DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.2.1.2. Chất lượng chữ viết của giáo viên........Error: Reference source not found
Bảng 2.2.1.2. Nhận thức của giáo viên về vai trò quan trọng của việc viết chữ đẹp để
làm mẫu trước học sinh...............................................Error: Reference source not found
Bảng 2.2.1.3. Mức độ các lỗi chữ viết sai trong giáo viên....Error: Reference source not
found
Bảng 2.2.1.4. Mức độ sử dụng các phương pháp nâng cao chất lượng chữ viết ở trường
Tiểu học....................................................................... Error: Reference source not found
Bảng 2.2.2.3. Những biện pháp để nâng cao chất lượng chữ viết của học sinh......Error:
Reference source not found
Bảng 2.2.3.2: Hiệu quả đối với giáo viên...................Error: Reference source not found
Bảng 2.2.3.3 Hiệu quả đối với học sinh......................Error: Reference source not found
1
MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ ÁP DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG CHỮ VIẾT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG SƠN –
THỦY NGUYÊN – HẢI PHÒNG
Một trong những hạnh phúc lớn nhất của đời người là được cắp sách đến
trường. Biết đọc, biết viết - cả thế giới mở ra trước mắt trẻ. Tiểu học là bậc học
nền tảng tạo cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách
của con người, đặt nền tảng vững chắc cho hệ thống giáo dục quốc dân. Những
gì thuộc về tri thức, về kỹ năng, về hành vi đạo đức được định hình từ học sinh
Tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi con người như: chữ viết, kỹ năng ứng xử...
các mái trường phổ thông và qua khảo sát thực tế chữ viết của các em học sinh
tại trường Tiểu học Đông Sơn đã chứng minh: Chữ đẹp không phải tại hoa tay
mà do kiên trì rèn luyện mà nên.
Chữ viết đẹp là mong muốn, là nguyện vọng của giáo viên, học sinh, phụ
huynh. Song yêu cầu viết đúng chính tả là một yêu cầu cần thiết đối với học
sinh. Cũng như các phân môn khác trong môn Tiếng Việt, phân môn chính tả
với tính chất nổi bật là tính thực hành, có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững quy
tắc chính tả. Ngoài ra, phân môn chính tả còn rèn cho học sinh ý thức kỷ luật, sự
kiên trì, chăm chỉ trong học tập, óc thẩm mĩ, sự tôn trọng và tinh thần trách
nhiệm. Vì vậy, phân môn chính tả có vị trí vô cùng quan trọng trong cơ cấu
chương trình môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học trong trường phổ thông
nói chung. Ở Tiểu học, phân môn chính tả có vị trí quan trọng vì đây là giai
đoạn then chốt trong quá trình hình thành kỹ năng chính tả cho học sinh, phát
huy được năng lực tiếng mẹ đẻ trong đó có kỹ năng chữ viết. Bởi thế nên, chỉ có
thể hình thành các kĩ năng - kĩ xảo chính tả cho học sinh thông qua việc luyện
tập - thực hành để giúp các em viết đúng chính tả.
Thực tế, chữ viết trong các nhà trường Tiểu học đã có nhiều chuyển biến
tích cực nhưng vẫn còn nhiều tồn tại. Nhiều giáo viên chữ viết chưa đẹp, chưa
chuẩn; còn có giáo viên chưa quan tâm thường xuyên, chưa có biện pháp tích
cực và đồng bộ trong việc rèn chữ viết cho học sinh; nhiều học sinh chữ viết còn
chưa đúng mẫu, chưa đúng kỹ thuật, chữ viết chưa liền mạch lại thêm tư thế
ngồi viết không đúng nên tốc độ viết rất chậm, nét chữ rời rạc, có em viết xấu
đến mức không đọc được. Trong bài kiểm tra các môn kể cả môn chữ viết (Tập
4
viết, Chính tả) vì chữ xấu mà bị điểm kém nên dẫn đến chất lượng môn Tiếng
Việt không cao. Bên cạnh những cố gắng của đông đảo giáo viên nhằm nâng cao
chất lượng dạy chính tả thì vẫn còn có hiện tượng giảng dạy chính tả kém hiệu
quả làm trì trệ việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
cao được chất lượng chữ viết của học sinh Tiểu học.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Cơ sở lý luận về vấn đề áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng
chữ viết ở trường Tiểu học Đông Sơn - Thủy Nguyên - Hải Phòng
5.2. Thực trạng về vấn đề áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng
chữ viết ở trường Tiểu học Đông Sơn - Thủy Nguyên - Hải Phòng
5.3. Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng chữ viết ở
trường Tiểu học Đông Sơn - Thủy Nguyên - Hải Phòng
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1. Nội dung nghiên cứu:
- Chất lượng chữ viết
- Khảo sát thực trạng áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng chữ
viết ở trường Tiểu học Đông Sơn - Thủy Nguyên - Hải Phòng
6.2. Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 5 năm 2016
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng chữ viết ở trường Tiểu học
Đông Sơn, em phối hợp các phương pháp sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, so sánh, hệ thống hóa, rút ra kết luận từ các công trình nghiên
cứu có liên quan đến đề tài, tôi đánh giá được khả năng viết chữ của HS
để có việc điều chỉnh hợp lí, phù hợp với khả năng tiếp thu của các em
7.2. Phương pháp quan sát tổng hợp
Quan sát việc nâng cao chất lượng chữ viết ở trường Tiểu học Đông Sơn
nhằm rút ra những nhận định, đánh giá về quá trình viết chữ của HS
7.3. Phương pháp điều tra
Điều tra, lấy ý kiến của giáo viên ở trường Tiểu học Đông Sơn và học
sinh về vấn đề nâng cao chất lượng chữ viết bằng phiếu trắc nghiệm anket
6
“Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học” của Lê A đã nêu rõ khái lược về chữ viết,
sự xuất hiện của chữ viết, vai trò của chữ viết, lịch sử chữ viết tiếng Việt. Tác
giả đưa ra một số cơ sở, nguyên tắc và phương pháp của việc dạy chữ viết song
chưa chỉ ra được quy trình viết chữ cụ thể khi dạy các chữ viết tiếng Việt, chưa
vạch ra được những sai lầm khi viết để từ đó tìm cách khắc phục.
Nhìn chung, các sách dạy vần cuối thế kỉ XIX cho đến nhưng năm 30 của thế kỉ
XX đều coi bộ chữ cái là cơ cơ và dạy theo hướng chữ tổng hợp. Các sách dạy
vần theo hướng này do quan tâm nhiều đến việc đánh vần nên không coi trọng
dạy Tập viết. Chính vì vậy, tác giả Lê A – Trịnh Đức Minh đã viết “Dạy tập viết
ở Tiểu học” (2004) đưa ra một số cơ sở, nguyên tắc, phương pháp cũng như
phân tích được cấu tạo, chỉ ra cách viết, cách liên kết các con chữ. Tuy vậy, vẫn
chưa chỉ được lỗi khi viết các con chữ để người viết nhận ra và dễ dàng sửa lỗi.
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” – tài liệu đào tạo giáo viên của
Dự án phát triển giáo viên Tiểu học cũng dành một chủ đề (chủ đề 3 – Đặng
Kim Nga viết) để bàn về phương pháp dạy tập viết nhưng vẫn chưa phân tích chỉ
rõ những sai sót khi viết của HS.
Ngày 14/06/2004 mẫu chữ viết trong trường Tiểu học đã được ban hành
kèm theo Quyết định số 31/2002/QĐ - BGD & ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo. Số bài và thời lượng học cũng như nội dung bài học rất phù hợp với
từng lứa tuổi. Tuy nhiên thực tế giảng dạy cho thấy HS học môn Tập viết để viết
đẹp là rất khó, chữ hoa của các em chỉ dùng lại ở mức độ gần giống với hình
dáng theo mẫu chữ quy định, một số em còn thao tác ngược với quy trình viết
hoặc nhấc bút tùy tiện. Đặc biệt, trong giờ dạy tập viết nhiều GV chưa chú ý và
8
coi trọng tính luyện tập, thực hành của HS mà đi sâu vào việc giải thích quy
trình viết chữ, nên HS không được luyện tập nhiều và luyện tập còn mang tính
hình thức. Khi khảo sát vấn đề này tôi nhận thấy có rất ít tác giả đề cập đến vấn
đề này, do đó tôi đã đi sâu nghiên cứu cũng như tìm hiểu về vấn đề này.
có thay đổi).
Ví dụ: Từ cày trong cái cày này là danh từ, trong đang cày ruộng là động
từ, nhưng hình thức ngữ âm của cày không có gì khác. Trong tiếng Việt, còn có
nhiều từ tượng hình, tượng thanh có tác dụng gợi tả cao.
Ví dụ: Lom khom, khúm núm, bồng bềnh, róc rách, tí tách,...
● Đặc điểm từ vựng
Mỗi tiếng là một yếu tố nghĩa. Tiếng là đơn vị cơ sở của hệ thống các đơn
vị có nghĩa của tiếng Việt. Từ tiếng, người ta tạo ra các đơn vị từ vựng khác để
định danh sự vật, hiện tượng…Sự tạo từ chủ yếu do phương thức láy và phương
thức ghép.
Ví dụ: Từ ăn trong ăn năn là từ láy còn trong làm ăn là từ ghép.
● Đặc điểm ngữ pháp
Từ tiếng Việt không biến đổi hình thái, hình thức ngữ âm của từ không hề
có một sự chỉ dẫn nào về đặc điểm ngữ pháp. Điều đó cũng có nghĩa là đặc điểm
ngữ pháp của từ không bộc lộ ở chính bản thân từ mà bộc lộ chủ yếu ở ngoài từ,
trong mối quan hệ với các từ khác.
Ví dụ: Từ đỏ trong câu:
Lá bàng rất đỏ mang đặc điểm của tính từ.
Lá bàng đang đỏ dần mang đặc điểm của động từ.
Việc sắp xếp các từ theo một trật tự nhất định là cách chủ yếu để biểu thị
các quan hệ cú pháp. Trật tự chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau là trật tự phổ
biến của kết cấu câu trong tiếng Việt.
Ví dụ: Trong tiếng Việt khi nói Anh ta lại đến là khác với Lại đến anh t
Phương thức hư từ cũng là phương thức ngữ pháp quan trọng trong tiếng Việt.
Hư từ cùng với trật tự từ cho phép tiếng Việt tạo ra nhiều câu cùng nội dung
thông báo nhưng khác nhau về sắc thái.
Ví dụ: Ông ấy không hút thuốc
Thuốc, ông ấy không hút
Thuốc, ông ấy cũng không hút
10
- 10 chữ ghép đôi: ch, gh, gi, kh, ng, nh, ph, th, tr, qu.
- 1 chữ ghép ba: ngh
11
- 6 dấu thanh: thanh ngang, thanh huyền, thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc,
thanh nặng.
Các con chữ trong bảng chữ cái tiếng Việt được sắp xếp theo một thứ tự
cố định (theo thứ tự bảng chữ cái Latinh)
1.2.3. Quy định về chữ viết
1.2.3.1. Viết theo nguyên tắc ghi âm
Về nguyên tắc, chữ viết ghi âm phải căn cứ trên một cách phát âm. Mà
tiếng Việt thì tồn tại nhiều phương ngữ. Các cách phát âm địa phương có tính
bảo thủ cao và thực tế chúng đều được tôn trọng. Người Hà Nội vẫn có quyền tự
hào với phát âm con châu thay vì con trâu. Cũng vậy người Hà Nội chẳng bao
giờ mặc cảm khi hỏi tai đâu mà người nghe không biết nên chỉ vào tay hay đưa
tay ra. Đặc biệt, ĐàiTiếng nói Việt Nam, cơ quan ngôn luận của quốc gia cũng
phát đi bằng 3 thứ giọng: Hà Nội, Huế và Sài Gòn đại diện cho ba phương ngữ
lớn trên cả nước. Thế nhưng về mặt chữ viết, chỉ cho phép một cách viết duy
nhất dùng để ghi mọi phương ngữ. Vậy đâu là cơ sở cho chữ viết? Cách viết ấy
tôn trọng chuẩn chính tả đã được xác định và phản ánh về cơ bản trong Từ điển
chính tả phổ thông. Nghĩa là chữ viết tiếng Việt căn cứ trên cách phát âm Hà
Nội cộng với 5 sự phân biệt mà cách phát âm địa phương này còn đồng nhất khi
nói. Đó là: tr/ch; s/x; r/d,gi; ưu/iu; ươu/iêu
1.2.3.2. Viết rời từng chữ
Nghĩa là mỗi âm tiết (tiếng) được ghi bằng một chữ.
Ví dụ: Đà Lạt chứ không phải Đalat
Lưu ý: Tuy nhiên ta thấy trong giao tiếp bằng văn viết, các kiểu chữ viết
liền như trên vẫn được sử dụng. Sự chấp nhận ấy có thể có 2 lí do:
- Cách viết ấy đơn thuần chỉ mang tính cá nhân: thư từ, nhật kí,..
trường Tiểu học” áp dụng cho chương trình Tiểu học mới từ năm học 2002 –
2003. Mẫu chữ viết này được thay đổi theo hướng vừa mang tính truyền thống
vừa đảm bảo các nguyên tắc: Khoa học, hệ thống, sư phạm và thẩm mỹ. Mẫu
chữ hoa quay lại với mẫu chữ truyền thống với những nét cong mềm mại đồng
thời dễ viết. Mẫu chữ thường về hình dáng không thay đổi nhiều so với mẫu chữ
thường của chương trình CCGD từ năm 1996 đến năm 2002.
13
1.2.4. Vị trí, nhiệm vụ của dạy học Tập viết
1.2.4.1. Vị trí của dạy học Tập viết
Tập Viết là một trong những phân môn có tầm quan trọng đặc biệt của
môn Tiếng Việt ở Tiểu học, nhất là đối với lớp 1. Phân môn Tập viết trang bị
cho HS bộchữ cái Latinh và những yêu cầu kĩ thuật để sử dụng bộ chữ cái đó
trong học tập và giao tiếp. Với ý nghĩa này, Tập viết không những có quan hệ
mật thiết với chất lượng học tập của các môn học khác mà còn góp phần rèn
luyện một trong những kĩ năng hàng đầu của việc học tiếng Việt trong nhà
trường – kĩ năng viết chữ. Nếu viết đúng chữ mẫu, rõ ràng, tốc độ nhanh thì HS
có điều kiện ghi chép bài học tốt, nhờ vậy kết quả học tập sẽ cao hơn. Viết xấu,
tốc độ chậm sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập. Học vần, Tập đọc
giúp cho việc rèn năng lực đọc thông, Tập viết giúp cho việc rèn năng lực viết
thạo. Để làm chủ tiếng nói về mặt văn tự, người học phải rèn luyện cho mình
năng lực đọc thông viết thạo văn tự đó. Hai năng lực này có quan hệ mật thiết
với nhau. Học sinh học tiếng Việt phải đọc thông viết thạo chữ Quốc ngữ. Đây
chính là điểm khác biệt giữa người được học và người không được học tiếng
Việt. Tập viết là phân môn có tính chất thực hành. Trong chương trình không có
tiết học lí thuyết, chỉ có các tiết rèn luyện kĩ năng. Tính chất thực hành có mục
đích của việc dạy học Tập viết cũng góp phần khẳng định vị trí quan trọng của
phân môn này ở trường Tiểu học. Ngoài ra, Tập viết còn góp phần quan trọng
nhiều cuộc thi viết chữ đẹp cho giáo viên, học sinh. Qua các cuộc thi đó đã động
viên nhiều cá nhân, tập thể giáo viên, học sinh, các nhà trường tích cực rèn chữ
viết. Phong trào đã được phát huy, phát triển sâu rộng ở các trường Tiểu học làm
phấn chấn học sinh và nhân dân. Phong trào “vở sạch chữ đẹp” ở bậc Tiểu học có
sức mạnh rất lớn thu hút sự quan tâm của toàn xã hội.
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng một số biện pháp nâng cao
chất lượng chữ viết ở trường Tiểu học
1.2.4.1. Khái quát về môn tập viết
1.2.4.1.1. Nhiệm vụ của dạy học Tập viết
* Nhiệm vụ chung
Phân môn Tập viết hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản về chữ
viết và kĩ thuật viết chữ. Trong các tiết Tập viết, học sinh nắm bắt được các tri thức
cơ bản về cấu tạo bộ chữ Quốc ngữ ghi âm tiếng Việt, sự thể hiện bộ chữ cái này
15
trên bảng, vở… đồng thời được hướng dẫn các kĩ thuật nét chữ, chữ cái, viết từ và
câu… Riêng ở lớp 1, việc dạy viết được phối hợp nhịp nhàng với dạy học vần.
Học sinh luyện tập viết chữ dưới hai hình thức chủ yếu: luyện tập viết chữ cái trong
các âm tiết học âm - chữ ghi âm, vần và tập viết theo các yêu cầu kĩ thuật trong các
tiết Tập viết.
* Các nhiệm vụ cụ thể
Viết chữ trong phân môn Tập viết thuộc giai đoạn đầu của kĩ năng viết,
hiểu theo nghĩa rộng. Giai đoạn một của quá trình viết chữ trong phân môn này
dồn trọng tâm vào viết chữ cái và liên kết chữ cái để ghi tiếng. Ở giai đoạn cuối lớp
1 và những lớp trên, song song với việc rèn viết chữ hoa, học sinh cũng được rèn
viết văn bản. Viết văn bản ở đây thực chất là viết chính tả ở các thể loại tập chép,
cao hơn là nhớ lại một đoạn văn thơ đã học và chép lại. Từ việc giới hạn nhiệm vụ
của của việc dạy học Tập viết như vậy trong chương trình tập viết ở Tiểu học quy
định nhiệm vụ cụ thể của phân môn này là:
luyện viết thực hiện 1 tiết/ tuần từ lớp 1 đến hết lớp 5. Căn cứ công văn 693/ TH
của Sở giáo dục và đào tạo về quy định rèn luyện kỹ năng giữ vở sạch chữ đẹp
của học sinh tiểu học gồm: Quy định cách trình bày, quy định xếp loại chung về
vở, chữ viết, tiêu chuẩn cho điểm vở sạch (3 điểm): vở phải đóng chặt, bìa phải có
nhãn và sạch, giấy không nhàu nát, không quăn góc, không để bẩn, không phí
giấy, không xé vở, trình bày theo đúng quy định. Tiêu chuẩn cho điểm chữ viết
đẹp (7 điểm): Chữ viết thẳng hàng ngay ngắn, đúng mẫu, đúng cỡ, đúng khoảng
cách giữa chữ với chữ, tiếng với tiếng, từ với từ, đảm bảo đúng tốc độ quy định
cho mỗi lớp. Quy định rõ tiêu chuẩn xét công nhận học sinh, lớp trường có vở
sạch chữ đẹp, việc công nhận học sinh và đơn vị có vở sạch chữ đẹp.
1.2.4.2. Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh Tiểu học
* Đặc điểm nhận thức
Ở bậc Tiểu học, học sinh phát triển toàn diện về các qquas trình nhận
thức trong đó đáng kể nhất là sự phát triển của tri giác, trí nhớ, chú ý, tư duy,
tưởng tượng
- Tri giác: Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào
chi tiết và mang tính không chủ định. Do đó các em phân biệt đối tượng còn
chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn. Những gì phù hợp với nhu
cầu của học sinh, những gì các em thường gặp trong cuộc sống, gần gũi với các
17
em, những gì được giáo viên chỉ dẫn và trực tiếp gây xúc cảm mạnh mẽ thì mới
được các em tri giác. Những cái trực quan, rực rỡ, sinh động được các em tri
giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực cho các em. Trình độ tri giác của các em
được phát triển nhờ vào những hành động có mục đích, có kế hoạch được gọi là
quan sát. Vì vậy việc sử dụng phong phú các biện pháp nâng cao chất lượng chữ
viết trong dạy học cũng góp phần giúp tính tổng thể của tri giác dần dần nhường
chỗ cho tri giác chính xác, tinh tế dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Chú ý: Ở học sinh Tiểu học, chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả
ngôn ngữ .
* Đặc điểm nhân cách
- Tính cách: Những nét tính cách của các em mới được hình thành, chưa
ổn định, có thể thay đổi dưới tác đông giáo dục. Trong tính cách của các em là
tính xung động hành vi (khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới tác động
của các kích thích mà không kịp suy nghĩ). Học sinh Tiểu học cả tin, tự tin vào
bản thân , thích bắt chước. Phần lớn học sinh Tiểu học có những nét tính cách
tốt như lòng vị tha, tính ham hiểu biết, trung thực,… Tuy nhiên, các em cũng rất
bướng bỉnh, thất thường. Có thể nói, học sinh Tiểu học là những nhân cách đang
hình thành và có nhiều khả năng phát triển, mặc dù sự phát triển đó “êm đềm”
và “phẳng lặng”, nhưng trong giai đoạn này, sự hình thành nhân cách của trẻ
diễn ra khá rõ rệt. Các em hồn nhiên trong các mối quan hệ với người lớn, thầy
cô, bạn bè, các em rất tin vào thầy cô, bạn bè, người thân, tin vào sách vở, tin
vào khả năng của bản thân. Niềm tin này còn cảm tính, chưa có lý trí soi sáng.
Người giáo viên cần tận dụng niềm tin này để giáo dục các em.
- Tình cảm: Tình cảm là một mặt rất quan trọn gtrong đời sống tâm lý nói
chung và nhân cách nói riêng. Đối với học sinh Tiểu học, tình cảm còn có vị trí
đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của trẻ. Tình
cảm, cảm xúc của học sinh Tiểu học thường là hướng tới những sự vật, hiện
tượng cụ thể, sinh động, gây ấn tượng mạnh. Ở học sinh Tiểu học, hệ thống tín
hiệu thứ nhất vẫn còn chiếm ưu thế hơn hệ thống tín hiệu thứ hai. Trong giai
đoạn này, trẻ rất ngây thơ, trong sáng, giàu cảm xúc, dễ xúc động, dễ vui, dễ
buồn, dễ rung cảm. Trạng thái tình cảm được bộc lộ khá rõ ràn qua ánh mắt, nét
mặt, cử chỉ, hành vi của các em. Tình cảm của học sinh Tiểu học đã có nội dung
phong phú và bền vững hơn so với lứa tuổi trước. Tình cảm trí tuệ đang dần
19
hình thành và phát triển. Các em dần biết chăm lo cho kết quả học tập, biết thể
hiện sự hài lòng hay không hài lòng với điểm số của mình. Tình cảm đạo đức và
tài này là chúng ta đã hình thành cho học sinh kỹ xảo chính tả, nghĩa là giúp học
sinh viết đúng chính tả một cách tự động hoá không cần trực tiếp nhớ tới quy
tắc chính tả. Học sinh nắm được các quy tắc, các mẹo luật chính tả, trên cơ sở đó
tiến hành luyện tập và từng bước đạt tới kỹ xảo. Nghĩa là giúp học sinh viết
đúng chính tả không cần đến sự tham gia của ý chí.
1.2.4.4. Những điều kiện về cơ sở vật chất:
* Ánh sáng phòng học, bảng lớp, bàn ghế của học sinh:
Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc viết chữ và sức khoẻ
của học sinh. Hiện nay hầu hết các trường Tiểu học trong nội thành đều đảm bảo
các yêu cầu cơ bản, nhất là đối với trường Tiểu học Đông Sơn – một trường đã
có nhiều thành tích về phong trào rèn chữ , giữ vở hiện nay. Ánh sáng phòng
học đảm bảo theo tiêu chuẩn học đường, có bảng chống loá, có dòng kẻ rõ ràng,
bàn ghế đúng kích cỡ tiêu chuẩn đối với học sinh tiểu học.
* Đồ dùng học tập của học sinh:
Từ loại bút và mực thích hợp đến cách chọn vở, chọn bảng và phấn viết
cũng được tôi lưu tâm đến. Hướng dẫn học sinh, phụ huynh tìm mua cho các em
những quyển vở có đường kẻ tin đều, rõ ràng và khi viết không bị nhoè mực.
Thực tế dạy viết hiện nay cho thấy sử dụng bảng con trong việc rèn chữ cho học
sinh, đặc biệt là học sinh lớp 1 vẫn là tối ưu nhất. Có nhiều học sinh được bố mẹ
mua cho bảng làm chất liệu mêca màu trắng, dùng bút dạ viết bảng. Dùng loại
bảng và bút này có nhiều hạn chế: bảng trơn, học sinh viết không chủ động, mực
ra đậm nhạt không đều, khi xoá dễ gây bẩn, mất vệ sinh. Hơn nữa, do bút to quá
cỡ tay cầm bút của học sinh khiến các em khó điều khiển ngòi bút khi viết chữ.
Cho nên trong buổi họp phụ huynh đầu năm, giáo viên cần đưa ra những
quyển vở, bút chì, bút mực để phụ huynh tham khảo. Riêng bảng con thì thống
nhất toàn lớp để tránh tình trạng của em này thì có ô to, bảng của em kia thì có ô
nhỏ sẽ gây khó khăn khi dạy Tập viết.
- Cây bút là công cụ để tạo ra chữ viết. Để viết chữ đẹp thì cây bút cũng
có vai trò vô cùng quan trọng. Để có được cây bút phù hợp và sử dụng hiệu quả
học tập viết:
1.2.5.1. Phương pháp kể chuyện nêu gương
Khi dạy tập viết cho học sinh, điều quan trọng là phải gây được hứng thú,
làm cho học sinh yêu thích rèn viết chữ đẹp từ đó các em say mê và quyết tâm
22
rèn chữ cho đẹp. Giáo viên có thể nêu những gương sáng về rèn chữ viết,cần
nêu ngay những gương người thật việc thật, ví dụ: Em A chữ viết đẹp nhất
trường, các em hãy quan sát chữ viết của bạn và học tập. Giáo viên có thể phô tô
các bài viết của học sinh đạt giải cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp quốc gia để làm
mẫu cho các em,đồng thời động viên các em nếu cố gắng, kiên trì rèn luyện thì
chữ viết của các em cũng đạt được như vậy thậm chí có thể đẹp hơn. Khi đã gây
được hứng thú cho học sinh, lúc đó các em rất thích rèn viết chữ đẹp. Cô giáo
lúc này sẽ cung cấp các bài tập để rèn kĩ năng viết.
1.2.5.2. Phương pháp đàm thoại gợi mở
Sử dụng trong giai đoạn đầu của tiết học để hướng dẫn học sinh phân tích
nhận xét cấu tạo của chữ cái, độ cao, độ rộng con chữ, nét giống nhau và khác
biệt giữa con chữ mới với con chữ đã học từ trước. Giáo viên đặt câu hỏi và định
hướng cho học sinh trả lời.
1.2.5.3. Phương pháp trực quan
Trong luyện viết cho học sinh thì đồ dùng trực quan có tác dụng không
nhỏ, nó hỗ trợ và là phương tiện giúp cho việc luyện viết của học sinh. Những
đồ dùng này nhằm mục đích là giúp học sinh khắc sâu những biểu tượng về chữ
viết, có ý thức viết đúng mẫu và tạo không khí sôi nổi, phấn chấn trong quá trình
dạy viết chữ theo hướng “Đổi mới phương pháp dạy học”. Đồ dùng trực quan có
thể sử dụng trong quá trình dạy bài mới, luyện tập hoặc củng cố bài học.
Sử dụng khi hình thành biểu tượng về chữ cho các em.Phương tiện trực
quan là chữ mẫu: Chữ mẫu in sẵn, chữ phóng to trên bảng, chữ trong vở tập
viết, hộp chữ mẫu, hoặc một bài viết đẹp, chữ của giáo viên khi sửa chấm bài...
dừng bút ở đường kẻ 6. Từ điểm dừng bút của nét 1, chuyển hướng bút viết nét
móc ngược phải, dừng bút ở đường kẻ ngang 2, (vừa nói, giáo viên vừa di
chuyển viên nam châm ở phía sau tờ bìa).
Giáo viên giảng tiếp: Cô lia bút lên khoảng giữa của thân chữ (trên đường
kẻ ngang thứ 3 một chút), viết nét lượn ngang mềm mại chia đôi con chữ.
1.2.5.4. Phương pháp luyện tập thực hành
Sử dụng để hình thành kĩ năng viết chữ cho học sinh.Đây là một phương
pháp cực kì quan trọng. Chữ viết, tập viết chữ có tính chất thực hành. Phải
thường xuyên nhắc nhở học sinh ở mọi lúc mọi nơi, không chỉ ở môn tập viết
mà còn ở tất cả các môn khác, môn nào cũng cần chữ viết để ghi nội dung bài.
24
Các bài tập cho học sinh luyện tập cần chú ý. Các chữ có nét giống nhau thì
cùng xếp vào một nhóm để rèn. Rèn chữ với số lượng ít nhưng lặp lại nhiều lần
với yêu cầu cao dần. Cho học sinh viết đi viết lại nhiều lần một bài để giáo viên
dễ dàng nhận ra lỗi sai
của học sinh đồng thời cũng dễ nhận xét sự tiến bộ của học sinh.Hướng
dẫn học sinh luyện tập phải tiến hành từ thấp nên cao, tăng dần độ khó để học
sinh dễ tiếp thu: viết đúng rồi viết nhanh viết đẹp. Việc luyện chữ phải được tiến
hành một cách đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà, phân môn tập viết cũng như các
môn khác, môn học khác.
Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần chú ý uốn nắn để các em
cầm bút đúng và ngồi đúng tư thế. Nơi ngồi viết cần phải đảm bảo đủ ánh sáng,
ghế ngồi viết phải phù hợp với chiều cao của học sinh
*Các hình thức luyện tập:
+ Tập viết chữ trên bảng lớp: Khi kiểm tra bài cũ, hoặc sau bước giải
thích cách viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp.
+ Tập viết chữ vào bảng con của học sinh: Trước khi tập viết giáo viên
cần chú ý nhắc nhở học sinh lau bảng từ trên xuống, cách sử dụng và bảo quản