1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN đÌNH HƯNG
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG ĐƯỜNG MỔ CỔ TRƯỚC BÊN
ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
CHUYÊN NGÀNH NGOẠI KHOA
MÃ SỐ: 60.72.07
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN CÔNG TÔ
Hà Nội - 2008
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Tiến sỹ Nguyễn Công Tô, người thầy đã
trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Giáo sư Dương Chạm Uyên, người thầy
ĐẶT VẤN đÊ
1
Chương 1. Tổng quan tài liệu
3
1.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
3
1.2. Giải phẫu vùng cổ trước áp dụng trong phẫu thuật
5
1.3. Biểu hiện lâm sàng
12
1.4. Chẩn đoán hình ảnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ
18
1.5. Phẫu thuật đĩa đệm cột sống cổ
21
1.6. Biến chứng phẫu thuật TVĐĐ cột sống cổ
theo đường mổ cổ trước bên.
3.4. Biến chứng trong và sau mổ
55
CHƯƠNG 4:
BÀN LUẬN
57
4.1. Một số đặc điểm dịch tễ học nhóm nghiên cứu
57
4.2. Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ
theo đường mổ cổ trước bên
62
4.3. Kết quả phẫu thuật
66
4.4. Biến chứng trong và sau mổ
70
KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
RLVđ
Rối loạn vận động
RR
Tỷ lệ hồi phục, (Recovery Rate)
TVĐĐ
Thoát vị đĩa đệm
VAS
Thang điểm đánh giá mức độ đau (Visual Analog
Scale)
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là nguyên nhân thường gặp gây đau cột
sống cổ với biểu hiện lâm sàng bởi hội chứng chèn ép rễ: đau vùng cổ, vai, hai
tay theo vùng chi phối của rễ thần kinh bị chèn ép; hội chứng chèn ép tủy: liệt
cứng, rối loạn cơ tròn [10], [14], [21], [60]. Nếu không được xử trí đúng, kịp
thời tổn thương chuyển sang giai đoạn không hồi phục như liệt cứng tứ chi, rối
loạn cơ tròn, bệnh nhân sẽ để lại di chứng sau điều trị [21], [26], [61]. Theo số
liệu nghiên cứu của Radhakrishnan K. (1994) thực hiện tại Roschester,
Mỹ hàng năm số bệnh nhân có biểu hiện hội chứng chèn ép rễ, tủy cổ trên
hiện liệt không hồi phục [5], [6].
Những năm gần đây, khoa Phẫu thuật thần kinh bệnh viện Xanh Pôn đã
được trang bị đầy đủ phương tiện để phẫu thuật cột sống cổ bằng đường mổ cổ
trước bên như màn huỳnh quang tăng sáng, kính vi phẫu thuật, dao điện lưỡng
cực, khoan mài chuyên dụng và đã phẫu thuật cho một số trường hợp thoát vị
đĩa đệm cột sống cổ. để đánh giá hiệu quả phẫu thuật này cũng như những ưu,
nhược điểm của nó chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu áp dụng đường
mổ cổ trước bên trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ” với hai mục tiêu
sau:
1. Mô tả kỹ thuật mổ thoát vị đĩa đệm cột sống cổ bằng đường mổ cổ
trước bên.
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ theo
đường mổ cổ trước bên tại bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội từ 01/200609/2008.
8
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam.
1.1.1. Tóm tắt lịch sử nghiên cứu trên thế giới.
Trước thể kỷ XX bệnh lý cột sống cổ ít được nghiên cứu, nhất là bệnh lý đĩa
đệm. Năm 1927, Gutzeit là một tác giả người đức lần đầu tiên mô tả bệnh lý thoát
vị đĩa đệm (TVĐĐ) cột sống cổ nhân một trường hợp. Năm
1928 Stookey đã trình bày 7 trường hợp hội chứng chèn ép (HCCE) tủy do TVĐĐ
cột sống cổ. Semmes và Murphy (1940), Spurling và Scoville, Michelsen và
Mixter (1944), Lièvre (1949) đều nghiên cứu tổn thương rễ do chèn ép từ đĩa đệm
cột sống cổ. Caron (1952), Mair và Druckman (1953), Clarke và Robinson (1956)
nghiên cứu HCCE tủy cổ và nêu lên các biến đổi mạch máu, thoái hóa đĩa đệm gặp
trong TVĐĐ [14], [21], [26], [48], [60]. Gần đây bệnh lý TVĐĐ được nghiên cứu
[51], [61], [64], [73], [75].
Các phương pháp điều trị TVĐĐ không mổ như dùng thuốc kháng viêm,
giảm đau, giãn cơ, cố định cột sống cổ bằng nẹp cổ mềm vẫn được áp dụng từ
trước đến nay. Các phương pháp khác như điều trị laser, sóng cao tần cũng được áp
dụng nhưng nó chỉ thực sự hiệu quả trong trường hợp phồng đĩa đệm. Phẫu thuật
được chỉ định khi điều trị bảo tồn thất bại hay xuất hiện dấu hiệu lâm sàng nặng lên
[7], [21], [22], [26], [52].
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam.
Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ chỉ thực sự được chú ý chẩn đoán và điều trị
vào những năm 90 của thế kỷ trước. Chẩn đoán được nhờ chụp ống tủy cản quang
và sau đó là chụp CLVT (1992) và CHT (1996). Năm 1999 Trần Trung và Hoàng
đức Kiệt đã công bố 90 trường hợp TVĐĐ cột sống cổ bằng CHT [11]. Năm 2002
Nguyễn Thị Tâm nghiên cứu hình ảnh CHT của 115 trường
hợp TVĐĐ cột sống cổ [9]. Năm 2005 Nguyễn Quốc Dũng, đặng Trần đức nghiên
cứu đặc điểm hình ảnh CHT trên bệnh nhân TVĐĐ cột sống cổ [2]. Các tác giả đều
có nhận xét rằng chụp CHT là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán TVĐĐ cột sống cổ.
điều trị phẫu thuật TVĐĐ cột sống cổ đã được thực hiện từ năm 1996 tại
bệnh viện Việt đức, bệnh viện Chợ Rẫy (thành phố Hồ Chí Minh) và Quân y viện
103. Tháng 3/1999 tại hội nghị Phẫu thuật thần kinh Việt-Úc đã có 64 trường hợp
được công bố [12], [13]. Năm 2000, Nguyễn đức Hiệp nghiên cứu 38 trường hợp
TVĐĐ cột sống cổ được phẫu thuật tại bệnh viện Việt đức [5]. Năm 2007, Nguyễn
10
đức Liên nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật
TVĐĐ tại bệnh viện Việt đức [6].
Khi phẫu thuật theo đường cổ trước bên, ngoài việc giải phóng chèn ép cần
phải phục hồi độ vững cột sống. Hàn liên thân đốt là biện pháp thường được sử
dụng, trong đó xương mào chậu tự thân là vật liệu được các tác giả sử dụng nhiều
hai cơ ức-đòn-chũm và tách ra làm hai lá bọc lấy cơ này.
+ Các lớp dưới mạc: Gồm hai nhóm cơ trên móng và cơ dưới móng.
+ Các cơ trên móng: Có cơ hai bụng, cơ trâm móng, cơ hàm móng, cơ
cằm móng.
+ Các cơ dưới móng: Lớp nông có hai cơ xếp thành hai lớp, cơ ức móng ở
trong, cơ vai móng ở ngoài. Lớp sâu có hai cơ, cơ ức giáp và cơ giáp móng.
12
Hình 1.2: các cơ vùng cổ trước trên lớp cắt ngang
(Theo Netter F.H., Atlas giải phẫu người, Nhà xuất bản y học – 2004)
- Xương móng, cơ vai móng và cơ hai bụng tạo nên những mốc phân chia tam giác
cổ trước thành các vùng nhỏ hơn, cho phép định khu chính xác hơn các thành phần
giải phẫu.
+ Tam giác cảnh: Giới hạn trên là bụng sau cơ hai bụng, ở dưới là bụng trên cơ vai
móng, ở sau là bờ trước cơ ức-đòn-chũm. Trong tam giác cảnh có đoạn
cuối của động mạch cảnh chung, đoạn đầu của động mạch cảnh trong và động
mạch cảnh ngoài, tĩnh mạch cảnh trong, thần kinh X, thần kinh XII và một số
ngành bên của các động mạch, tĩnh mạch trên.
+ Tam giác Farabeuf giới hạn bởi tĩnh mạch cảnh trong ở sau ngoài, thần kinh XII
và bụng sau cơ hai bụng ở trước trên, tĩnh mạch mặt ở phần trước dưới. Trong tam
giác Farabeuf có đoạn cuối của động mạch cảnh chung hơi phình ra tạo thành
xoang cảnh, động mạch cảnh trong đi ở trước trong tĩnh mạch cảnh trong, động
mạch cảnh ngoài và các nhánh của nó, thần kinh X ở trong rãnh nhị diện động tĩnh
mạch cảnh trong, thần kinh dưới lưỡi và rễ trên của quai thần kinh cổ.
+ Tam giác cơ được giới hạn bởi bờ trước cơ ức-đòn-chũm ở dưới ngoài, bụng trên
cơ vai móng ở trên ngoài, đường giữa trước của cổ ở trong. Trong tam giác này có
các cơ dưới móng và các tạng như thanh khí quản, thực quản, tuyến giác, cận giáp
và các mạch, thần kinh của nó.
mà không thể nhìn thấy trực tiếp trong mổ. Hai nguyên nhân chính dễ dẫn đến biến
chứng khi mổ đường cổ trước bên là: thứ nhất, cấu trúc giải phẫu ở phần bên ống
sống nằm sau đĩa đệm bị che khuất khỏi tầm nhìn của phẫu thuật viên bởi tổ chức
phần mềm và tổ chức xương xung quanh nó, thứ hai là mối liên quan giữa xương
và tổ chức mạch máu, thần kinh thay đổi sau khi cắt bỏ đĩa đệm và khi kéo giãn
14
khoang đĩa đệm. để làm sáng tỏ vấn đề này tác giả Pait T.G. (1996) đã nghiên cứu
trên 6 xác người có độ tuổi từ 6186, đo các kích thước mặt trước thân đốt sống, cấu trúc xương phần bên của thân
đốt sống bao quanh mạch máu, thần kinh bị đĩa đệm che lấp và các thay đổi giải
phẫu liên quan khi cắt bỏ đĩa đệm và kéo giãn khe đĩa đệm [54].
Cơ dài cổ có hai cơ chạy dọc mặt trước thân đốt sống từ C1 xuống T3 và
bám vào mặt trước lồi củ của mấu ngang thân đốt sống. Khoảng cách giữa bờ trong
của hai cơ này tăng dần từ trên xuống dưới. Ở C2-C3 là 4,5mm, C3C4 là 6,7mm, C5-C6 là 13,7mm, C6-C7 là 23,5mm. đây là mốc quan trọng ở mặt
trước cột sống giúp cho định vị chính xác điểm giữa trước và giới hạn bờ bên của
thân đốt sống. để an toàn trong mổ, có thể tách từ bờ trong của hai cơ này dưới
màng xương ra đến điểm bắt đầu của mỏm sườn là đủ trong hầu hết các trường
hợp. Trong mổ bệnh lý khối u, nếu cần bộc lộ rộng hơn nữa, cơ dài cổ có thể cắt
bỏ.
Mỏm sườn (costal process) đi từ mặt bên thân đốt sống ra lồi củ trước, là
ranh giới trước của lỗ ghép, nằm trước động mạch đốt sống. Mỏm sườn hẹp nhất ở
C2-C3 (11,3mm) và rộng nhất ở C6-C7 (24,8mm). Chiều cao của nó thấp nhất ở
C6-C7 (7,3mm) và cao nhất ở C4-C5 & C5-C6 (10,8mm). Sau khi bộc lộ cơ dài cổ,
phần xương còn lại bảo vệ động mạch đốt sống rất mỏng, động mạch đốt sống ở
ngay dưới nó. để bộc lộ động mạch đốt sống, có thể cắt bỏ từng phần mỏm sườn
bằng khoan mài hay kìm gặm xương nhỏ. đây là mốc quan trọng để bộc lộ động
mạch đốt sống.
16
đĩa đệm từ 17,8mm ở C2-C3 tới 20,8mm ở C6-C7. Dựa vào kích thước đĩa đệm,
khoảng cách kéo giãn khoang đĩa đệm để xác định kích thước vật liệu hàn liên thân
đốt. Khi kéo giãn liên thân đốt, chiều cao đĩa đệm ngắn nhất ở C2-C3 và C6-C7
(8,5mm). Trong trường hợp ghép xương, mảnh ghép có độ dày 10mm phù hợp hầu
hết các trường hợp bởi có sự mất dần chiều cao mảnh ghép trong quá trình hàn
xương. Khoảng cách giữa bờ sau mảnh ghép tới màng tủy cứng nên duy trì từ 02
đến 05 mm [54].
1.3. Biểu hiện lâm sàng.
1.3.1. đau cột sống cổ.
đau cột sống cổ là triệu chứng rất thường gặp và không đặc hiệu, nó có thể
gặp do nhiều nguyên nhân khác nhau ở nhiều bệnh lý khác nhau. đau có thể xuất
phát từ nhóm cơ sau bên cột sống cổ, với hướng lan lên vùng chẩm hay lan xuống
vai và quanh xương bả vai. Bệnh nhân thường có biểu hiện co cứng cơ và kèm theo
đau đầu [6], [9], [10],[14], [60]. đau vùng cổ trước dọc theo cơ ức đòn chũm và
đau tăng lên khi xoay đầu sang bên đối diện thường do co cơ. đau vùng sau cột
sống cổ và tăng lên khi ngửa cổ, đặc biệt là khi quay đầu sang một bên có thể
nguyên nhân do TVĐĐ cột sống cổ. đau dữ dội vùng chẩm cổ lan ra sau tai và
vùng cổ trên kèm theo hạn chế quay cổ thường do tổn thương bệnh lý cột sống cổ
cao [26].
1.3.2. Hội chứng chèn ép rễ tủy cổ.
Triệu chứng của HCCE rễ tủy cổ có đặc trưng thể hiện ở vùng da, cơ chi trên
chi phối bởi các rễ tủy cổ. Bệnh nhân mô tả cơn đau buốt và bó thắt hay có cảm
giác bỏng buốt. Cơn đau điển hình là cơn đau dữ dội xuất phát từ cổ lan xuống tay
và bệnh nhân phải tìm cho mình một tư thế giảm đau. Tư thế giảm đau là để cẳng,
bàn tay lên đầu (dấu hiệu dạng vai) và nghiêng đầu về bên đối diện. đau thường
tăng lên khi bệnh nhân ngửa đầu và quay đầu về bên đau (nghiệm pháp Spurling).
Nghiệm pháp này đã giúp phân biệt với
bệnh lý đau khác xuất phát từ cơ cột sống cổ hay từ vai đau lan lên cổ. đau vai, cổ
18
Rễ thần kinh cổ bảy hay bị tổn thương nhất với biểu hiện đau lan xuống mặt
sau vai, xương bả vai và lan dọc theo cơ tam đầu tới mặt sau cẳng tay, mu bàn tay
và mu ngón tay giữa. Rối loạn vận động (RLVđ) thể hiện rõ nét nhất ở cơ tam đầu,
cơ gấp cổ tay và cơ duỗi các ngón tay. Các cơ gian cốt mu tay, cơ duỗi chung các
ngón tay, duỗi riêng ngón cái, duỗi cổ tay trụ cũng bị yếu hay liệt. Phản xạ gân
xương cơ tam đầu thường giảm hay mất.
Rễ thần kinh cổ tám tổn thương thường biểu hiện bằng đau lan xuống vùng
giữa trước cánh tay, cẳng tay, giữa bàn tay rồi xuống hai ngón bên trụ. RLCG
thường thấy ở mu và lòng hai ngón tay bờ trụ và có thể lan lên cẳng tay. Bệnh nhân
thường phàn nàn khó khăn khi thực hiện các động tác của bàn tay cho công viêc
hàng ngày. Cần phân biệt tổn thương rễ thần kinh cổ tám và tổn thương dây thần
kinh trụ. Chức năng cơ gấp sâu ngón nhẫn, ngón giữa và cơ gấp ngón cái có thể bị
tổn thương trong tổn thương rễ thần kinh cổ tám nhưng lại không bị ảnh hưởng khi
tổn thương thần kinh trụ [60].
Khi gặp bệnh nhân có HCCE rễ tủy cổ cần phải phân biệt với: hội chứng
thần kinh ngoại biên, bệnh lý khớp vai, bệnh lý đám rối thần kinh cánh tay, herpes,
áp xe ngoài màng cứng, u trong hay ngoài ống tủy, thiếu máu cơ tim, bệnh lý lồng
ngực.
1.3.3. Hội chứng chèn ép tủy cổ.
HCCE tủy cổ là nguyên nhân thường gặp nhất gây liệt cứng ở người lớn.
Biểu hiện lâm sàng rất đa dạng tùy thuộc tầng và mức độ thương tổn giải phẫu.
Crandall và Batzdorf mô tả 5 nhóm lâm sàng của HCCE tủy cổ [24]:
+ Hội chứng tổn thương tủy cắt ngang: Các bó vỏ tủy, bó tủy đồi thị và dải
tủy sau bị tổn thương và thường là thương tổn nặng với thời gian kéo dài.
+ Hội chứng tổn thương vận động: Bó vỏ tủy và sừng trước bị tổn thương
với biểu hiện lâm sàng là liệt cứng.
+ Hội chứng tổn thương tủy trung tâm: Tổn thương cả vận động và cảm giác
tay thường gặp và hay bị bỏ quên do nghĩ rằng đó là bệnh lý thần kinh ngoại vi.
đối với HCCE tủy cần chẩn đoán phân biệt với: bệnh lý đa rễ thần kinh
ngoại vi, bệnh lý thần kinh vận động, xơ cứng rải rác, bệnh lý mạch máu não,
rỗng tủy.
Biểu hiện HCCE tủy cổ rất đa dạng và nhiều mức độ khác nhau từ bệnh
nhân này sang bệnh nhân khác. để đánh giá mức độ tổn thương ảnh hưởng tới các
chức năng thần kinh, Nurick đã đưa ra bảng phân loại gồm 6 mức độ [26]. Bảng
20
1.1. Phân loại Nurick.
độ
HCCE rễ
HCCE tủy
đi lại
Việc làm
0
1
2
3
4
5
Có
hiệu quả điều trị [26].
Bảng 1.2. Thang điểm JOA
Điểm
0
1
2
3
4
Vận động tay
Liưt hoàn
Không: ăn,
Khó khăn ăn,
Yếu như cánh,
Bình
Vận động
toàn
Không thể
chân
Cảm giác thân
mình
Chức năng
bàng quang
Giảm CG,
Giảm như
đau dữ dội CG, đau
nhĐ
Giảm CG,
Giảm như
đau dữ dội CG, đau
nhĐ
Bí tiểu
thang với tay
vịn
thường
CG bình
thường, không
đau
CG bình
thường, không
thân đốt sống C4. Khi khoảng cách này từ 6 mm trở lên là bệnh nhân có độ
ưỡn bình thường [58].
để đánh giá sự hàn xương sau mổ có thể dựa trên phim X quang cột
sống cổ nghiêng ở hai tư thế gấp cổ và ngửa cổ tối đa hoặc trên hình ảnh
CLVT [58]. Mức độ liền xương được chia làm 3 mức độ:
+ độ 1 không hàn xương thể hiện sự tiêu xương xung quanh mảnh ghép
(hình sáng xung quanh mảnh ghép), mảnh ghép di lệch, trên phim cột sống cổ
nghiêng gấp và ngửa cổ tối đa thấy có sự di lệch, không thấy bè xương tân tạo
trên hình ảnh X quang hay CLVT.
+ độ 2 không thấy bằng chứng hàn xương rõ ràng và cũng không thấy
bằng chứng tiêu xương nhưng không có di lệch mảnh ghép trên phim X quang
cột sống cổ nghiêng gấp và ngửa cổ tối đa.
22
+ độ 3: có bằng chứng rõ dàng sự hàn xương và không có di lệch mảnh
ghép trên phim X quang cột sống cổ nghiêng gấp và ngửa cổ tối đa.
1.4.2. Hình ảnh cắt lớp vi tính cột sống cổ.
Là phương pháp chẩn đoán hình ảnh có giá trị, nó bổ xung thêm nhiều
thông tin quý mà trên X quang thường quy, CHT không thấy. CLVT cho thấy
rõ cấu trúc xương cột sống và liên quan của nó với ống sống, lỗ ghép. Trong
bệnh lý hẹp ống sống, nó cho phép phân biệt nguyên nhân gây hẹp do chồi
xương, phì đại mấu khớp hay nguyên nhân từ dây chằng phía sau. Hình ảnh
thu được sau chụp CLVT là những lớp cắt ngang, dựa trên các lớp cắt này có
thể tái tạo hình ảnh 2 chiều hay 3 chiều. Chất lượng hình ảnh phụ thuộc nhiều
yếu tố trong đó có độ dày lớp cắt, nếu cắt càng mỏng sẽ cho hình ảnh đẹp hơn.
Với sự ra đời của máy chụp CLVT xoắn ốc đã hạn chế được lượng tia phát và
cho hình ảnh tốt hơn nhiều.
Chụp cắt lớp vi tính cột sống cổ sau mổ cho phép đánh giá kết quả giải
Chụp cộng hưởng từ cột sống cổ kiểm tra sau mổ cho phép đánh giá
hiệu quả của phẫu thuật lấy đĩa đệm và nhân thóat vị giải phóng chèn ép.
1.5. Phẫu thuật thoát vị đĩa đĩa đệm cột sống cổ.
điều trị ngoại khoa thoát vị đĩa đệm cột sống cổ nhằm mục đích giải
phóng chèn ép rễ, tủy cổ và phục hồi độ vững cột sống bằng các đường mổ
phía trước và phía sau. Mỗi đường mổ có những ưu, nhược điểm và chỉ định
riêng. Trong một số ít trường hợp thoát vị đĩa đệm kèm theo hẹp ống sống
nặng có thể phải phối hợp cả hai đường mổ [61], [73].
1.5.1. Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm theo đường mổ cổ trước bên.
Năm 1892 Chipault lần đầu tiên thực hiện đường mổ phía trước để
phẫu thuật cột sống cổ nhưng sau đó nó đã bị lãng quên [46]. Năm 1955
đường mổ này được mô tả chi tiết bởi Robinson và Smith áp dụng cho 8
trường hợp. đường mổ này là lý tưởng để đi vào phía trước thân đốt sống C3T1, đi trực tiếp vào thân đốt sống [63]. Chỉ định đường mổ này khi có các
thương tổn phía trước chèn vào tuỷ cổ, đặc biệt là TVĐĐ hoặc hẹp ống sống
do TVĐĐ, lấy đĩa đệm, hàn liên thân đốt. đường mổ này hiện được nhiều tác
giả áp dụng và có nhiều kỹ thuật thay đổi.
Phương pháp Robinson sau khi bộc lộ vào mặt trước thân đốt sống,
dùng dao mổ cắt dây chằng dọc trước, dùng thìa nạo xương và kìm gặm xương
24
lấy bỏ đĩa đệm, chỉ giữ lại mỏ xương phía sau của thân đốt sống để giữ không
cho mảnh xương ghép tụt ra sau. đĩa đệm và một phần xương được lấy bỏ cho
tới lớp xương xốp của 2 thân đốt sống liền kề để mặt xương xốp của mảnh
ghép tiếp xúc với phần xốp của thân đốt sống. Hàn liên thân đốt bằng xương
mào chậu tự thân. Mảnh xương ghép lấy từ mào chậu sao cho có 3 mặt là vỏ
xương để bảo đảm độ vững chắc [63].
Phương pháp Cloward bằng cách sử dụng dụng cụ riêng, vừa có tác
hóa dây chằng dọc sau làm hẹp ống sống hay có hẹp ống sống do các nguyên
nhân phía sau, một đường mổ thường không đủ giải phóng chèn ép, phối hợp
hai đường mổ phía trước và phía sau là cần thiết. đối với đường mổ phía trước,
kỹ thuật thực hiện có thể là cắt bỏ thân đốt sống hay chỉ đơn thuần là lấy đĩa
đệm, nhân thoát vị để giải phóng chèn ép. đối với đường mổ phía sau thường
thực hiện kỹ thuật tạo hình ống sống hay cắt cung sau giải phóng chèn
ép.
Phẫu thuật phối hợp hai đường mổ cần thiết trong một số trường hợp
nhưng thực hiện đường mổ nào trước là điều cần phải cân nhắc. Trong trường
hợp cột sống cổ không mất vững, còn giữ được đường cong sinh lý, phẫu thuật
theo đường cổ trước hay cổ sau trước phụ thuộc vào nguyên nhân chính gây
chèn ép. Nếu nguyên nhân chính gây chèn ép ở phía trước, phẫu thuật đường
cổ trước được thực hiện trước. Nếu nguyên nhân chính gây chèn ép ở phía sau,
phẫu thuật đường cổ sau được thực hiện trước [26], [61], [73].
Trong trường hợp cột sống cổ thoái hóa nặng gây gù cột sống và có hẹp ống
sống nặng do nguyên nhân phía trước và cả phía sau, phẫu thuật theo đường cổ
trước có thể gây liệt đột ngột khi nắm chỉnh tái tạo đường cong sinh lý, phẫu
thuật theo đường cổ sau có thể cân nhắc thực hiện trước. Trong trường hợp
này chống chỉ định mổ cắt cung sau, nên kỹ thuật tạo hình ống sống được ưu
tiên thực hiện [26], [61], [72]. Nếu cột sống mất vững kèm theo hẹp ống sống
có nguyên nhân chính ở phía trước có thể phẫu thuật đường cổ trước trước vừa
giải phóng chèn ép, vừa hàn xương liên thân đốt và theo dõi sau mổ, nếu triệu
chứng lâm sàng cải thiện không nhiều có thể phẫu thuật tiếp theo đường cổ sau
[26], [51], [67].
1.6. Biến chứng phẫu thuật TVĐĐ cột sống cổ theo đường mổ cổ trước
bên.
1.6.1. Biến chứng trong mổ.
Biến chứng trong mổ hay gặp ở bệnh nhân béo, cổ ngắn, ngực dầy và
bệnh nhân có mổ cũ theo đường mổ này.