ĐẦU tư nước NGOÀI với PHÁT TRIỂN cơ sở hạ TẦNG tại VIỆT NAM - Pdf 35

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VỚI PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI
VIỆT NAM
(Bộ Giao thông Vận tải)

Kết cấu hạ tầng giao thông luôn được Chính phủ Việt Nam dành ưu tiên
quan tâm đầu tư với phương châm cơ sở hạ tầng giao thông phát triển đi trước
một bước với tốc độ nhanh, bền vững tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước.
Để thực hiện mục tiêu nước ta cơ bản đạt được quy mô và trình độ của
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Bộ Giao thông vận tải đã
xây dựng mục tiêu phát triển hạ tầng giao thông “bảo đảm kết nối các trung tâm
kinh tế lớn với nhau và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giao
thông đồng bộ, năng lực vận tải được nâng cao, giao thông được thông suốt, an
toàn”. Bộ xác định, huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực của xã hội, kể cả các nhà
đầu tư nước ngoài vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.
1) Kết quả phát triển CSHT giao thông trong thời gian qua
Trong thời gian qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam
phát triển theo chiều hướng khá tích cực, mở rộng về quy mô, nâng cao về chất
lượng. Các tuyến giao thông đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt chính yếu
đã được đầu tư nâng cấp kết hợp tăng cường công tác quản lý, bảo trì, nâng cao
đáng kể năng lực thông qua. Hệ thống cảng biển và cảng hàng không từng bước
được mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới đáp ứng tốc độ tăng trưởng vận tải bình
quân tăng trên 10%/năm. Nhiều công trình quan trọng cấp thiết phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước như: Đường bộ cao tốc tại các vùng kinh tế trọng
điểm, trục Bắc Nam, đường vành đai đô thị, cảng hàng không quốc tế, cảng biển
lớn đã và đang được triển khai xây dựng. Giao thông đô thị từng bước được mở
mang cùng với việc phát triển vận tải hành khách công cộng. Hệ thống giao
thông địa phương cũng đã được các tỉnh, thành phố quan tâm đầu tư, đáp ứng tốt
hơn nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Cụ thể trong từng lĩnh vực như sau:
a) Lĩnh vực hàng hải:

Cái Lân, nâng cấp tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai.
e) Lĩnh vực đường thủy nội địa:
Đã hoàn thành nâng cấp 2 tuyến đường thuỷ phía Nam TP. HCM – Cà
Mau, TP HCM – Kiên Lương, vận tải thủy phục vụ thủy điện Sơn La, tuyến vận
tải thủy Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên; các tuyến sông chính yếu
khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng cũng từng bước
được cải tạo, tăng cường quản lý bảo trì đáp ứng tốt hơn nhu cầu chạy tàu…
Nhìn chung, vốn đầu tư vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trong
thời gian vừa qua, chủ yếu từ nguồn vốn ODA, Ngân sách Nhà nước, trái phiếu
72


Chính phủ. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đầu tư vào hạ tầng giao
thông của Việt Nam còn rất hạn chế, chưa đồng đều và chủ yếu tập trung vào
lĩnh vực xây dựng và khai thác cảng biển. Hiện tại ở Việt Nam đã có 9 dự án
liên doanh với nước ngoài đầu tư xây dựng và vận hành cảng biển với tổng vốn
đầu tư khoảng 1,7 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 50%.
2) Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trong thời gian tới
Chính phủ Việt Nam đã xác định xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng
bộ là 1 trong 3 khâu đột phá chiến lược giai đoạn 2010-2020.
Nghị Quyết số 16/NQ của Chính phủ về xây dựng hệ thống kết cấu hạ
tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại vào năm 2020 đã chỉ rõ “Định hướng phát triển hạ tầng giao thông” như
sau:
Về đường bộ, ưu tiên đầu tư nâng cấp và mở rộng Quốc lộ 1A, hoàn
thành phần lớn vào năm 2015 và hoàn thành toàn tuyến vào năm 2020. Đầu tư
nối thông tuyến đường Hồ Chí Minh và nâng cấp đoạn qua Tây Nguyên. Lựa
chọn đầu tư những đoạn có hạ tầng yếu kém trên tuyến đường ven biển gắn với
đê biển. Nối thông tuyến đường biên giới phía Bắc, phía Tây, Tây Nam. Nâng
cấp một số tuyến giao thông hành lang kinh tế Đông Tây.

- Thể chế chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, thiếu các văn bản hướng
dẫn triển khai thực hiện, nhất là các văn bản hướng dẫn triển khai dự án huy
động vốn theo hình thức hợp tác đối tác công – tư (PPP). Việc lựa chọn nhà đầu
tư chưa bài bản. Do vậy, nhà đầu tư còn e ngại tính minh bạch trong lựa chọn
nhà đầu tư.
- Kinh tế vĩ mô chưa ổn định, lạm phát tăng cao, giá cả biến động dẫn đến
rủi ro cao đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng.
- Các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông yêu cầu vốn đầu tư lớn,
hiệu quả tài chính thấp, đòi hỏi ngân sách tham gia lớn, trong khi Ngân sách Nhà
nước hạn hẹp, việc huy động vốn cho các dự án lớn rất chậm dẫn đến nhiều nhà
đầu tư đề xuất các cơ chế vượt quá quy định của pháp luật.
- Khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, chi phí giải phóng mặt
bằng lớn, tiến độ GPMB chậm, kéo dài ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của dự án.
4. Kiến nghị
Nhằm khuyến khích, tạo lòng tin, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài
vào các dự án phát triển hạ tầng giao thông tại Việt Nam, Bộ GTVT kiến nghị:
- Về pháp luật: Sớm hoàn chỉnh thể chế, chính sách nhất là thể chế triển
khai các dự án theo hình thức hợp tác đối tác công – tư PPP nhằm khuyến khích
đầu tư tư nhân tham gia đầu tư vào phát triển kết hạ tầng giao thông.
- Về tổ chức thực hiện:
74


+ Tăng cường sự phối kết hợp giữa các Bộ, ngành với các nhà tài trợ
trong quá trình huy động vốn và triển khai thực hiện các dự án, trong đó Bộ Kế
hoạch và Đầu tư chủ trì tìm kiếm các nguồn vốn để triển khai các dự án theo
hình thức hợp tác đối tác công – tư (PPP) – đây là hình thức huy động vốn cơ
bản trong giai đoạn tới.
+ Trong quá trình tái cơ cấu đầu tư công, Chính phủ cần có phương án
vốn đặc biệt tham gia vào các dự án lớn có tính lan tỏa, kịp giải quyết tình trạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status