Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng (LPG) ở Việt Nam - Tổng quan (part 2) - Pdf 35

Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng
(LPG) ở Việt Nam - Tổng quan (part 2)

Nghiên cứu xây dựng
phương pháp đánh giá sự cố
môi trường trong sử dụng
khí hóa lỏng (LPG) ở Việt
Nam - Tổng quan (part 2)
Bởi:
TS. Lý Ngọc Minh

Đánh giá SCMT
Khái niệm
Đánh giá sự cố môi trường (ĐSM) là kỹ thuật đánh giá một hệ thống có tác động có hại
thực tế hay tiềm tàng của các chất ô nhiễm lên sức khỏe của thực vật, động vật hay hệ
sinh thái. Các kỹ thuật đánh giá rủi ro dựa trên mô hình nhân quả, áp lực – đáp ứng, trong
đó chất ô nhiễm được vận chuyển từ nguồn theo một đường đi đến nơi nhận: Nguồn →
Đường đi → Nơi nhận như giới thiệu trong sơ đồ hình 1 [47].

Trình tự đánh giá rủi ro môi trường [47]

Phân loại
• Phân loại theo giai đoạn: ĐRM được tiến hành theo 2 giai đoạn:

1/11


Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng
(LPG) ở Việt Nam - Tổng quan (part 2)

• Đánh giá rủi ro sơ bộ: được thực hiện trên cơ sở điều kiện số liệu, thông tin

Ở mỗi cấp độ, các nhiệm vụ được thực hiện để cung cấp thông tin gồm: xác định mối
nguy hại, đánh giá phơi nhiễm, đánh giá liều–phản ứng, mô tả đặc tính rủi ro. Các thông
tin này được sử dụng để ra quyết định có cần phải tiếp tục thực hiện đánh giá cấp độ cao
hơn hay không?

2/11


Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng
(LPG) ở Việt Nam - Tổng quan (part 2)

Nguyên nhân gây sự cố môi trường
Có 3 nguyên nhân gây SCMT: SCMT do thiên nhiên gây ra, SCMT do con người gây
ra, SCMT do cả thiên nhiên và con người kết hợp gây ra [98].
Sự cố môi trường do thiên nhiên gây ra
Là các tai biến tự nhiên như: động đất, bão, sóng thần, cháy rừng...Thiên tai là SCMT
gây ra bởi quá trình tự nhiên, thường được coi là bất khả kháng, con người cần sống hoà
hợp với chúng. Việc lựa chọn phương án phòng chống thiên tai tập trung vào lựa chọn
cách sống và né tránh những ảnh hưởng không mong đợi.
Sự cố môi trường do con người gây ra
Là những hoạt động của con người như xả thải chất ô nhiễm hoặc sự cố kỹ thuật như
cháy, nổ nhà máy lọc dầu, vỡ ống dẫn khí, rò rỉ hoá chất nguy hại …
Sự cố môi trường do cả con người và thiên nhiên gây ra
Là hậu quả do các hoạt động của con người và quá trình tự nhiên như hiện tượng mưa
acid. Hiện tượng này có nguyên nhân là do con người đã thải ra các khí Cl2, SO2 …
phát tán lên bầu khí quyển và tạo ra mưa a xít HCl hay H2SO4 …
Phân biệt nguyên nhân gây ra SCMT có ý nghĩa quan trọng để xác định trách nhiệm
pháp lý đối với cá nhân hoặc tổ chức có liên quan.

Các giai đoạn của SCMT [35]

Các giai đoạn chiến lược ứng xử SCMT

Vai trò của đánh giá rủi ro môi trường
ĐGRRMT tạo cơ sở giúp các nhà quản lý môi trường cân bằng giữa trách nhiệm bảo vệ
con người và môi trường với sự phát triển kinh tế. Mục đích của đánh giá rủi ro là xác
định con người hay các yếu tố môi trường bị tác động. Các nhà quản lý môi trường có
nhiệm vụ bảo vệ con người cũng như hệ động, thực vật khỏi những tác động có hại. Tuy
nhiên, trong nhiều trường hợp, điều này được thực hiện với việc áp dụng các phương
pháp chưa triệt để và với chi phí đầu tư thấp. Bên cạnh đó, việc loại trừ triệt để các chất
gây ô nhiễm và tác động có hại có thể gây cản trở đối với quá trình sản xuất, kéo theo
sự giảm lượng hàng hóa cần thiết [76]. Vì thế cần thực hiện đánh giá SCMT để giúp các
nhà quản lý môi trường đưa ra các quyết định hợp lý nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và
loại trừ các tác động có hại gây ra đối với con người, môi trường và xã hội; đồng thời
đảm bảo mức sản xuất hợp lý. Vai trò của đánh giá rủi ro trong chu trình quản lý rủi ro
được giới thiệu trong hình 3

4/11


Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng
(LPG) ở Việt Nam - Tổng quan (part 2)

Chu trình đánh giá rủi ro môi trường

Lịch sử đánh giá rủi ro môi trường
Nghiên cứu về đánh giá SCMT trong sản xuất và đời sống được quan tâm nhiều trên
thế giới. ĐGRRMT đã và đang được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở Mỹ, Canađa và các
nước khối cộng đồng châu Âu. Phương pháp giải quyết vấn đề dựa vào việc xem xét
những rủi ro trở nên nổi bật trong công nghiệp hạt nhân và được tiến hành rộng rãi trong
công nghiệp không gian, là ngành có nhiều hệ thống phức tạp và cần thiết phải có độ

thiệu tổng quan về SCMT và phương pháp đánh gía SCMT [1]; PGS.TS Huỳnh Thị
Minh Hằng giới thiệu tổng quan về rủi ro và quy trình đánh giá rủi ro trong họat động
dầu khí [26]; GS Lê Văn Khoa giới thiệu tổng quan về tai biến môi trường và cách ứng
xử tai biến môi trường [35]; TS. Chế Đình Lý giới thiệu về phân tích hệ thống môi
trường và hướng dẫn đánh giá rủi ro môi trường [47], TS. Lê Thị Hồng Trân hướng dẫn
đánh giá rủi ro sinh thái và rủi ro sức khỏe [95]; TCT dầu khí Việt Nam ban hành các
văn bản hướng dẫn giám sát ATLĐ trong các họat động dầu khí [85], hướng dẫn quản lý
rủi ro và ứng cứu khẩn cấp trong các hoạt động dầu khí [86], hướng dẫn quản lý ATLĐ
và VSLĐ trong các họat động dầu khí [87] đề cập chủ yếu tới công tác hướng dẫn quản
lý an toàn trong chế biến dầu khí. Tuy nhiên, đánh giá sự cố được giới thiệu trong các
văn bản nói trên hầu như chỉ mang tính chất định tính. Một số báo cáo đánh giá RRMT
cho các dự án cụ thể đã được thực hiện như ĐGRRSB môi trường vùng biển ven bờ
thành phố Đà Nẵng được thực hiện bởi nhóm chuyên gia đa ngành với sự tham vấn của
các chuyên gia của chương trình hợp tác khu vực trong quản lý môi trường biển Đông
nhằm nâng cao năng lực của địa phương trong quản lý tài nguyên, môi trường vùng ven
bờ, tạo cơ sở để hoàn thiện chương trình quan trắc môi trường và các kế hoạch, quy định
về quản lý tài nguyên, môi trường liên quan và một số báo cáo khác [76]. Trong nền
kinh tế phát triển như Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu đánh giá về SCMT hiện có
chưa đáp ứng yêu cầu BVMT với phát triển kinh tế. Đã đến lúc, đánh giá SCMT cần
được nghiên cứu áp dụng rộng rãi hơn nữa nhằm sử dụng hiệu quả hơn các cơ sở dữ liệu
môi trường thu thập được trong những năm qua, hoàn thiện các chương trình quan trắc
môi trường trên cơ sở các thông tin quan trọng được xác định, tập trung vào những vấn
đề ưu tiên, có nguy cơ gây rủi ro cao, tạo cơ sở khoa học tin cậy cho các đề xuất quản lý
RRMT [76].

Quy trình chung trong đánh giá rủi ro môi trường
Cả ba loại HRA, EcoRA, IRA đều có chung một phương pháp luận đánh giá nhưng khác
nhau về chi tiết theo yêu cầu riêng của từng mục tiêu đánh giá. Các nước khác nhau có
những phương pháp và quy trình đánh giá khác nhau nhưng đều gồm những bước như
trong hình 1.4 [47]

Để thuận tiện cho công việc mô tả địa điểm, có thể tiến hành phân tích thành phần cấu
trúc của địa điểm được đánh giá và lập ra khung làm việc như bảng 1.1

7/11


Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng
(LPG) ở Việt Nam - Tổng quan (part 2)

Ma trận địa điểm – nguy hại [47]
Thành phần
Mối nguy hại
Cháy

Nổ Hóa chất Vật rơi

Thành phần 1
Thành phần 2
…………….
Thành phần n
Đánh giá phơi nhiễm
Đánh giá phơi nhiễm cung cấp thông tin về lượng phát thải ra môi trường, đường truyền
và các tuyến tiếp xúc của tác nhân phơi nhiễm để thâm nhập vào vật tiếp nhận. Đánh
giá phơi nhiễm là quá trình đánh giá định lượng hay định tính sự thâm nhập của một
tác nhân nguy hại vào vật nhận (con người hoặc môi trường) thông qua sự tiếp xúc với
môi giới môi trường (nước, không khí, đất). Sự đánh giá được thực hiện thông qua các
thông số đầu vào về cường độ, tính liên tục, độ dài thời gian tiếp xúc và tuyến tiếp xúc.
Đánh giá phơi nhiễm bao gồm mô tả tính chất và quy mô của các quần thể khác nhau bị
phơi nhiễm đối với một hóa chất, độ lớn và thời gian phơi nhiễm của quần thể đó. Các
bước đánh giá phơi nhiễm gồm mô tả đặc trưng phơi nhiễm; xác định đường truyền phơi

nhất để tính toán sẽ hiệu quả hơn.
• Tính toán rủi ro từ chất gây ung thư: R = CDI x SF (1.3).
Trong đó:
• R: Rủi ro từ chất gây ung thư
• CDI: Liều lượng hóa chất vào cơ thể liên tục mỗi ngày (mg/kg.ngày).
• SF: Hệ số dốc đường cong liều lượng – phản ứng (kg.ngày/mg).
Đặc tính rủi ro ung thư cần phải tính toán cho riêng từng hóa chất phù hợp với tuyến và
con đường phơi nhiễm. Việc tính toán lặp lại cho mỗi hoàn cảnh và mỗi cộng đồng phơi
nhiễm. Mỗi tuyến phơi nhiễm có giá trị SF riêng. Để tính tổng rủi ro từ các chất gây ung
thư ta cộng dồn tất cả các rủi ro ung thư của mỗi chất ứng với mỗi tuyến phơi nhiễm.
• Tính toán rủi ro từ chất không gây ung thư:

(1.4)

9/11


Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng
(LPG) ở Việt Nam - Tổng quan (part 2)

Trong đó:
• CDI: Liều lượng hóa chất vào cơ thể liên tục mỗi ngày (mg/(kg.ngày)).
• RfD: Liều lượng tham chiếu (mg/(kg.ngày))
• HI: Chỉ số độc hại. Nếu HI<1: không có ảnh hưởng; nếu HI>1: chất không gây
ung thư đang xét có khả năng ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe khi phơi nhiễm.
Chỉ số độc được tính riêng cho từng hóa chất. Trong trường hợp phơi nhiễm với nhiều
chất thì chỉ số độc của tuyến phơi nhiễm đó bằng tổng các chỉ số độc của mỗi chất.
Nhưng nếu các chất đó không gây ra cùng một loại tác động thì việc xét chỉ số độc tổng
cộng là không có tác dụng.
Mô tả các rủi ro bán định lượng (rủi ro yếu, trung bình hoặc cao)

nhiễm như là sự chia cắt, chuyển đổi, suy thoái, nhiệt độ, pH, chất hữu cơ…
• Sự không chắc chắn trong sự ngoại suy dữ liệu nghiên cứu giữa các loài hoặc
trong cùng loài.
• Các lỗ hổng thông tin lớn về cơ chế và các tiến trình tác động đến các chức
năng và cơ quan trong cơ thể, chúng tương tác như thế nào và chúng có thể bị
tác động bởi ô nhiễm như thế nào?
• Sự hiểu biết của chúng ta về các tương tác giữa các cá thể người bị tác động,
các thực vật, động vật bị tác động trong một quần thể, giữa các quần thể trong
một quần xã và giữa các quần xã trong một khu vực và các hệ sinh thái còn giới
hạn.
Điều tốt nhất là ta có thể xác định các thông tin cơ bản về các rủi ro gây ra tại một địa
điểm là sự hiện diện chất ô nhiễm trong khu vực và khả năng tác động, kiểu tác động
của các chất ô nhiễm đến môi trường và con người. Với cách thu thập thông tin, khả
năng đo đạc, quan trắc; vấn đề xác định các chất ô nhiễm được tăng cường và cải thiện
hay khả năng dự đoán của chúng ta được nâng cao cùng với các biện pháp quản lý thích
hợp thì mức độ nguy hại của rủi ro có thể giảm xuống.

11/11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status