Nhân thân người phạm tội với việc quyết định hình phạt từ thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN BÍCH HUYỀN

NH¢N TH¢N NG¦êI PH¹M TéI VíI VIÖC
QUYÕT §ÞNH H×NH PH¹T Tõ THùC TIÔN THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG QUANG PHƢƠNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực.
Người cam đoan

Nguyễn Bích Huyền


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa


1.2.3.

Các căn cứ quyết định hình phạt .................................................................30

1.3.

Nhân thân ngƣời phạm tội là một trong các căn cứ quyết định
hình phạt ....................................................................................................34

Chƣơng 2: QUY ĐỊNH VỀ NHÂN THÂN NGƢỜI PHẠM TỘI VỚI
VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ HIỆN HÀNH .......................................................................................38
2.1.

Quy định về nhân thân ngƣời phạm tội với việc miễn hình phạt .........38

2.2.

Quy định về nhân thân ngƣời phạm tội với việc quyết định hình
phạt nhẹ hơn ..............................................................................................41

2.3.

Quy định về nhân thân ngƣời phạm tội với việc quyết định hình
phạt nặng hơn ............................................................................................52

2.3.1.

Các tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội với tư cách là yếu tố cấu

3.2.1.

Hoàn thiện về pháp luật hình sự và tố tụng hình sự ....................................79

3.2.2.

Xây dựng án lệ ............................................................................................86

3.2.3.

Tăng cường công tác hướng dẫn thi hành pháp luật và tổng kết công
tác xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội ....................................................88

3.2.4.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám đốc việc xét xử của hai cấp Tòa
án thành phố Hà Nội....................................................................................89

3.2.5.

Nâng cao năng lực và ý thức pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Kiểm sát viên và luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội .....................90

KẾT LUẬN ..............................................................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................98


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:



Bảng 3.1: Kết quả xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm của hai cấp
TAND thành phố Hà Nội từ năm 2010 – 2014

70

Bảng 3.2: Số liệu quyết định hình phạt trong xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự trên địa bản thành phố Hà Nội

72


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
QĐHP là một hoạt động rất quan trọng, không thể thiếu của giai đoạn xét xử
một vụ án hình sự. Việc Toà án tuyên một hình phạt đảm bảo tính công lý có ý
nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý hết sức to lớn. QĐHP đúng, đảm bảo tính nghiêm
minh, công bằng của pháp luật hình sự, tương xứng với tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chính là để bảo vệ pháp chế và chế độ Xã hội
chủ nghĩa, là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được các mục đích của hình phạt. Quyết
định một hình phạt đúng pháp luật sẽ là cơ sở quan trọng để có thể nâng cao hiệu
quả của hình phạt. Hình phạt đã tuyên, một mặt phải thể hiện được sự trừng trị cần
thiết của Nhà nước đối với người phạm tội, để có thể răn đe được người phạm tội và
những người khác, ngăn ngừa họ thực hiện hành vi phạm tội; giáo dục, động viên
quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Mặt khác, hình phạt đã tuyên cũng phải bảo đảm được tính chất là một phương tiện
giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội, giáo dục
người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Để đảm bảo tính khách quan, đúng pháp luật của hoạt động QĐHP, pháp luật
hình sự nước ta đã chính thức ghi nhận các căn cứ QĐHP trong BLHS để Toà án dựa

người chưa thành niên ở Việt Nam (Phần 1), Luận án Phó tiến sỹ (tiến sỹ), M.1981;
ThS. Phạm Thanh Bình: Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự trong luật hình sự Việt Nam - Tạp chí Tòa án nhân dân số 8/1995;
ThS. Nguyễn Mai Bộ: Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng - Tạp chí Tòa án
nhân dân số 1/1999;
ThS. Đinh Văn Quế: Một số điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 1999 về hình
phạt và QĐHP - Tạp chí Tòa án nhân dân số 3/2000;
Đặng Xuân Đào: “Một số nội dung mới của các quy định về các tình tiết
giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
1999” - Tạp chí Tòa án nhân dân số 8/2000;
GS. TSKH. Lê Cảm: Về bản chất pháp lý của quy phạm “Nguyên tắc QĐHP”
tại Điều 37 Bộ luật hình sự Việt Nam - Tạp chí Tòa án nhân dân số 1+2/1989; Nhân
thân người phạm tội - Tạp chí Tòa án nhân dân số 10/2001;

2


GS. TSKH. Lê Cảm và TS. Trịnh Tiến Việt: Nhân thân người phạm tội: Một
số vấn đề lý luận cơ bản - Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2002;
TS. Trịnh Tiến Việt: Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình
sự trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và một số kiến nghị - Tạp chí Tòa án nhân dân
số 13/2004;
TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy: Nhân thân người phạm tội trong luật Hình sự
Việt Nam – Luận án tiến sĩ, 2005.
Nhìn chung, các công trình, chuyên khảo đề cập đến vấn đề NTNPT và
QĐHP mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát nội dung của vấn đề, xem xét
NTNPT (ở các cấp độ khác nhau) trong tội phạm học và trong luật hình sự nói
chung hoặc về các khía cạnh khác nhau trong một nhóm chủ thể nhất định như
người chưa thành niên phạm tội, người phạm tội là phụ nữ. Có thể nói, vấn đề
NTNPT trong thực tiễn QĐHP chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng,

Thứ nhất, về quy định pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của
BLHS năm 1999 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành về NTNPT và QĐHP.
Thứ hai, về địa bàn nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn xét xử tại
các Tòa án trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2014.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ
nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt
Nam về hình sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu của
khoa học luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp
so sánh, đối chiếu; khảo sát thực tiễn xét xử qua các vụ án điển hình… Ngoài ra, tác
giả có chọn lọc kết quả của các bài viết, công trình nghiên cứu đã công bố, các đánh
giá, tổng kết của các cơ quan chuyên môn về những vấn đề có liên quan đến việc
nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của luận văn
NTNPT và QĐHP là những vấn đề được khá nhiều tác giả nghiên cứu dưới
những góc độ khác nhau. Thực tế đó đã tạo ra những thuận lợi nhất định cho việc
nghiên cứu đề tài nhưng cũng chính là khó khăn lớn đối với tác giả vì sẽ không

4


tránh khỏi sự trùng lặp về những kiến thức pháp luật hình sự cơ bản đã được thừa
nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý. Mặc dù vậy, dựa trên những nghiên cứu lý
luận về NTNPT và QĐHP, tìm hiểu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và kết
quả đánh giá thực tiễn áp dụng NTNPT với việc QĐHP trong hoạt động xét xử các
vụ án hình sự của các Toà án trên địa bàn thành phố Hà Nội có thể thấy ý nghĩa của
luận văn là:

phải nêu được những đặc điểm liên quan đến bản thân người phạm tội. Xuất phát từ
quan điểm người phạm tội là một con người chứa đựng những đặc điểm vốn có nhất
định. Ngoài ra, người phạm tội còn có những đặc điểm khác mà một người bình
thường không thể có được cho nên, để nêu được khái niệm NTNPT thì chúng ta
phải biết được, phải hiểu được nhân thân của một con người.
Theo khái niệm chung của xã hội học Mác – Lênin về nhân thân con người
thì nhân thân – đó là bản chất xã hội của con người được thể hiện thông qua vị trí
của con người trong hệ thống quan hệ xã hội. Nhân thân là một phạm trù mang tính
xã hội – lịch sử. Nhân thân sẽ không thể được làm sáng tỏ nếu xem xét nó với tư
cách là một hiện tượng tách biệt và khép kín, tách rời nó với hiện thực xã hội và các
điều kiện lịch sử cụ thể đặc trưng cho hiện thực đó. Với tư cách là chủ thể của các
mối quan hệ xã hội, được đặc trưng bởi những đặc tính và phẩm chất cá nhân đa
dạng, mỗi cá nhân cụ thể có một nhân thân tương ứng. “Khái niệm nhân thân đồng
thời cũng bao hàm cả con người với tư cách là một thành viên của xã hội, là một
công dân, là đại diện của các giai cấp, các nhóm xã hội nhất định v.v…, là người
mang trong mình một số các đặc điểm xã hội điển hình” [44, tr.96].
Một dấu hiệu rất quan trọng của nhân thân con người đó là ý thức, là toàn bộ
thế giới tinh thần nội tại của nó. Khi được thiết định bởi các điều kiện xã hội bên
ngoài, bản thân thế giới tinh thần này trở thành một yếu tố cấu thành tích cực của
nhân thân, nó trung gian hóa sự tác động của mọi biểu hiện trong xã hội đến con
người sao cho phù hợp với nội dung riêng của nó; đồng thời trong mỗi trường hợp

6


cụ thể, nó xác định việc con người sẽ lựa chọn lập trường xã hội nào, lựa chọn cách
xử sự này hay cách xử sự khác. Các hiện tượng tâm lý đan xen một cách hữu cơ với
cuộc sống toàn vẹn của cá nhân, vì chức năng hoạt động cơ bản của mọi hiện tượng
và quá trình tâm lý là điều tiết hoạt động của con người.
Khi nói đến nhân thân con người là chúng ta muốn nói đến sự tổng hợp các

tính, tuổi, trình độ văn hóa, địa vị xã hội, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, nơi sinh
sống, hoàn cảnh kinh tế; các đặc điểm, dấu hiệu về tâm lý như quan điểm, nhu cầu,
sở thích, thói quen, lý trí, ý chí, cảm xúc, tình cảm… và các đặc điểm, dấu hiệu, mối
quan hệ xã hội khác.
Theo khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội, bị luật hình sự cấm, do con người cụ thể (có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu
TNHS) thực hiện một cách có lỗi, xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ. Như vậy, nói đến NTNPT trong lĩnh vực luật hình sự là nói đến nhân thân
của chính con người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội. Như đã phân tích ở trên,
nhân thân con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, là sự thống nhất giữa mặt
sinh học và mặt xã hội. Theo đó, NTNPT bao gồm trong nó tổng hợp các đặc điểm
của cá nhân về mặt sinh học, mặt xã hội, nói lên tính chất của con người đã thực
hiện tội phạm. Con người khi được sinh ra không sẵn chứa trong mình khả năng trở
thành tội phạm mà khả năng đó chỉ trở thành hiện thực dưới tác động tiêu cực của
nhiều yếu tố trong quá trình con người tự hoàn thiện về mặt sinh học, tâm lý, nhân
sinh quan... Quá trình đó cho thấy NTNPT là phạm trù có tính lịch sử vì “những
đặc điểm về nhân cách của người phạm tội không phải được tiềm ẩn ở con người đó
ngay từ khi mới sinh ra, mà chúng được hình thành dưới sự ảnh hưởng, tác động
của môi trường không thuận lợi bên ngoài” [43, tr.50] trong quá trình trưởng thành
của con người. Điều này hoàn toàn phù hợp với kết luận của Mác về bản chất của
con người: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối
quan hệ xã hội” [8, tr.257].
Trong khoa học pháp lý hình sự, dựa trên kết luận của Mác đã có nhiều công
trình nghiên cứu về NTNPT dưới các góc độ khác nhau. Trong đó, các nhà khoa
học luật gia nước ta đã có một số quan điểm về NTNPT như sau:
- GS. TSKH. Lê Cảm: “NTNPT theo luật hình sự đó là hệ thống các thuộc

8



9


mọi biểu hiện của nhân thân; nội dung và mối tương quan giữa chúng, cụ thể là “tỷ
lệ” giữa các dấu hiệu và biểu hiện xã hội tích cực với các dấu hiệu và biểu hiện tiêu
cực của nhân thân trong mối liên hệ qua lại giữa chúng. Chính do tổng thể các đặc
tính và dấu hiệu xã hội, cấu trúc và mối tương quan giữa chúng như vậy đã đem lại
cho chúng ta một quan niệm đầy đủ về người phạm tội và cho phép hiểu được cách
xử sự phạm tội của người đó, nguyên nhân và động cơ phạm tội, và từ kết quả của
cách đánh giá như vậy mới có cơ sở đảm bảo cho việc đấu tranh chống và phòng
ngừa tội phạm, đảm bảo cho chính sách hình sự và cho việc chọn lựa các biện pháp
cần thiết, thích hợp nhằm giáo dục, cải tạo đối với từng trường hợp cụ thể.
Tổng hợp những quan điểm về khái niệm NTNPT và những vấn đề đã trình
bày trên đây, dưới góc độ luật hình sự ta có thể hiểu khái niệm NTNPT như sau:
NTNPT là tổng hợp các đặc điểm về xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh học, nói
lên tính chất của con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật hình sự là tội phạm. Các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng
trong việc giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội một cách công minh, có căn
cứ và đúng pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm nhân thân người phạm tội
Các đặc điểm NTNPT có thể phân chia thành ba nhóm tương ứng với một số
lĩnh vực sau:
Một là, các đặc điểm về mặt pháp lý hình sự.
Hai là, các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu học.
Ba là, các đặc điểm về mặt đạo đức, tâm lý học.
Để thấy rõ vai trò, vị trí và mức độ ảnh hưởng cụ thể của các đặc điểm nêu
trên đối với quá trình hình thành nhân cách người phạm tội như thế nào, dưới đây
chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng nhóm đặc điểm đó.
1.1.2.1. Các đặc điểm về mặt pháp lý hình sự của nhân thân người phạm tội

phạm tội
Các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu học của NTNPT là những dấu hiệu
cho phép khẳng định thông tin về NTNPT dưới góc độ tội phạm học và là tiêu chí
có vai trò quan trọng trong việc xây dựng định hướng, đưa ra các biện pháp tác
động mang tính chất giáo dục - cải tạo lao động đối với những người bị kết án, cũng
như soạn thảo các biện pháp đấu tranh phòng, chống tình trạng phạm tội.
Khi nghiên cứu các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu học của NTNPT cần

11


lưu ý những dấu hiệu cơ bản như độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, vị trí, vai trò xã
hội, dạng nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động, địa điểm thường trú, hoàn cảnh gia đình,
tình trạng vật chất (tài sản, nhà ở),.. mà những dấu hiệu này tự bản thân chúng đã là đặc
trưng cho cá nhân mỗi một con người, tất cả mọi người chứ không thể căn cứ vào
chúng mà khẳng định cá nhân một người nào đó là người phạm tội. Nhưng những dấu
hiệu này có sự tác động tương hỗ qua quá trình hình thành nhân cách đạo đức, nhân
sinh quan lối sống của một người, cũng như các quan hệ giao tiếp của người đó với các
thành viên trong gia đình, trong nhà trường, trong cơ quan, ngoài xã hội. Và do vậy,
dưới góc độ tội phạm học những dấu hiệu này cung cấp cho các cơ quan tư pháp hình
sự những thông tin để hiểu rõ hơn về hoàn cảnh, những điều kiện cụ thể đã ảnh hưởng
đến quá trình hình thành nhân cách đạo đức, các nhu cầu vì lợi ích, giá trị xã hội, về sự
định hướng có tính lệch lạc (không phù hợp với lợi ích chung của gia đình, tập thể hoặc
xã hội) của người phạm tội. Chúng ta có thể chỉ ra một số nét chủ yếu của những dấu
hiệu thường thấy khi nghiên cứu NTNPT như sau:
- Dấu hiệu về giới tính:
Dấu hiệu về giới tính cho phép xác định người phạm tội là nam giới họặc nữ
giới. Qua nghiên cứu tỷ lệ giữa nam giới và nữ giới trong việc phạm tội thì tỷ lệ
nam giới phạm tội bao giờ cũng nhiều hơn nữ giới và mang tính chât ốn định hơn.
Từ đó cho thấy có thể xác định đuợc đặc trưng của nam giới là dễ bị ảnh hưởng của

50 tuổi trở lên). Cùng với sự biến đổi của độ tuổi là quá trình diễn ra sư thay đổi của
bản thân nhân thân. Độ tuổi có ảnh hường rất lớn đến tính chất mức độ của tội
phạm, đến việc thực hiện các loại tội phạm khác nhau ở những người có độ tuổi
khác nhau. Thực tế cho thấy, nếu xem xét mối tương quan giữa các nhóm người
phạm tội có độ tuổi khác nhau trong tổng thể những người phạm tội thì nhóm người
phạm tội ờ độ tuổi từ 18 - 30 tuổi chiếm tỷ lê cao nhất, sau đó là nhóm người phạm
tội ờ độ tuổi từ 30 đến dưới 50 và nhóm người phạm tội chưa thành niên (từ 14-18
tuổi); cuối cùng là những người từ 50 tuổi trở lên, họ phạm tội ít hơn. Sự phân
nhóm người phạm tội theo dấu hiệu độ tuổi này là phù hợp với những điều kiện sinh
hoạt xã hội, với tính chất tâm lý xã hội của họ, từ đó cho phép nghiên cứu nâng cao
tính cụ thể và hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Có
thể chỉ ra tỷ lệ cụ thể về độ tuổi của những người phạm tội như sau:
Trên địa bàn toàn quốc, những người ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm 64%,

13


riêng tội cướp tài sản thì những người ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm đến 75%, trên 30
tuổi chiếm 20%, từ 14 đến 18 tuổi chiếm 5% [10].
Trên địa bàn Hà Nội, theo thống kê trong thời gian 10 năm (1989 - 1999), chỉ tính
trong số 48.637 người phạm tội thì những người ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm 62%
(nếu chỉ tính trong số 3071 người phạm tội cướp tài sản, thì những người ở độ tuổi từ 18
đến 30 tuổi chiếm hết 2246 (tỷ lệ 73%), trên 30 tuổi chiếm 11% và từ 14 đến 18 tuổi
chiếm 12%) [10].
Mức độ phạm tội phổ biến chiếm tỷ lệ cao nhất ờ nhóm người phạm tội có
độ tuổi từ 18 - 30 tuổi đã phản ánh một sự thật, là ở độ tuổi đó đang diễn ra quá
trình hình thành nhân thân và quá trình lựa chọn một môi trường vi mô ổn định.
Những người ở độ tuổi này chưa có nhiều kinh nghiệm sống, trong khi đây lại là
giai đoạn mà họ phải giải quyết nhiều vấn đề sinh hoạt phức tạp và phải đụng độ với
nhiều tình huống hơn cả, điều đó có thể thúc đẩy việc xảy ra các xung đột với

người có trình độ văn hóa thấp hơn so với các thành viên khác trong xã hội. Trình
độ văn hóa thấp thường làm biến dạng sự nhận thức về các quy tắc xã hội, các quy
tắc đạo đức, ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý. Những người trình độ văn hóa thấp
thường phạm những tội có tính chất bạo lực hoặc các tội xâm phạm sở hữu có tính
chất chiếm đoạt. Những người có trình độ văn hóa cao hơn thường phạm các tội liên
quan đến chức vụ, các tội phạm về kinh tế.
Chẳng hạn, theo thống kê của Bộ Công an, nếu so sánh theo trình độ học vấn
của những người phạm tội thì:
Trên địa bàn toàn quốc, trong thời gian từ năm 1993 đến 1998 trong tất cả
văn hóa cấp I chiếm 23%, văn hóa cấp II chiếm 50%, văn hóa cấp III chiếm 9%.
Riêng những người phạm tội cướp tài sản thì trong 5380 người phạm tội thì những
người mù chữ có 817 người (chiếm tỷ lệ 15%), văn hóa cấp I là 1264 người (chiếm
23,4%), văn hóa cấp II có 2546 người (chiếm gần 47,3%), văn hóa cấp III chiếm tỷ
lệ 14,7% và chỉ có 3 người có trình độ đại học. Trên địa bàn Hà Nội, trong 3071
người phạm tội cướp tài sản thì những người mù chữ chiếm 33,5%, văn hóa cấp I
chiếm 43%, văn hóa cấp II chiếm 21%, cấp III và đại học chiếm tỷ lệ có 2,5% [10].
- Dấu hiệu về địa vị xã hội và nghề nghiệp:
Các dấu hiệu vể địa vị xã hội và nghề nghiệp của người phạm tội cũng
có một vị trí quan trọng. Các dấu hiệu đó cho thấy được tội phạm này hay tội
phạm khác thường phổ biến hơn cả ở các tầng lớp và các nhóm xã hội nào, trong

15


các lĩnh vực nào cùa đời sống xã hội và sản xuất, đồng thời chúng cũng định
hướng cho việc tìm hiểu và chi ra các yếu tố phát sinh tội phạm vốn đặc trưng
cho các nhóm nghề nghiệp khác nhau của dân cư, cho các ngành kinh tế, các
hình thức sản xuất khác nhau v.v...
Địa vị xã hội và nghề nghiệp phụ thuộc nhiéu vào trình độ văn hóa. Thông
thường người phạm tội có trình độ văn hóa thấp cũng thường không có nghề nghiệp

người đểu biết nhau và điều này tự nó đã là một yếu tố giám sát xã hội, buộc cá
nhân phải tính đến thái độ và xử sự của mình; còn ở thành phố, việc giám sát dựa
vào quan hệ sinh hoạt xã hội tại nơi cư trú là rất hạn chế.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong thành phẩn những người phạm tội thì
những người hay thay đổi nơi cư trú, nơi sinh sống chiếm tỷ lệ khá caó. Trong số
những người di chuyển nơi cư trú chiếm phần lớn lại là những người trẻ tuổi chưa
có gia đình, hoặc chuyển chỗ một mình không kèm gia đình, một phần khác là do
không thích nghi về mặt xã hội với nơi ở trước.
- Dấu hiệu về hoàn cảnh gia đình:
Tình trạng gia đình, hoàn cảnh kinh tế gia đình có ảnh hưởng đến việc thực
hiện tội phạm. Nghiên cứu về tội phạm đã chỉ ra, những người đã lập gia đình (đã
kết hôn) thường phạm tội ít hơn so với những người chưa lập gia đình. Người sống
độc thân phạm tội nhiều hơn. Chính yếu tố gia đình trong đa số trường hợp đã kích
thích hành vi của những thành viên trong gia đình, hạn chế đến mức tối đa các hiện
tượng tiêu cực phát sinh trong môi con người. Giữa lối sống độc thân và hoàn cảnh
gia đình cũng có mối quan hệ chặt chẽ: một mặt, việc sống độc thân và không có
các nghĩa vụ gia đình thúc đẩy lối sống phi đạo đức dễ dẫn tới việc phạm tội. Mặt
khác, lối sống phi đạo đức cản trở việc họ lập gia đình.
Hoàn cảnh gia đình và sự thay đổi của nó có tác động nhất định đến nhân
cách của con người, ảnh hưởng đến khuynh hướng và sự kiên định trong việc thực
hiện tội phạm. Những người phạm tội, nhìn chung thường xuất phát từ những gia
đình có tình trạng không bình thường (không hòa thuận, không có trách nhiệm với
nhau, có các thành viên trong gia đình có quan điểm, quan niệm xử sự trái đạo đức,
trái pháp luật, có trình độ văn hóa thấp trong xử sự và trong quan hệ với người
khác...), từ những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt (bố hoặc mẹ chết, ly hôn) hoặc có
hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

17



18


hướng, là các phẩm chất đạo đức của nhân thân, là kiến thức, thói quen, trình độ văn
hóa cá nhân v.v...Ngoài ra, cơ cấu tâm lý của nhân thân còn bao gồm những đặc
điểm cá biệt của một số quá trình tâm lý riêng biệt (trí nhớ, tư duy, cảm xúc, ý
chí...) và tính cách nữa, thậm chí cả các biến đổi bệnh hoạn của tâm lý.
Thuộc về các đặc điểm tinh thần - chính trị, thế giới quan và đạo đức cùa con
người là: các quan điểm, đánh giá, nguyện vọng, định hướng giá trị v.v... Chúng có
ý nghĩa đặc biệt đối với nhân thân người phạm tội. Tất cả các phẩm chất đa dạng đó
của nhân thân thể hiện: thứ nhất, đó là thái độ đã định hình đối với các giá trị đạo
đức và giá trị xã hội khác nhau, đối với các mặt khác nhau của hiện thực, với nghĩa
vụ lao động, với tư cách là một thành vièn trong xã hội, với gia đình, con cái, với
chính bản thân mình và những người xung quanh. Thứ hai, đó là mức độ, tính chất
và giá trị xã hội của các nhu cầu, khát vọng mà con người tiếp nhận rồi lựa chọn các
phương tiện (hợp pháp, bất hợp pháp hoặc nguy hiểm) nhằm đáp ứng chúng.
Tiêu chuẩn và tiêu chí vể các phẩm chất đạo đức của nhân thân chính là cách
xừ sự và toàn bộ thực tiễn sinh hoạt xã hội của cá nhân con người đó. Điều đó có
nghĩa là cơ sở để phán xét về nhân thân người phạm tội không đơn giản là nhận xét
và đánh giá của những người được hỏi đến (người thân, đồng nghiệp, người quen),
mà là các bằng chứng cụ thể được xem xét một cách toàn diện về hành vi của chính
người phạm tội đó
1.2. Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt
1.2.1. Khái niệm quyết định hình phạt
Với vị trí là một chế định quan trọng của Luật hình sự, là một hoạt động cơ bản
của HĐXX trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, QĐHP được xác định là một khái
niệm pháp lý cụ thể. Tuy nhiên, điểm đáng nói là cả BLHS năm 1999 và Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành hai bộ luật trên đều
không đề cập đến khái niệm QĐHP. Khái niệm này chỉ tồn tại trong lý luận và được đề
cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học. Thực tế này đã phần nào làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status