ tư liệu
điện tử phần lịch sử thế giới cận đại, SGK lịch sử 11, ban cơ
bản - THPT
Môn/nhóm môn: Lịch sử
Tổ bộ môn
: Xã Hội
Mã môn
: 57
Người thực hiện: Tạ Thị Thanh Huyền
Điện thoại
: 0916163579
Email :

Vĩnh Phúc, năm 2015
1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài



giáo khoa, thực hiện chương trình mới, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
giảng dạy lịch sử, áp dụng các phương pháp dạy học mới theo hướng phát huy tính
tích cực, chủ động trong hoạt động nhận thức của học sinh dưới sự hướng dẫn, điều
khiển của giáo viên. Nhiều biện pháp đã được thực hiện nhằm thay đổi, khẳng định
lại vị thế của môn lịch sử với ý nghĩa to lớn vốn có của nó. Trong xã hội hiện đại,
việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy học nói chung và dạy học lịch
sử nói riêng là một biện pháp tốt để nâng cao chất lượng đào tạo và đã đạt được
nhiều kết quả khả quan. Ứng dụng CNTT một cách hợp lí sẽ kích thích được hứng
thú của học sinh trong học tập, “các em vừa được nghe, vừa được nhìn thông qua
hình ảnh, kết hợp các hoạt động thì kết quả ghi nhớ kiến thức đạt đến hơn
90%”[8,132]. Hiện nay, tất cả các trường THPT đã được trang bị máy móc hiện
đại, tạo điều kiện tốt cho việc ứng dụng CNTT vào trong dạy học. Giáo viên các
trường phổ thông cũng đã được phổ cập và ít nhiều biết sử dụng máy móc để phục
vụ việc giảng dạy. Tuy nhiên, với điều kiện ở các trường phổ thông cũng như của
từng giáo viên thì nhiều thầy cô không có đủ nguồn tư liệu điện tử để sử dụng phục
vụ cho bài giảng của mình.
Phần lịch sử thế giới cận đại lớp 11 trung học phổ thông dù đã xảy ra cách
ngày nay hang trăm năm những “mảnh vụn”, “dấu tích” của quá khứ vẫn còn sót
lại. Việc khôi phục và sử dụng những hình ảnh quá khứ ấy vào giảng dạy với sự hỗ
trợ của CNTT sẽ góp phần quan trọng vào việc giúp các em học sinh có thể hình
dung ra quá khứ một cách tốt nhất, phát triển trí tưởng tượng, suy luận, giúp các em
học tốt môn lịch sử và từ đó cải thiện chất lượng học tập.
Xuất phát từ những cơ sở trên đây, tôi chọn “Xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử
phần lịch sử thế giới cận đại, SGK lịch sử 11, Ban cơ bản – THPT” làm đề tài sáng kiến kinh
nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường THPT

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tư liệu dạy học môn lịch sử lớp 11 THPT nói chung, tư liệu dạy học lịch sử

lịch sử để có thể thực hiện được các biện pháp nâng cao hiệu quả bài học, kể cả
công việc chuẩn bị và giảng dạy trên lớp đối với giáo viên và việc học tập của học
sinh nhằm nâng cao chất lượng bộ môn.
“Giáo án và tư liệu dạy học điện tử môn lịch sử lớp 11” của tập thể các tác
giả: Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Côi, Lê Thị Thu (bao
gồm cả đĩa CD-Rom). Ngoài phần thiết kế bài giảng in thành sách, trên đĩa CDRom kèm theo có rất nhiều tư liệu điện tử: tranh ảnh lịch sử, bản đồ, lược đồ, khái
niệm, trò chơi lịch sử... của phần lịch sử lớp 11 đã được các tác giả chọn lọc, trình
bày theo từng bài.

4


Ngoài ra, còn nhiều tài liệu khác như: Hướng dẫn sử dụng các hình ảnh về Chủ tịch Hồ
Chí Minh trên CD và phần mềm Microsoft PowerPoint trong dạy học lịch sử của các tác giả
Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng. Các đĩa Encatar từ 2000 đến 2007
chưa nhiều bài viết và hình ảnh lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, nhân vật lịch sử, trong đó có phần
lịch sử thế giới thời nguyên thủy và cổ đại. Hay các bài viết của các nhà giáo dục lịch sử viết về
ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử như:
- Phan Ngọc Liên, Sử dụng CNTT góp phần đổi mới phương pháp dạy học
lịch sử ở trường phổ thông, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 159-2007.
- Hoàng Thanh Tú, Nguyễn Tiến Trình, Sử dụng phim tư liệu trong dạy học
lịch sử, Tạp chí Dạy và học ngày nay số 4-2007.
- Trịnh Đình Tùng, Kiều Thế Hưng, Xây dựng và sử dụng bản đồ trong dạy
học lịch sử ở trường phổ thông, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 6-1994.
Những nguồn tài liệu nêu trên là những gợi mở quý báu để tôi đi sâu tìm hiểu
đề tài này.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài đã được nêu rõ là “Xây dựng hồ sơ tư liệu

Bên cạnh việc bám sát những phương pháp nghiên cứu thuộc chuyên ngành
Lí luận và phương pháp dạy học môn lịch sử, do đặc trưng của đề tài, chúng tôi còn
áp dụng một số phương pháp khác như sưu tầm, chọn lọc, xác minh, đánh giá, xử lí
nguồn tư liệu. Trên cơ sở đó, chúng tôi tổng hợp lại nguồn tư liệu và xây dựng hồ
sơ tư liệu dạy học điện tử phần lịch sử thế giới từ nguyên thủy đến cổ đại trên CDRom, phục vụ dạy học phần lịch sử có liên quan.

5. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được thực hiện sẽ góp phần bổ sung, nâng cao trình độ lí luận dạy học nói chung,
dạy học lịch sử nói riêng cho bản thân, góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu điện tử,
nâng cao hiệu quả khi vận dụng CNTT vào trong dạy học lịch sử .
Từ việc nắm được các vấn đề lí luận, thực hiện bài tập này sẽ giúp bản thân
nắm vững hơn kiến thức của bộ môn, thực tế về hồ sơ tư liệu điện tử trong chương
trình phổ thông, có thêm nhiều kỹ năng trong việc vận dụng CNTT vào dạy học,
cũng như việc tìm kiếm và xử lí nguồn tư liệu điện tử, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học bộ môn.

6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Bài tập tiểu luận gồm
hai chương nội dung:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng hồ sơ tư
liệu dạy học điện tử môn lịch sử ở trường THPT.

6


Chương 2. Xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử phần lịch sử thế giới cận
đại, SGK lịch sử lớp 11 THPT.

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC


là một yêu cầu quan trọng. Bởi vì, tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giúp các
em phát triển trí tuệ mà còn giáo dục tư tưởng, niềm tin, góp phần đào tạo con
người Việt Nam XHCN. Việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh qua môn
lịch sử được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
- Lòng yêu nước XHCN, yêu quê hương – một biểu hiện của lòng yêu nước
trong lao động sản xuất cũng như trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc.
- Tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc
lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hoà bình dân chủ.
- Niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và dân tộc, dù trong tiến
trình lịch sử có những bước quanh co, khúc khuỷu, tạm thời thụt lùi hay dừng lại.
- Có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
- Những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng,…
Về mặt phát triển: Rèn luyện các năng lực tư duy và thực hành trên cơ sở
hoàn chỉnh và nâng cao những năng lực đã được hình thành ở trường THCS:
- Phát triển tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích,
đánh giá, so sánh, … các vấn đề lịch sử.
- Bồi dưỡng kỹ năng học tập và thực hành bộ môn khi sử dụng sách giáo
khoa, đọc các tài liệu tham khảo, khả năng diễn đạt ngôn ngữ lịch sử, làm và sử
dụng một số đồ dùng trực quan, nhất là loại đồ dùng trực quan quy ước và tích cực
tham gia các hoạt động ngoại khoá lịch sử liên quan.
- Vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay.
Như vậy, mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là cung cấp cho học
sinh những kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân
tộc và xã hội loài người. Trên cơ sở đó, giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành.
Việc thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát
triển học sinh trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông là góp phần quan
trọng vào nâng cao sự hiểu biết lịch sử của các em.

lịch sử. Nhưng do đặc trưng của môn lịch sử là không lặp lại, không thí nghiệm
được, học sinh không thể trực tiếp quan sát sự kiện hiện tượng lịch sử được. Cho
nên, nhận thức lịch sử không thể bắt đầu từ cảm giác mà rất phức tạp. Quá trình
học tập lịch sử của học sinh bao giờ cũng đi từ quá khứ đến hiện tại, từ “xa đến
gần” nhưng nhận thức của các em lại đi từ “gần đến xa”, chính vì thế học sinh dễ
rơi vào tình trạng “hiện đại hoá” lịch sử. Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần
tạo cho học sinh một biểu tượng chân thực về quá khứ thông qua việc sử dụng
nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học và thao tác sư phạm. Quá trình hình thành
9


kiến thức lịch sử là quá trình học sinh đi từ không đến có, chưa biết đến biết, biết
không đầy đủ đến nắm bắt sâu sắc các sự kiện, hiện tượng. Trên cơ sở các sự kiện,
học sinh trải qua quá trình tạo biểu tượng và giai đoạn tiếp theo là hình thành khái
niệm. Muốn có khái niệm thật sâu sắc lâu dài, cần dựa trên cơ sở biểu tượng phong
phú, chính xác, sinh động. Bởi vì, không có biểu tượng sẽ không có khái niệm
hoặc khái niệm nếu được xây dựng trên những biểu tượng nghèo nàn cũng là khái
niệm rỗng, không có nội dung phong phú, làm cơ sở cho nhận thức quá khứ thì
phương pháp trực quan là phương pháp khả thi và tối ưu nhất bên cạnh sử dụng
các phương pháp dạy học khác.
Cũng giống như với nhiều môn học khác như Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa
lí,… Lịch sử có nhiều ưu thế và sở trường khi ứng dụng CNTT vào dạy học, giúp
học sinh dễ dàng nhận thức những cái quá khứ đã qua, qua đó góp phần nâng cao
hiệu quả bài học. Đặc biệt, việc sử dụng hệ thống kênh hình khi có sự hỗ trợ của
CNTT thì CNTT giống như chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, có thể đưa học
sinh vào con đường nhận thức một cách biện chứng.Trong các giờ học lịch sử, dù
giáo viên có dạy hay đến đâu, lời nói của giáo viên dù sống động, giàu hình ảnh
đến mấy thì vẫn khó cố tạo ra được một hình ảnh thật cụ thể, chính xác về hiện
thực lịch sử đã xảy ra trong quá khứ. Việc giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan
theo cách truyền thống cũng có thể tạo ra được các biểu tượng lịch sử giúp học sinh

điện tử môn lịch sử ở trường THPT.
Học tập lịch sử không chỉ để “biết” quá khứ, mà trên cơ sở “biết”, các em
còn phải “hiểu” sâu sắc, ngọn ngành. Chính vì vậy, mở đầu quyển “Lịch sử nước
ta” Hồ Chí Minh đã viết:
“ Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
“Biết” để “tường” tức là hiểu cặn kẽ, chính xác. Như vậy học lịch sử là để
hiểu chứ không chỉ để biết. Sự hiểu biết sâu sắc và biện chứng lịch sử như vậy góp
phần tích cực vào việc đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đã đề
ra. Sự hiểu biết này phải được xây dựng trên cơ sở trang bị cho các em khả năng
nắm vững kiến thức khoa học, năng lực độc lập tư duy, biết vận dụng kiến thức đã
học vào thực tiễn. Trong dạy học, lời nói có vai trò quan trọng để tạo biểu tượng và
hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh. Nhưng, dù lời nói có sinh động, có hình
ảnh đến đâu cũng không thể thay thế cho việc sử dụng đồ dùng trực quan. Cho nên,
phương châm chống “dạy chay” là hợp lý và đúng đắn. Khai thác và sử dụng tốt
các nguồn tư liệu trong hồ sơ tư liệu dạy học điện tử của giáo viên như tranh ảnh,

11


sơ đồ, lược đồ lịch sử,... do giáo viên tự sưu tầm, xây dựng sẽ có vai trò, ý nghĩa
quan trọng trong việc bồi dưỡng nhận thức ở học sinh.
Về mặt kiến thức, sử dụng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử môn lịch sử sẽ góp
phần quan trọng vào tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh. Thông qua hệ thống tín
hiệu thứ nhất, đồ dùng trực quan nói chung, kênh hình nói riêng sẽ tác động vào
giác quan, đem lại những biểu tượng lịch sử chính xác, trung thực cho học sinh.
Mặc dù vốn kiến thức lịch sử của học sinh cấp III đã khá phong phú, nhưng các em
vẫn có thể rơi vào “hiện đại hoá” lịch sử. Chính các nguồn tư liệu của giáo viên,
trong đó có tư liệu điện tử là hình ảnh - đồ dùng trực quan sẽ giúp các em khắc
phục khuynh hướng sai lầm này, giúp các em hình dung và tưởng tượng quá khứ

liệu dạy học điện tử môn lịch sử nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc dạy
và học của giáo viên và học sinh. Tuy nhiên thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng
hồ sơ tư liệu dạy học lịch sử của giáo viên hiện nay có nhiều bất cập.
Về hồ sơ tư liệu dạy học lịch sử, nhìn chung các giáo viên đã chú ý và cố
gắng thu thập, xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học từ sớm. Đối với những thế hệ giáo
viên trẻ thì vấn đề này được trú trọng ngay khi đang trong quá trình học tập, rèn
luyện của mỗi người ở các trường đại học. Môn Lịch sử là một môn học đã được
giảng dạy có thâm niên nhiều năm. Vì thế nên các vấn đề lịch sử nói chung đều có
rất nhiều tài liệu viết về chúng ở những khía cạnh khác nhau. Hồ sơ tư liệu dạy học
lịch sử qua thời gian, qua các thế hệ đã được nhiều giáo viên xây dựng thành những
bộ hồ sơ công phu và rất sẵn cho việc dạy học. Tuy nhiên, số lượng giáo viên và
những bộ hồ sơ tư liệu như vậy không phải là nhiều. Trong dạy học lịch sử còn
không biết bao nhiêu thầy cô không có được hồ sơ tư liệu đủ để phục vụ công tác
giảng dạy. Hầu hết chỉ khi nào cần đến tư liệu thì mới có sự tìm kiếm, còn hàng
ngày chỉ có những sách phục vụ cho việc giảng dạy trênn lớp một cách đơn thuần.
Thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử môn
lịch sử còn đáng buồn hơn. Chúng ta không phủ nhận một điều rằng một số giáo
viên hiểu biết nhiều về CNTT, thường sử dụng CNTT để phục vụ việc dạy học lịch
sử thì rất say sưa sưu tầm tư liệu điện tử, tập hợp được nhiều nguồn tài liệu quý giá,
phục vụ cho việc xây dựng bài giảng điện tử trên lớp. Song nhìn chung, đa phần
các giáo viên mới chỉ dừng lại ở việc tiếp cận và biết sơ qua về CNTT nên ít ứng
dụng vào bài giảng, chưa có được hồ sơ tư liệu dạy học điện tử môn lịch sử. Ngay
việc sử dụng đồ dùng trực quan vào kênh hình vào quá trình dạy học lịch sử cũng
chưa được coi trọng. Đa số các giáo viên đều “dạy chay” trong quá trình dạy học
lịch sử. Việc ứng dụng CNTT vào dạy học chưa đại trà mà chỉ dừng lại ở những
tiết dạy thật cần thiết, hay những tiết dạy dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, tỉnh.
Nhiều giáo viên chưa thấy được sự cần thiết trong việc xây dựng và sử dụng hồ sơ
tư liệu dạy học điện tử.
13



1.3 Một số yêu cầu khi xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử môn Lịch sử
1.3.1 Say mê với nghề, có ý thức và hiểu được tầm quan trọng của việc xây
dựng hồ sơ tư liệu trong dạy học bộ môn
14


Không chỉ riêng gì nghề dạy học, mà với bất kỳ nghề nào cũng cần có lòng
yêu nghề, hăng say với công việc. Lòng yêu nghề cùng với năng lực của người đó
luôn là những yếu tố đầu đảm bảo sự thành công. Nghề dạy học là nghề đào tạo nên
những con người hoàn thiện trong cả một quá trình. Vì thế nó đòi hỏi người giáo
viên phải thực sự yêu nghề, say mê với công việc, có ý thức cải tiến, nâng cao chất
lượng dạy học bộ môm. Đối với giáo viên dạy môn lịch sử thì yêu cầu này càng cao
do dặc trưng của bộ môn mà chúng ta đã biết. Nếu như người giáo viên dạy sử
không làm được điều đó, thì sẽ không tạo ra được những bài giảng gây hứng thú
học tập cho học sinh, thu hút học sinh vào công việc học tập. Như thế thì các em
học sinh sẽ cảm thấy nặng nề khi đón nhận bài học của giáo viên và sẽ chán học
lịch sử.
Giáo viên cần nhận thức được kiến thức lịch sử được viết trong sách giáo
khoa là rất cơ bản, trọng tâm. Nhưng nếu giáo viên chỉ “đọc lại” những gì mà các
tác giả viết sách giáo khoa đã viết, rồi “nói lại” cho học sinh nghe, thì chẳng khác
gì là lối dạy truyền thụ một chiều “thầy đọc trò chép”. Vì vậy, để bài giảng thêm
sinh động, giáo viên phải tìm hiểu và đọc nhiều nguồn tư liệu tham khảo khác, phải
sưu tầm và khai thác các hình ảnh lịch sử, bản đồ lịch sử, giúp học sinh được “trực
quan sinh động” để “tư duy trừu tượng” dễ dàng khi học lịch sử. Xây dựng và sử
dụng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử phục vụ dạy học bộ môn với sự hỗ trợ của
CNTT sẽ là biện pháp quan trọng giúp học sinh hứng thú hơn khi học lịch sử.
Tuy nhiên, không phải lúc nào người giáo viên cũng ý thức, tự giác, sẵn sàng làm những
công việc ấy; mà chỉ khi nào người giáo viên nhận thấy vai trò, trách nhiệm của mình cần phải
không ngừng nâng cao chuyên môn, phương pháp và nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng

nước ta, không gây tổn hại đến tâm lí, việc học tập của học sinh. Hình ảnh tư liệu
phải rõ nét, không lòe loẹt, không mờ nhạt khiến cho người quan sát hình ảnh đó
khó quan sát hay không quan sát được. Về cơ bản hình ảnh đó phải đảm bảo được
độ chính xác và phải đẹp, rõ ràng để tiện cho việc quan sát. Nếu như tư liệu và hình
ảnh nhiều nhưng người xem không thể quann sát được thì cũng coi như không có
giá trị truyền tải kiến thức, thông tin.
Khi xây dựng hồ sơ tư liệu còn phải nắm vững và thực hiện được nguyên tắc
phải đảm bảo tính khoa học, chính xác. Nguồn tư liệu điện tử trong hồ sơ phải khoa
học, chính xác, không sai sót, không nhầm lẫn,… Tính khoa học ở đây được biểu
hiện ngay trong độ chính xác của các hình ảnh, việc thể hiện của các hình ảnh đó,
nội dung kiến thức cũng như kết cấu, câu chữ của hồ sơ tư liệu. Do đây là hồ sơ tư
liệu điện tử nên phần tranh ảnh, bản đồ, bản đồ động, lược đồ lịch sử được xử lí,
xây dựng trên máy vi tính và thể hiện trong đĩa CD-Rom, khi sử dụng cần có sự hỗ
trợ của CNTT. Chính vì thế độ chính xác của máy móc là rất cao.
16


CHƯƠNG 2 - XÂY DỰNG HỒ SƠ TƯ LIỆU DẠY HỌC
ĐIỆN TỬ PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI, SGK LỊCH SỬ
LỚP 11, BAN CƠ BẢN - THPT
2.1 Vị trí, ý nghĩa của việc xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử phần lịch sử
thế giới cận đại trong dạy học lịch sử lớp 11 THPT
Phần lịch sử thế giới cận đại là phần đầu tiên trong chương trình lịch sử thế
giới lớp 11 THPT, do đó nó có vị trí rất quan trọng, mang ý nghĩa mở đầu của
chương trình lịch sử thế giới. Phần này nói về lịch sử các nước châu Á, châu Phi và
Mĩ Latinh cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.
Là phần mở đầu của lịch sử thế giới lớp 11, cũng là phần tiếp nối của lịch sử
thế giới lớp 10 nên đây chính là những kiến thức quan trọng giúp các em nhận thức
rõ hơn về thời kì lịch sử thế giới cận đại. . Tuy phần này rất ngắn, chỉ trong năm bài
nhưng rất quan trọng cho sự nhận thức về lịch sử (kể cả lịch sử thế giới và lịch sử

Việc xây dựng và sử dụng tư liệu dạy học điện tử phần lịch sử từ thế giới cận
đại giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát, khai thác nội dung tranh ảnh, bản
đồ, lược đồ. Đồng thời, khi được quan sát hình ảnh quá khứ lịch sử, học sinh sẽ
được kích thích trí tưởng tượng, khả năng tư duy logic, phân tích, đánh giá, tổng
hợp vấn đề,...

2.2 Nội dung cơ bản của chương trình lịch sử thế giới cân đại trong
sách giáo khoa lịch sử lớp 11 THPT
Phần lịch sử thế giới cận đại trong chương trình lớp 11 là tiếp nối nội
dung của phần lịch sử thế giới cận đại trong chương trình lịch sử lớp 10. Nếu
như phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 nói về sự xác lập quyền thống trị của
giai cấp tư sản ở Âu - Mỹ thông qua các cuộc cách mạng tư sản và cách mạng
công nghiệp, sau đó chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ
nghĩa, thì nội dung chính của lịch sử thế giới cận đại lớp 11 tiếp nối ngay sau
đó, khi chuyển sang chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ
nghĩa, các nước Âu - Mỹ tăng cường xâm lược thuộc địa mà mục tiêu chủ yếu
là các Á, Phi, Mĩ Latinh.
Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, trong khi các nước Âu - Mỹ đã
chuyển sang chủ nghĩa đế quốc có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, thì các
nước Á, Phi, Mĩ Latinh vẫn là các nước phong kiến lạc hậu, nhưng lại có điều
kiện đất đai rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhân công lao động
18


đông. Chính vì vậy các nước Á, Phi, Mĩ Latinh đã trở thành con mồi trong
cuộc săn tìm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Đứng trước nguy cơ xâm lược
của chủ nghĩa đế quốc, mỗi nước có sự lựa chọn con đường khác nhau. Trong
đó có những nước đã chọn con đường cải cách kinh tế, chính trị, xã hội, đưa
đất nước tiến lên chủ nghĩa tư bản nhờ vậy thoát khỏi số phận nô lệ như Nhật
Bản, Thái Lan. Đa số các nước còn lại chậm cải cách nên chịu số phận nô lệ,

THPT trờn a CD-Rom theo bi vi 4 ni dung chớnh, mi bi li cú nhiu ni
dung khỏc nhau:
Bi s

Khỏi nim LS

Ci cỏch,
bt hp tỏc ,


Tranh nh, s
v bn LS

Chic bỏnh ngt
Trung Quc,

Ti liu
tham kho

Ch
Ph,

Mc

Hng dn s
dng h s

S dng tranh
nh, s dng
bn ,

- Hc thuyt Liờn minh dõn tc cỏc nc cng hoa chõu M
20


- Chính sách “Ngoại giao bằng đồng đô la”
ghi chú: Nội dung chi tiết của các khái niệm lịch sử đưa vào đĩa CD-Rom
* Phần tranh ảnh, sơ đồ và bản đồ lịch sử
+/ Bài 1: Nhật Bản
Hình: Minh Trị
Minh Trị Thiên hoàng (Meiji Tenno) tên thật là Mutsuhito, là vị hoàng đế
thứ 122 của Nhật Bản theo cách tính truyền thống, trong đó tính cả những vị hoàng
đế trong truyền thuyết. Ông trị vì từ năm 1867 đến năm 1912 và được gọi là Minh
Trị theo tên của thời đại này (1868-1912). Là con của Thiên hoàng Komei, ông trở
thành thái tử năm 1860 và lên ngôi năm 14 tuổi.
Với công cuộc Minh Trị Duy Tân vào năm 1868, hệ thống chính quyền trong
đó các tướng quân mới thực sự là lãnh đạo, đã bị phá hủy hoàn toàn, và Nhật hoàng
trở lại nắm quyền tối thượng sau gần 680 năm. Thủ đô được chuyển từ Kyoto về
Tokyo.
Thời gian trị vì lâu dài của Nhật Hoàng Minh Trị được đánh dấu bằng nhiều
sự kiện trọng đại. Sắc lệnh đối với quân nhân, Hiến pháp đế quốc Đại Nhật Bản –
tức hiến pháp mang tính chất nhà nước hiện đại lần đầu tiên, cùng Sắc lệnh về giáo
dục được ban hành. Quốc hội được thành lập và cuộc cách mạng công nghiệp của
Nhật Bản được xúc tiến.
Trong quan hệ đối ngoại cũng xảy ra những sự kiện quan trọng, ví như việc
mở rộng quan hệ ngoại giao, sửa đổi các hiệp ước bất bình đẳng, ký hiệp ước liên
minh Anh-Nhật, chiến tranh Nhật-Thanh 1894-1895, chiến tranh Nhật-Nga và xâm
chiếm Triều Tiên vào năm 1910. Trong thời gian này, quyền lực tối cao của nhà
nước và quyền chỉ huy quân đội ngày càng được tập trung vào tay Nhật Hoàng.
(Lưu ý: vị trí của Nhật Hoàng Minh Trị và Nhật Hoàng hiện nay hoàn toàn khác
nhau. Theo Hiến pháp thời Minh Trị, Nhật Hoàng là người lãnh đạo hệ thống hành

sự buôn bán tấp nập. Sau khi khởi hành tàu đã mang cả hàng trăm khách và hàng
nghìn tấn hàng hóa đến một nhà ga mới. Hình ảnh này một mặt cho chúng ta biết
ngành đường sắt của Nhật Bản đã ra đời, mặt khác nó khẳng định ngành công
nghiệp đóng tàu của Nhật Bản đã trưởng thành và có đủ sức vươn ra thế giới cạnh
tranh vơi Anh, Pháp. Đức. Mặt khác sự khánh thành đoàn tàu còn có ý nghĩa chiếm
lược trong quân sự. Sự chuyên chở vũ khí đến nhưng nơi mà Nhật Bản chuẩn bị
xâm lược được thuận tiện hơn.
Hình: Lược đồ về sự bành trướng của đế quốc Nhật Bản
Đây là lược đồ thể hiện quá trình bành trướng lãnh thổ của đế quốc Nhật Bản
cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Quá trình xâm lược, bành trướng lãnh thổ của đế
quốc Nhật theo ba hướng nam – bắc – đông được thể hiện như sau:
22


- Từ năm 1872 đến năm 1879, Nhật Bản chiếm đóng đảo Lưu Cầu ở phía
Nam, biến quần đảo này thành bàn đạp để xâm lược Trung Quốc.
- Từ năm 1894 đến năm 1895, cuộc chiến tranh Trung – Nhật bùng nổ. Quân
Nhật đại thắng, lục quân của Nhật tràn sang Trung Quốc, uy hiếp Bắc Kinh, chiếm
cửa biển Lữ Thuận. Nhà Thanh phải nhượng Đài Loan, bán đảo Liêu Đông và một
số quyền lợi ở Đông Nam Trung Quốc cho Nhật.
- Từ năm 1904 – 1905, cuộc chiến tranh Nga – Nhật bùng nổ, Nga thua trận,
buộc phải nhượng lại cho Nhật cửa biển Lữ Thuận, Đài Loan, phía nam đảo Xa –
kha – lin và bán đảo Liêu Đông.
Như vậy, trải qua các cuộc chiến tranh, Nhật Bản đã từng bước thực hiện
tham vọng bành trướng lãnh thổ của mình tiến lên địa vị một cường quốc đế quốc ở
Viễn Đông.

Bài 2: Ấn Độ
Hình: B.Ti - lắc
(Bâl Gangadhar Tilak; 1856 - 1920), nhà cách mạng dân tộc Ấn Độ theo xu

năm thì bị thực dân Anh dốc toàn sức đàn áp rất dã man. Nhiều nghĩa quân bị trói
vào miệng nòng đại bác rồi bắn cho tan xác. Mặc dù thất bại, cuộc khởi nghĩa
Xipay có ý nghĩa lịch sử to lớn, tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất của
nhân dân Ấn Độ chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc.

Bài 3: Trung Quốc
Hình: Các nước đế quốc xâu xé "cái bánh ngọt" Trung Quốc
Cuối thế kỷ XIX, các nước đế quốc phương Tây tăng cường xâm lược lãnh
thổ thuộc địa để thoả mãn nhu cầu thị trường, tài nguyên và nhân công phục vụ nền
kinh tế chính quốc. Tất cả các nước đế quốc đều hướng mắt thèm thuồng vào vùng
đất rộng lớn Trung Quốc.
Đất nước Trung Quốc với diện tích rộng lớn, đứng thứ ba trên thế giới và số
dân đông nhất thế giới. Với những điều kiện vo cùng thuận lợi về nhân công, tài
nguyên… để phát triển kinh tế, Trung Quốc đã trở thành “cái bánh ngọt ” mà tất cả
các nước để quốc đều thèm muốn. Vậy vì sao các nước để quốc không tìm cách
độc chiếm “cái bánh ngọt” này mà lại phải chia ra? Về vấn đề này, trong tác
phẩm Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Mặc
dù Trung Quốc rất suy nhược, mặc du nội bộ Trung Quốc bị chia rẽ, nhưng dù sao,
con số 11139000km2 của nó vẫn là một miếng mồi quá to mà cái mõm của chủ
nghĩa đế quốc thực dân không thể nuốt trôi ngay một lúc được. Và không thể trong
một ngày mà đẩy một cách tàn bạo 489500000 người Trung Quốc vào xiêng xích
của chế độ nô lệ thuộc địa. Cho nên người ta cắt Trung Quốc ra. Cách này chậm
hơn nhưng khôn hơn”.
24


Hình: Tôn Trung Sơn (1866-1925)
Ông sinh ở tỉnh Quảng Đông trong một gia đình nông dân khá giả. Năm 13
tuổi, ông đến học ở Honolulu (Hawaii) vì có người anh buôn bán ở đây, ở đây ông
học các trường tiểu học và trung học nên chịu ảnh hưởng rất lớn của phương Tây.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status