Luận án tiến sĩ xây dựng chiến lược sản phẩm du lịch sinh thái tỉnh bến tre đến năm 2020 - Pdf 35

PHẦN MỞ ĐẦU

1. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về vật chất lần tinh thần của con người ngày
càng cao. Nếu như trước đây người ta chỉ quan niệm rằng: ăn no mặc ấm thì bây giờ quan
niệm đó đã đổi khác thành ăn ngon mặc đẹp hoặc cao hơn nữa là ăn sung mặc sướng. Khi
đời sống vật chất đã ổn thỏa, người ta lại bắt đầu nghĩ đến tinh thần như vui chơi, giải trí,
tham quan, nghỉ dưỡng... Đó chính là tiền đề cho hoạt động du lịch ra đời và phát triển. Hiện
nay du lịch là một trong những ngành dịch vụ đem lại nguồn thu khổng lồ, chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng sản lượng toàn cầu và giải quyết việc làm cho một số lượng lao động lớn. Vì
thế mà ngành du lịch được nhiều quốc gia trên thế giới xem du lịch là ngành kinh tế mũi
nhọn để ưu tiên phát triển và đặt cho những tên gọi mỹ miều như: “công nghiệp không khói”
hay “con gà đẻ trứng vàng”...
Việt Nam là nước nằm trong vành đai nhiệt đới ẩm gió mùa, có 3/4 diện tích là địa hình
đồi núi và cao nguyên, với hơn 3200 km đường bờ biển và hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ,
nhiều cảnh quan và hệ sinh thái đặc thù, bên cạnh với bề dày lịch sử hàng ngàn năm dựng
nước và giữ nước cùng với nền văn hóa đa dạng giàu bản sắc dân tộc đã tạo cho nước ta tiềm
năng du lịch quý giá bao gồm cả tài nguyên du lịch nhân văn, tài nguyên du lịch tự nhiên
phong phú và đa dạng. Đây cũng là điều kiện quan trọng để phát triển nhiều loại hình du
lịch, bằng chứng là doanh thu ngành du lịch Việt Nam không ngừng tăng lên góp phần lớn
vào việc tạo thu nhập cho xã hội. Cụ thể theo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam thì
doanh thu từ du lịch 5 năm gần nhất: năm 2010 đạt 96,000 tỷ đồng, năm 2011 đạt 130.000 tỷ
đồng, năm 2012 đạt 160.000 tỷ đồng, năm 2013 đạt 200.000 tỷ đồng và năm 2014 đạt
230.000 tỷ đồng tăng gần 234% so với năm 2010.
Trong những loại hình du lịch được khai thác ở Việt Nam thì du lịch sinh thái được đặc
biệt chú trọng phát triển bởi các đặc trưng độc đáo như: Giúp con người gần gũi với thiên
nhiên, nâng cao ý thức bảo tồn môi trường sinh thái, đảm bảo cho việc phát triển bền vững,...
Vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng có khá nhiều lợi
thế về nhiều mặt để phát triển loại hình du lịch sinh thái. Chính vì thế để khai thác có hiệu



quốc tế khi được hòa mình vào cuộc sống của cộng đồng cư dân địa phương qua việc sinh
hoạt và ngủ đêm tại nhà dân.
Tuy nhiên những năm qua, thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Bến Tre đã bắt đầu
chững lại vì nhiều lý do khác nhau mà cụ thể dễ nhận thấy nhất là sản phẩm du lịch sinh thái
bị trùng lấp với các tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang,
Vĩnh Long,.. .Điều này đòi hỏi phải có những chiến lược và giải pháp cụ thể, thiết thực
nhằm vực dậy và phát triển hoạt động du lịch sinh thái.
Nhận thấy điều này tôi quyết định chọn đề tài: “Xây dựng chiến lược sản phẩm du lịch
sinh thái tỉnh Bến Tre đến năm 2020 ”. Với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp
được những giải pháp hữu ích vào sự phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Bến Tre trong thời
gian tới.

2. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VựC NGHIÊN CỨU
2

9

>

.1 Tổng quan vê tình hình nghiên cứu có liên quan
Một vài nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam có liên quan đến du lịch và du lịch sinh
thái. Cụ thể:
- Những nghiên cứu về du lịch và du lịch sinh thái trong vùng ĐBSCL:
Trần Nguyễn Đức Phong (2009), “Hoạch định chiến lược phát triển du lịch tỉnh
Vĩnh Long đến năm 2015”. Luận văn thạc sĩ - chuyên ngành Quản trị kinh doanh, trường
Đại học Cần Thơ. Nghiên cứu tập trung phân tích ngành du lịch tỉnh Vĩnh Long trên các mặt
chủ yếu: Thực trạng số lượng du khách và doanh thu du lịch từ các năm 1999 - 2008, đánh
giá tiềm năng phát triển du lịch Vĩnh Long. Cách tiếp cận phân tích thực trạng ngành du lịch
Vĩnh Long chủ yếu dựa vào số liệu thứ cấp và sử dụng ma trận đánh giá yếu tố bên ngoài
(EFE), ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ (IFE) để đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu,

nghiên cứu là các du khách đi du lịch tại Vĩnh Lòng và một số địa bàn lân cận, các chuyên
gia, chính quyền địa phương, tổ chức có liên quan đến hoạt động kinh doanh du lịch. Đề tài
kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích tần số, phân tích nhân tố để phân tích
nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được, đồng thời sử dụng thang đo Likert 5 mức độ
đo lường chất lượng sản phẩm du lịch thông qua việc đánh giá của các đối tượng nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu đã đề xuất được những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng


sản phẩm du lịch tỉnh Vĩnh Long nói riêng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Long nói
chung.
Nguyễn Thanh Sang (2007), “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái
tỉnh Bạc Liêu”. Luận văn thạc sĩ - chuyên ngành Quản trị kinh doanh, trường Đại học Cần
Thơ. Nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái, phương pháp
phân tích tổng hợp, phương pháp xử lý số liệu và phương pháp chuyên gia để đánh giá thực
trạng về các điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội cho mục tiêu phát triển
du lịch sinh thái. Nghiên cứu đã xác định bốn điểm du lịch sinh thái: Sân chim Bạc Liêu, sân
chim Lập Điền, biển - Nhà Mát, vườn nhãn. Nhìn chung tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Bạc
Liêu khá tốt nhưng cơ sở hạ tầng một số nơi còn hạn chế; Các dịch vụ ăn - nghỉ, vui chơi
giải trí chưa được đầu tư đúng mức, nên chưa thu hút được nhiều khách tham quan. Qua
đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Bạc Liêu kết quả cho thấy môi trường tự nhiên và
tài nguyên du lịch sinh thái tỉnh Bạc Liêu phong phú về số lượng và đa dang về loại hình du
lịch, cho phép tỉnh Bạc Liêu quy hoạch các khu du lịch sinh thái, khai thác các loại hình du
lịch biển, rừng, sân chim, vườn nhãn; xây dựng thành các tuyến du lịch sinh động và hấp
dẫn. Từ thực trạng đó tác giả đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển tuyến du lịch
sinh thái nhằm khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Bạc Liêu.
Giang Khánh Thuận (2011), “Phân tích tiềm năng và giải pháp phát triển sinh thái
vườn cây ăn trái gắn với văn hóa lễ hội tỉnh Tiền Giang”. Luận văn thạc sĩ - chuyên ngành
Quản trị kinh doanh, trường Đại học Cần Thơ. Mục tiêu nghiên cứu là tập trung phân tích
ngành du lịch sinh thái miệt vườn Tiền Giang nói chung và du lịch sinh thái vườn xoài cát
Hòa Lộc tại Cái Bè Tiền Giang nói riêng. Với phương pháp phân tích thống kê mô tả, biểu

cường đầu tư cơ sở lưu trú và phát triển các loại hình lưu trú đẳng cấp quốc tế, (2) Chiến
lược phát triển các dịch vụ bổ sung trong cơ sở lưu trú và phát triển các điểm vui chơi giải
trí, (3) Chiến lược Marketing hỗn hợp, nâng cao hiệu quả công tác quảng cáo và tiếp thị, (4)
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời đề xuất một số các giải pháp chung và các
giải pháp cụ thể thực hiện chiến lược như (1) Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm
lưu trú, (2) Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý cơ sở lưu trú, (3)
Marketing trong mùa vắng khách, (4) Marketing trong bối cảnh không ổn định.


- Những nghiên cứu về du lịch và du lịch sinh thái ở tỉnh Bến Tre:
Phan Ngọc Châu (2013), Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ hài lòng của du
khách đối với du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre”. Luận văn thạc sĩ - chuyên ngành Quản trị kinh
doanh, trường Đại học Cần Thơ. Nghiên cứu đã sử dụng phần mềm SPSS để phân tích dữ
liệu, đồng thời sử dụng phân tích chỉ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố EFA, các nhân
tố liên quan đưa vào mô hình hồi quy Binary Logistic để đánh giá sự hài lòng của du khách.
Đề tài được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp khách du lịch trong và ngoài nước, thao
khảo ý kiến chuyên gia. Đối tượng nghiên cứu là các lý thuyết cơ bản về du lịch, du lịch sinh
thái; Ngành du lịch tỉnh Bến Tre; Khách trong và ngoài nước và thăm dó ý kiến chuyên gia.
Kết quả phân tích cho thấy sự hài lòng phụ thuộc vào: Điều kiện an ninh, an toàn và sự đáp
ứng; Chất lượng sản phẩm du lịch, năng lực phục vụ và sự đồng cảm; Mức độ hợp lý của chi
phí. Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của du khách góp
phần phát triển du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre.
Đỗ Thu Nga (2014), “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái miệt vườn tỉnh Bến
Tre”.Luân văn thạc sĩ, chuyên ngành Du lịch, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích
các nguồn dữ liệu thu thâp được bên cạnh có sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá tiềm
năng phát triển du lịch sinh thái miệt vườn của Bến Tre so với một số tỉnh lân cân trong
vùng. Nghiên cứu đã hệ thống có chọn lọc một số vấn đề lý luân cơ bản về du lịch sinh thái
miệt vườn và giới thiệu một số bài học thực tiễn về du lịch sinh thái miệt vườn tại một số
tỉnh lân cân.Bên cạnh đó, góp phần làm rõ vai trò của việc phát triển du lịch sinh thái miệt

3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1

Mục tiêu chung
Xây dựng chiến lược sản phẩm du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và đề

xuất giải pháp thực hiện chiến lược sản phẩm du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre đến năm 2020.
3.1.2Mục tiêu cụ thể

(1) Phân tích thực trạng hoạt động du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian
qua.

(2) Đánh giá thực trạng về các nguồn lực phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Bến Tre.
(3) Xây dựng chiến lược sản phẩm du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và tầm nhìn đến
năm 2030.


(4) Đề xuất giải pháp thực hiện chiến lược sản phẩm du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre đến năm
2020.

3.2 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian qua như thế
nào?

(2) Chiến lược chung về du lịch tỉnh Bến Tre đã và đang được thực hiện như thế nào?
(3) Xây dựng chiến lược sản phẩm du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre đến năm 2020 như thế nào là
phù hợp?

(4) Giải pháp khả thi nào để xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre đến


Phạm vi về nội dung
Đề tài chỉ tập trung vào đánh giá hoạt động du lịch sinh thái của các các khu, điểm

du lịch sinh thái nổi bật có lượng du khách lui tới hàng năm đông trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Nghiên cứu chỉ thực hiện đối với du khách nội địa và du khách quốc tế giao tiếp bằng tiếng
Anh.


5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
-

Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp qua phỏng vấn du khách nội địa và quốc tế
đang tham gia du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Phương pháp chọn mẫu: Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân
tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, để thông tin thu thập được xử lý có độ chính xác cao thì số
quan sát phù hợp để thu thập phải gấp 5 lần số biến quan sát. Đề tài có 30 biến quan sát nên
phải thu thập 150 quan sát. Từ đó xác định cở mẫu của đề tài là 150.
+ Vùng chọn mẫu: Các khu điểm du lịch sinh thái nổi bật trên địa bàn tỉnh Bến Tre
có lượng khách lui tới đông như Cồn Phụng, Phú Túc, An Khánh, Quới An, Cồn Quy.
+ Đặc điểm mẫu: Du khách nội địa và quốc tế.
+ Phương pháp tiếp cận:Tiến hành phỏng vấn trực tiếpbằng bảng câu hỏi đã soạn sẵn
bất cứ du khách nàotại các khu điểm du lịch sinh thái nổi bật trên địa bàn tỉnh Bến Tre.Nếu
du khách không đồng ý trả lời phỏng vấn thì chuyển sang du khách khác.
+ Phương pháp lấy mẫu: Để tránh trường hợp du khách từ chối phỏng vấn nên đề tài
sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện.Lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính
dễ tiếp cận của du khách.

-

tiêu trên thị trường, các nhà quản trị sẽ đưa ra các định hướng chiến lược phù hợp.

-

Đối với mục tiêu 4:
Trên cơ sở tổng hợp đánh giá từ các mục tiêu 1, 2, 3 từ đó đề xuất các giải pháp khả

thi nhằm xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre.

5.3 Khung nghiên cứu
Hình 1.1: Khung nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tổng hợp
5.4 Tiến trình nghiên cứu
Hình 1.2: Tiến trình nghiên cứu


Nguồn: Tác giả tổng hợp

6. KếT CấU CủA Đề TÀI
Đề tài nghiên cứu chia thành 3 phần như sau:

-

Phần mở đầu

-

Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái, chiến lược sản phẩm du lịch.


1.1 KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1.1

Định nghĩa du lịch sinh thái
DLST

(Ecotourism)làmộtkháiniệmtươngđốimớivàđãnhanhchóngthuhút

sựquantâmcủanhiềungườihoạtđộngtrongnhiềuhnhvựckhácnhau.
ỞViệtNam,tronglầnhộithảovề“XâydựngchiếnlượcpháttriểnDLSTở
ViệtNam”từ7/9/1999đến9/9/1999đãđưarađịnhnghĩavềDLST

là:“DLSTlà

loạihìnhdulịchdựavàothiênnhiênvàvănhóabảnđịa,gắnvớigiáo

dụcmôi

trường,cóđónggópchonỗlựcbảotồnvàpháttriểnbềnvững,vớisựthamgia
tíchcựccủacộngđồngđịaphương”.
Ngoài racòncómộtsốđịnhnghĩamởrộng hơnvề nộidungcủaDLST:
“DLST

làmộtloạihìnhdulịchlấycáchệsinhtháiđặc

tượngđểphụcvụchonhững

thù,tự


làmộthìnhthứcdulịchdựavàothiênnhiênvàđịnhhướngvềmôi

trườngtựnhiênvànhânvăn,đượcquảnlímộtcáchbềnvữngvàcólợichosinh thái”(HiệphộiDLST
Australia).
“DLST làmộtloạihìnhdulịchdựavàothiênnhiênvà vănhóabảnđịagắnvới
giáodụcmôitrường,cóđónggópchonổilựcbảotồnvàpháttriểnbềnvữngvới
sựthamgiatíchcựccủacộngđồngđịaphương”(ĐịnhnghĩavềDLSTởViệt Nam).
Lịchsửnhânloạiđãchỉra“quátrìnhđôthịhóa,côngnghiệphóa,một
mặtgópphầnvàoviệcthúcđẩysựpháttriểnkinhtế,nângcaođờisốngnhândân;
mặtkhác,nócũnggâyranhững“vấnđề”chomôitrườngsinhthái:Tàinguyên
sinhvậtvàđadạngsinhhọcđãvàđangbịđe

dọađếnmứcbáođộng,cácdạngtài

nguyênmôitrườngđất, nước,khôngkhícũngđangtrênđà suythoáivà ônhiễm”.
Chođếnnay, kháiniệmDLST
vớinhững

vẫncònđượchiểudướinhiềugócđộkhácnhau,

têngọikhácnhau.Mặcdù,những

tranhluậnvẫncònđangdiễntiến

nhằmtìmramộtđịnhnghĩachungnhấtvềDLST,nhưngđasốýkiếncủacác
chuyêngiahàngđầuvềDLSTđềuchorằngDLST

làloạihìnhdulịchdựavào

thiênnhiên,hỗtrợchocáchoạtđộngbảotồnvàđượcnuôidưỡng,quảnlýtheo

-

DLST phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải môi trường .

-

DLST hạn chế đến mức thấp nhất tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và nhân văn.

-

DLST có hỗ trợ cho nổ lực bảo tồn tự nhiên như:
+ Đưa lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương từ việc bảo tồn tài nguyên tự
nhiên.
+ Tạo cơ hội giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương.
+ Tăng cường nhận thức cho DK và cộng đồng địa phương về sự cần thiết bảo tồn tài
nguyên tự nhiên và văn hóa...
[Phạm Trung Lương (2012). “Du lịch sinh thái - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.
Nxb Giáo dục].

1.1.3
-

Các nguyên tắc của du lịch sinh thái

Nângcaohiểubiếtchodukháchvềmôitrườngtựnhiên;Dukháchcócác hoạtđộnggópphầntích
cựcvàoviệcbảovệmôitrường,bảnsắcvănhoá.

-

KháchDLST

Các đối tượng tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái
Các đối tượng tham gia xây dựng hoạt động du lịch sinh thái bao gồm: Các nhà hoạch

định chính sách; Các nhà điều hành du lịch; cá nhà quản lý lãnh thổ; Hướng dẫn viên du lịch;
Khách du lịch và cộng đồng địa phương. Họ là những người phải quan tâm đến tất cả các
thành phần của đa dạng sinh học - cơ sở để xây dựng mô hình DLST bền vững.
Các nhà hoạch định chính sách: Là những người làm công tác quy hoạch, xây dựng
chính sách phát triển DLST trong các viện nghiên cứu.


Các nhà quản lý lãnh thổ: Học là những người có vai trò quyết định đối với sự bảo tồn
và phát triển của một khu DLST.
Các nhà điều hành DL: Họ là những người tổ chức, điều hành cụ thể hoạt động DLST,
họ trực tiếp xác định các phương thức tiến hành hoạt động, lựa chọn địa diểm tổ chức DLST,
xây dựng các chương trình DL phù hợp với các dịch vụ có thể cung ứng trong điều kiện địa
phương.
Hướng dẫn viên du lịch: Là những người có kiến thức, nắm được đầy đủ về thông tin
môi trường tự nhiên, các đặc điểm, các loại hình DLST, tính đa dạng và độ phong phú của
loài, tính thích nghi và tính đặc trưng của hệ sinh thái, văn hóa cộng đồng địa phương để giới
thiệu một cách sinh động nhất, đầy đủ nhất với du khách về những vấn đề đã thúc giục họ
tham gia tuyến DLST của khu vực.
Khách DL: Là đối tượng chính của DLST chính những nét đặc trưng về đa dạng sinh
học của khu vực đã thu hút được họ tham gia vào hoạt động DL. Tuy nhiên cần phân biệt
khách DL và khách DLST.
Cộng đồng địa phương:
+ Giáo dục Cộng đồng địa phương ý thức bảo vệ TNDL và MTDL qua các hình thức
giáo dục khác nhau như phương tiện truyền thông đại chúng; giáo dục thông qua các cuộc
họp tổ dân phố, hướng dẫn luật bảo vệ môi trường; luật du lịch.
+ Trách nhiệm và nghĩa vụ của Cộng đồng địa phương đối với việc bảo tốn TNDL và
môi trường du lịch.


Tài nguyên DLST phong phú và đa dạng: Được hình thành trên nền tảng các tài
nguyên trong tự nhiên, mà bản thân tự nhiên thì rất đa dạng và phong phú. Vì thế tài nguyên
DLST có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách.
Tài nguyên DLST thường nhạy cảm với các yếu tố tác động: So với nhiều loại tài
nguyên du lịch khác, tài nguyên DLST thường nhạy cảm với những tác động của con người
dù trực tiếp hay gián tiếp và nhỏ hay lớn.
Thời gian khai thác tài nguyên DLST là không đồng nhất: có loại tài nguyên DLST
khai thác quanh năm cũng có loại tài nguyên DLST khai thác theo thời vụ. Vì vậy, để khai
thác tốt tiềm năng tài nguyên DLST các nhà quản lý, các nhà điều hành DLST cần phải
nghiên cứu và phải hiểu rõ tính chất thời vụ của các loại tài nguyên DLST.
Tài nguyên DLST thường nằm xa các khu dân cư và thường khai thác tại chỗ để tạo
ra các SPDL.
Tài nguyên DLST có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài: phần lớn các tài nguyên du
lịch trong đó có tài nguyên DLST được xếp vào loại tài nguyên có thể tái tạo và sử dụng lâu
dài. Điều này dựa trên khả năng tự phục hồi, tái tạo của tự nhiên. Tuy nhiên thực tế cho thấy
nhiều loại tài nguyên DLST có thể hoàn toàn biến mất do những tai biến tự nhiên hoặc do tác
động của con người.
[Lê Huy Bá - Thái Lê Nguyên (2009). “Du lịch sinh thái”. Nxb Khoa học và Kỹ
thuật].

1.2 KHÁI NIỆM VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH
1.2.1

Định nghĩa
Sảnphẩmdulịch

(SPDL)là

mộttổngthểbaogồmcác

hoạtđộngtưongtácgiữa
dulịchvàkháchthamquanvàthôngquacác

đápứngnhucầucủa

kháchthamquanvà

manglạilợiíchchotổchứccungứng dulịch.

1.2.3

Các đặc tính của sản phẩm du lịch
SPDL mang tinh trau tương, vô hinh.
SPDL đươc ban cho du khach trước khi ho thay và hương thu nO.
SPDL là loại sản phẩm tổng hợp của các ngành kinh doanh khác như : hàng không,

khách sạn, nhà hàng, tụ điểm vui chơi giải trí...
Các SPDL thường ở xa nơi khách hàng lưu trú.
SPDL không thê tôn kho.
SPDL mang tinh thơi vu ro rêt va có chu kỳ sống ngắn bởi vì nhu cầu của du khách
thay đổi nhanh chóng.
Khách mua SPDL ít trung thành và không trung thành với một SPDL , môt công ty du
lich.
=> Nhu cau cỉia khach hang dê bi thay đôi vi sư dao đông cỉia ty gia
tình hình kinh tế bất ổn, biên đông chinh tri...

tiên tê,


1.2.4


Sản phẩm vận chuyển: Hiện đại, tiện nghi, an toàn,...

-

Sản phẩm lưu trú: Quan hệ nhân quả với 6 yếu tố bắt đầu bằng chữ M trong tiếng Anh: Men
(con người); Methods (phương pháp); Machine (trang thiết bị, máy móc); Minute (yếu tố
thời gian); Money (tài chính); Marketing (nghiên cứu thị trường).
1.2.4.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm du lịch

1.2.4.3.1

Tính hấp dẫn và độc đáo của tài nguyên Tính hấp dẫn là yếu tố quan trọng

nhất để đánh giá tài nguyên du lịch vì nó quyết định sức thu hút khách du lịch. Độ hấp dẫn
có tính chất tổng hợp rất cao và thường được xác định bằng vẻ đẹp của phong cảnh, sự thích
hợp của khí hậu, sự đặc sắc và độc đáo của tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn.Độ hấp
dẫn được thể hiện ở số lượng và chất lượng của các tài nguyên, ở khả năng đáp ứng được
nhiều loại hình du lịch.
Đối với tài nguyên du lịch tự nhiên: Tính hấp dẫn du lịch là yếu tố tổng hợp và
thường được xác định bằng vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên, sự đa dạng của địa hình, sự thích
hợp của khí hậu, sự đặc sắc và độc đáo của hiện tượng và cảnh quan tự nhiên, quy mô của
điểm tham quan.


Bảng 1.1 Đánh giá tính hấp dẫn tài nguyên du lịch tự nhiên
Mức độ
Cảnh quan tự nhiên
Cảnh quan độc đáo


0

1

Nguồn: Lê Huy Bá - Thái Lê Nguyên. (2009). “DLST”. Nxb Khoa học và Kỹ thuật
1.2.4.3.2 Tính đa dạng của dịch vụ
Đối tượng du khách ngày càng đa dạng và phức tạp về kết cấu, sở thích, chính vì
vậy muốn tồn tại và cạnh tranh có hiệu quả các công ty du lịch phải luôn luôn đa dạng hóa
loại hình dịch vụ của mình để kinh doanh thành công.
> Những đối tượng nhiều khả năng sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp du
lịch là:



Người thân.



Những cặp vợ chồng mới cưới.



Những người độc thân.



Những người đã nghỉ hưu và những người đi tránh nóng/rét.




Những người muốn khám phá thiên nhiên.



Những người muốn lợi dụng mối quan hệ và sự hiểu biết của các đại lý du lịch để tiết kiệm
thời gian và chi phí.
>Các loại hình dịch vụ du lịch:


Các công ty du lịch thường cung cấp những loại dịch vụ chủ yếu sau:



Cung cấp trọn gói các dịch vụ cho thuê, đặt chỗ.



Thiết kế tuyến du lịch và chương trình du lịch đáp ứng nhu cầu của khách
hàng.



Săn tour và vé giá rẻ nhất.



Đặt vé máy bay.




người có nhu cầu đặc biệt, Can thiệp khi có vấn đề phát sinh từ phía nhà cung cấp).



Điều phối các công việc khác để đảm bảo sự hài lòng của khách hàng.

> Dịch vụ du lịch đặc biệt/chuyên đề
Mảng dịch vụ du lịch chuyên đề là kênh đầu tư đặc biệt hấp dẫn trong thời đại ngày
nay.Doanh nghiệp du lịch cần lưu ý rằng chuyên biệt hoá là điều kiện bắt buộc để có thể
thành công trong ngành du lịch. “Quan trọng là doanh nghiệp phải tìm được đề tài, chủ điểm
để làm du lịch... Chỉ có như thế doanh nghiệp mới có thể thu phí dịch vụ cao cho các sản
phẩm của mình".
Chỉ riêng loại hình du lịch “nghỉ mát” vào Google, chúng ta thấy hơn 15 triệu kết
quả. Qua đó chúng ta thấy mức độ cạnh tranh như thế nếu doanh nghiệp không chuyên biệt
hoá thì liệu doanh nghiệp có thể thành công? Do vậy doanh nghiệp phải tìm được thế mạnh
của mình và biến nó thành lợi thế cạnh tranh - đó mới là chìa khoá".

> Có hai cách chính để thâm nhập vào mảng dịch vụ du lịch chuyên đề:


Cung cấp tour và các gói dịch vụ thiết kế cho các nhóm khách hàng cụ thể với tư cách là nhà
điều phối tour hay đại diện của một đại lý du lịch. Các gói tour phổ biến là du lịch trăng mật,


tour bằng tàu biển, tour cho gia đình, cho du học sinh. Hoặc bạn có thể biến hoá từ những gói
dịch vụ sẵn có để tạo ra tour riêng của mình, từ tour sinh thái cho đến du lịch người cao tuổi,
du lịch mạo hiểm,...

♦ Cung cấp dịch vụ du lịch chuyên biệt hấp dẫn cho một phân khúc hẹp: Tất nhiên, doanh
nghiệp phải tìm được phân khúc nào có tiềm năng về quy mô hoặc giá trị. Một trong những

nghiệp đều dành sự quan tâm lớn đến vấn đề này.

♦ Tại Việt Nam ngành Du lịch sẽ triển khai chương trình kích cầu du lịch mới với trọng tâm
tập trung vào các hãng lữ hành và báo chí nước ngoài chuyên viết về du lịch ở các thị trường


trọng điểm và tiềm năng để tăng cường quảng bá mạnh mẽ điểm đến Việt Nam trên thị
trường quốc tế.

♦ Tổ chức các chương trình khảo sát điểm đến (FAMTRIP) cho các hãng lữ hành và báo chí
nước ngoài chuyên viết về du lịch. Các đối tượng kinh doanh được lựa chọn tham gia có thể
là các khách sạn từ 2 - 5 sao ở các vùng du lịch trong cả nước, các nhà hàng chuyên phục vụ
khách du lịch, các doanh nghiệp lữ hành có uy tín, hãng vận chuyển có uy tín, điểm du lịch
chất lượng và cửa hàng mua sắm đạt chuẩn, các hãng hàng không Việt Nam và một số hãng
hàng không quốc tế.

♦ Phối hợp với Bộ Ngoại giao lồng ghép nội dung quảng bá du lịch Việt Nam vào các sự kiện
tuần/ngày Việt Nam tổ chức tại Canada, Italia, Nhật Bản nhân dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập
quan hệ ngoại giao. Các hãng hàng không Việt Nam sẽ phối hợp tham gia các hoạt động của
Tổ chức du lịch và Bộ ngành liên quan tại nước ngoài. Tổ chức giới thiệu các sự kiện, hoạt
động của Năm Du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng - Hải Phòng 2013 và quảng bá điểm
đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

♦ Phát động chiến dịch quảng bá tại chỗ đối với khách quốc tế đã đến Việt Nam và nâng cao
nhận thức của cộng đồng địa phương.Cán bộ - nhân viên trực tiếp làm việc với khách du
lịch, các điểm du lịch, mua sắm cũng như mọi người dân Việt Nam phải thể hiện sự thân
thiện với khách du lịch, cung cấp thông tin, bản đồ du lịch cho khách du lịch ngay tại các sân
bay quốc tế lớn, giao lưu văn hóa với khách du lịch tại các trung tâm du lịch và các điểm du
lịch của địa phương.


Tiêu chí về phương tiện vận chuyển đường sắt: Cũng là một trong những tiêu chí
có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ du lịch. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ
hành quốc tế thì tiêu chí về phương tiện vận chuyển đường sắt của Trung Quốc được xếp thứ
33 trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam là 70 điều này cho thấy khả năng cạnh tranh về
phương tiện vận chuyển đường sắt của Việt Nam so với Trung Quốc là khó có thể cạnh tranh
được trong thời gian ngắn.
Tiêu chí về cơ sở hạ tầng hỗ trợ phát triển du lịch của Trung Quốc và Việt Nam đều
bị đánh giá ở mức yếu kém, Trung Quốc xếp thứ 113 thì Việt Nam chỉ đứng trên có 3 nước
xếp hạng thứ 121. Đây là tiêu chí cần phải được quan tâm để nâng cao lợi thế cạnh tranh cho
sản phẩm du lịch tại mỗi điểm đến.

1.2.4.3.7

Thương hiệu

Tiêu chí về quyền sở hữu là tiêu chí cho thấy sự đảm bảo của nhà nước và chính
phủ của nước sở tại cho môi trường hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến, nó tạo ra sự bình
đẳng và công bằng trong các hoạt động kinh doanh du lịch tại mỗi điểm đến. Theo tổ chức
du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí này của Việt Nam là khá tốt đứng thứ 69 trong khi đó
tiêu chí này của Trung Quốc đứng thứ 82 đây là một lợi thế mà Việt Nam cần phải phát huy
và nâng cao hơn nữa để có thể nâng cao lợi thế so sánh đối với sản phẩm du lịch của mình.
Về tiêu chí đánh giá ấn tượng về thị trường và thương hiệu từ thị trường khách du



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status