Chính sách phòng ngừa tội phạm kinh tế từ thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THU HƯƠNG

CHÍNH SÁCH PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM KINH TẾ TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS NGUYỄN KHẮC BÌNH

Hà Nội, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

HOÀNG THU HƯƠNG


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………...

3.1. Dự báo tình hình có liên quan đến tổ chức thực hiện chính sách phòng
ngừa tội phạm kinh tế của Công an thành phố Hà Nội…………………….. 65
3.2. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách phòng ngừa tội
phạm kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội………………………………. 68
KẾT LUẬN………………………………………………………………... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

78

PHỤ LỤC

80


KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ANQG

An ninh quốc gia

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

CAND


Thành phố Hà Nội


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội
phạm để bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng,
xem đó là nhân tố quan trọng có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam.
Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta nói chung, thành phố Hà Nội nói riêng
đã đạt được những thành tựu to lớn trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,
đời sống của nhân dân không ngừng được nâng cao. Thế và lực của nước ta ngày
càng lớn mạnh trên trường quốc tế, vị thế của Thủ đô ngày càng được củng cố và
xứng đáng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Bên cạnh đó, chúng
ta đang phải đối mặt với sự gia tăng không ngừng của các loại tội phạm, đặc biệt là
tội phạm kinh tế. Hậu quả mà chúng gây ra ngày càng lớn, không chỉ là thiệt hại về
kinh tế mà còn ảnh hưởng trên các mặt chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến đường lối,
chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của đất nước, gây bất bình và làm giảm
lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, tình hình tội phạm kinh tế đã và đang diễn ra
phức tạp, có xu hướng gia tăng cả về tính chất, mức độ phạm tội cũng như hậu quả,
tác hại gây ra cho xã hội. Trong đó, đáng lưu ý là tội phạm kinh tế xảy ra ở nhiều
lĩnh vực, diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi dưới nhiều hình thức, cấp độ khác
nhau, đã và đang gây ra những thiệt hại to lớn về kinh tế, xã hội. Do vậy, đấu tranh
phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm kinh tế nói riêng đặc biệt là công tác
phòng ngừa không để tội phạm kinh tế xảy ra, hạn chế ở mức thấp nhất hậu quả của
loại tội phạm này từ đó nâng cao năng lực lãnh đạo, uy tín của hệ thống chính trị;
đảm bảo cho đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực
hiện nghiêm túc; góp phần làm lành mạnh hoá môi trường đầu tư, hợp tác quốc tế,
bảo vệ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân là nhiệm vụ quan trọng của
toàn Đảng, toàn dân và của các cơ quan bảo vệ pháp luật hiện nay.

thạc sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, năm 2003. (18)
“Hỏi cung bị can trong điều tra tội phạm kinh tế quy định của nhà nước về
quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về
trật tự quản lý kinh tế và chức vụ - Công an tỉnh Bình Định”, Nguyễn Hải Thông,
Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, năm 2004. (17)

2


“Tổ chức phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế”, Cục Cảnh sát
điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ - Bộ Công an, nhà xuất bản Công an nhân
dân, năm 2003. (4)
Đề tài khoa học cấp Bộ Công an “Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa,
đấu tranh chống tội phạm về kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng theo chức năng của
lực lượng Cảnh sát kinh tế”, Bộ Công an, năm 2015.
Tội phạm ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của tác giả Lê
Thế Tiệm, NXB Công an nhân dân 1994. Trong công trình này, các tác giả đã đưa
ra bức tranh tổng quát nhất về tình hình hình tội phạm ở Việt Nam, nguyên nhân và
các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm ở Việt Nam những năm đầu đổi mới
và đặc biệt có những dự báo về tình hình tội phạm, các yếu tố tác động đến tình
hình tội phạm trong giai đoạn sau. Tuy công bố đã lâu nhưng cách tiếp cận, phương
pháp nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện của tội phạm nói
chung có giá trị để tham khảo tiếp cận tình hình tội phạm, nguyên nhân và các biện
pháp phòng ngừa tội phạm trong tình hình hiện nay.
Các nghiên cứu trên đều đưa ra những nhận định trong bối cảnh hội nhập
ngày càng sâu rộng thì cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế ngày càng
phức tạp và phải có những giải pháp mới để phù hợp với những thay đổi của đời
sống kinh tế xã hội của đất nước, vùng, địa phương. Trong đó ,các tác giả cũng nêu
lên công tác phòng ngừa tội phạm kinh tế có ý nghĩa rất lớn trong cuộc đấu tranh
chống tội phạm kinh tế ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, vấn đề đấu tranh phòng, chống

4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách phòng ngừa tội phạm kinh
tế của Công an TP Hà Nội.
4.2. Khách thể nghiên cứu:
Chính sách phòng ngừa tội phạm kinh tế của Công an thành phố Hà Nội.
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu là tổ chức thực hiện chính sách phòng ngừa tội phạm
kinh tế của Công an TP Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2013 - đến năm 2015.

4


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cách tiếp cận nghiên cứu:
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh
phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về kinh tế nói riêng. Luận văn vận
dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và luận văn triệt để vận dụng
phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách
công về chu trình chính sách từ hoạch định đến tổ chức thực hiện và đánh giá chính
sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách.
5.2. Câu hỏi nghiên cứu:
- Những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách phòng ngừa tội phạm
kinh tế ở nước ta hiện nay là gì?
- Thực trạng thực hiện chính sách phòng ngừa tội phạm kinh tế của Công an
TP Hà Nội như thế nào? Những kết quả đạt được đã đáp ứng được mục tiêu chính
sách đã đề ra hay chưa? Những bất cập trong việc thực hiện chính sách phòng ngừa
tội phạm kinh tế của Công an TP Hà Nội là gì?
- Giải pháp nào đổi mới trong tổ chức thực hiện chính sách phòng ngừa tội

- Phương pháp lưu trữ: Đề tài được lưu trữ bằng file mềm và văn bản.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận:
- Đề tài vận dụng bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công để làm phong
phú thêm những vấn đề đặt ra trong việc tổ chức thực hiện chính sách phòng ngừa
tội phạm kinh tế.
- Đề tài cung cấp những nghiên cứu, tư liệu, khảo sát thực tế tại Công an TP
Hà Nội qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học Chính
sách công.
- Có giá trị tham khảo cho các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan bảo vệ
pháp luật trong việc thiết lập hệ thống quản lý và thực thi chính sách công trong lĩnh
vực bảo vệ pháp luật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn:

6


Qua thực tiễn nghiên cứu đề tài góp phần chỉ ra những sơ hở, thiếu sót trong
quản lý kinh tế của Nhà nước bị tội phạm lợi dụng hoạt động; những địa bàn, tuyến,
lĩnh vực, ngành hàng, khâu công việc... thường bị xâm hại. Những kết luận và đề
xuất có thể giúp lực lượng CSKT cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật ở TP Hà
Nội và Công an các địa phương tham khảo, vận dụng nhằm hoàn thiện tổ chức thực
hiện chính sách phòng ngừa tội phạm kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Mặt khác,
những nội dung mà đề tài nghiên cứu còn có thể được tham khảo, khai thác sử dụng
trong nghiên cứu, giảng dạy, biên soạn giáo trình, xây dựng quy trình phòng ngừa
tội phạm kinh tế trong các trường CAND.
7. Cơ cấu của luận văn
- Chương 1: Lý luận về tổ chức thực hiện chính sách phòng ngừa tội phạm
kinh tế.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phòng ngừa tội phạm

với chính trị. Chẳng hạn, trong một quốc gia, dù Nội các bị đổ theo sự thay đổi về
quyền lực của các tập đoàn chính trị khác nhau, nhưng hàng loạt chính sách đối với
dân chúng vẫn không hề thay đổi, ví dụ: Chính sách thu nhập, chính sách thuế,
chính sách thương mại…
Từ tiếp cận xã hội học, chúng ta có thể hiểu: "Chính sách là tập hợp biện pháp
do chủ thể quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội,

8


giảm lợi thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện
một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới".[7, tr. 23]
Đương nhiên, khi nói đến một nhóm xã hội được ưu đãi, thì cũng có nghĩa là
có một số nhóm sẽ không được ưu đãi, thậm chí có nhóm còn bị thiệt hại và điều đó
dẫn đến một hệ lụy rất quan trọng về mặt xã hội là một chính sách luôn dẫn đến một
bất bình đẳng xã hội. Nhóm được ưu đãi không nhất thiết là nhóm chiếm số đông
trong xã hội. Chẳng hạn, chính sách lương ưu đãi dành cho công an và quân đội.
Xét từ tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, chúng ta hiểu: Chính sách là
phương tiện tác động đến hàng loạt sinh hoạt văn hóa và xã hội của con người, từ
đây dẫn đến những phản ứng của xã hội đối với chính sách, và hơn nữa, là những
kiến tạo xã hội mới do chính sách dẫn đến. Ví dụ, chính sách thực hành một đường
lối kinh tế mở cửa đã dẫn đến những thay đổi rất căn bản trong các sinh hoạt xã hội
ở Việt Nam.
Với các cách tiếp cận trên đây, có thể đi đến khái niệm tổng quát về chính
sách như sau: Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện
tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Từ khái niệm chung về chính sách, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái
niệm cụ thể về Chính sách công.
Một khái niệm đơn giản và dễ nhớ nhất là của Thomas R. Dye (1984); "Chính
sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm".(7, tr. 33)

khởi đầu cũng như sự kết thúc của hầu hết chính sách. Quy trình chính sách đồng
thời cũng là biến động do tác động của nhiều yếu tố tham gia vào việc tạo ra chính
sách. Đương nhiên, một số chính sách hay thay đổi thường xuyên hơn và nhiều hơn
một số chính sách khác, nhưng rất khó xác định một chính sách nào đó hoàn toàn ổn
định trong một thời gian dài. Các chính sách cần được xem xét như là nó ở trong
một trạng thái tương đối ổn định, chứ không phải là nó xác định một cách vững
chắc.
Nghiên cứu chính sách theo quan điểm quy trình cũng có nghĩa là hoạt động
quản lý Nhà nước thông qua việc ban hành các chính sách công xảy ra mang tính
thường xuyên, các chính sách này ra đời tiếp theo các chính sách khác và trong quá
trình đó chính sách công luôn được hoàn thiện, bổ sung. Mặt khác, cách tiếp cận
chính sách theo quy trình (chu trình/quá trình) có thể giúp cho những ai quan tâm
đến chính sách có thể tiếp cận ở các góc độ khác nhau của chính sách và do đó dễ
dàng tham gia vào quy trình này. Đồng thời các nhà quản lý cũng tự xác định vai
trò, vị trí, năng lực và những hoạt động cần thiết khi tham gia vào từng giai đoạn

10


của quy trình chính sách. Họ tự biết họ phải làm gì, làm như thế nào khi nắm vững
bản chất của từng giai đoạn.
1.1.2.2. Các giai đoạn trong quy trình chính sách công:
Trên thực tế, tuy các mô hình quy trình chính sách công có khác nhau về chi
tiết, song nhìn chung có thể quy về 3 giai đoạn cơ bản của quy trình này là:
- Hoạch định chính sách: Trong giai đoạn này, các chính sách được nghiên
cứu đề xuất để Nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai. Quá trình đề xuất chính
sách bao gồm việc xác định vấn đề cần ra chính sách, xác định các mục tiêu mà
chính sách cần đạt được và xác định các giải pháp cần thiết để đạt tới các mục tiêu
đó. Muốn xác định được vấn đề chính sách, cần phải thường xuyên quan sát và phân
tích tình hình thực tế để dự báo được những mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết nhằm

tổ chức thực thi chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ
chính sách theo yêu cầu quản lý Nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu đề ra của
chính sách. Với cách tư duy này có thể đi đến khái niệm về tổ chức thực thi chính
sách như sau:
"Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ
thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được
mục tiêu định hướng của Nhà nước".[76, tr. 9]
Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa
học công nghệ và con người được đưa vào các hoạt động có tính định hướng để đạt
được các mục tiêu đã đề ra. Nói cách khác, đây là quá trình kết hợp giữa con người
với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ nhằm sử dụng các nguồn
lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đề ra.
Chủ thể thực thi chính sách trước hết quan trọng nhất là các cơ quan hành
chính Nhà nước, bởi vì đây chính là các cơ quan có nhiệm vụ quản lý và tổ chức
triển khai các công việc hàng ngày của Nhà nước. Tuy nhiên, các cơ quan lập pháp
và tư pháp cũng như các tổ chức Đảng, đoàn thể cũng có vai trò quan trọng trong
việc huy động và tổ chức lực lượng tham gia triển khai chính sách.
1.1.3.2. Vị trí của thực thi chính sách:
Tổ chức thực thi chính sách là một khâu hợp thành quy trình chính sách, nếu
thiếu vắng giai đoạn này thì quy trình chính sách không thể tồn tại. Tổ chức thực thi
chính sách là trung tâm kết nối các giai đoạn trong quy trình chính sách thành một hệ
thống. Trên thực tế, giai đoạn thực thi chính sách được coi là giai đoạn tổng hợp của cả
3 giai đoạn của quy trình chính sách: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và
đánh giá chính sách. Nhiều chính sách do các cơ quan Trung ương đề ra và giao cho
địa phương thực hiện, nhưng khi chính sách về đến địa phương, người ta phải tiến hành

12


nghiên cứu áp dụng nó phù hợp với thực tế của địa phương. Điều đó có nghĩa là giai


13


- Tổ chức thực thi chính sách để từng bước thực hiện mục tiêu chính sách
và mục tiêu chung
Mục tiêu chính sách có liên quan đến nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội
theo những cấp độ khác nhau. Tuy nhiên trong cùng một thời điểm không thể giải
quyết tất cả các vấn đề liên quan và cũng không thể bỏ qua giai đoạn của mỗi quá
trình. Thực thi chính sách để giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biện chứng
với những mục tiêu cơ bản nhất để thúc đẩy quá trình vận động của cả hệ thống đến
mục tiêu chung.
Ví dụ : nhằ m phá t triể n Tâ y Nguyê n, Tâ y Nam Bộ , Tâ y Bắ c, Bộ
Giá o dụ c và Đà o tạ o đ ã có nhiề u chí nh sá ch đ à o tạ o nguồ n nhâ n lự c cho 3
Tâ y; trong đ ó có chí nh sá ch giao cho mộ t số trư ờ ng đ ạ i họ c trọ ng đ iể m ở
thà nh phố đ ặ t lớ p tạ i cơ sở giá o dụ c ở cá c đ ị a phư ơ ng thuộ c khu vự c 3 Tâ y
đ à o tạ o nguồ n nhâ n lự c tạ i chỗ phụ c vụ c cô ng cuộ c xâ y dự ng kinh tế và giữ
gì n an ninh quố c phò ng củ a khu vự c 3 Tâ y.
- Thực thi chính sách là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách
Chính sách đúng đắn là chính sách đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một
chính sách tốt. Tuy nhiên, một chính sách được coi là tốt thì giá trị của nó cũng chỉ
mới dừng lại ở phương diện nguyện vọng, mong muốn mà thôi. Tính chuẩn mực
của chính sách ở giai đoạn này cũng mới chỉ là sự thừa nhận của chủ thể ban hành
chính sách. Một khi chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã
hội, thì tính đúng đắn của nó được khẳng định ở mức cao hơn, tức là được cả xã hội
thừa nhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính sách.
- Qua thực thi giúp cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh
Chính sách được hoạch định bởi tập thể nên không thể tránh khỏi sự ảnh
hưởng của ý chí chủ quan. Bên cạnh đó các quá trình kinh tế, xã hội lại thường
xuyên vận động. Phát triển trong khi chính sách được hoạch định lại dựa chủ yếu

- Hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách;
- Hệ thống trong tổ chức bộ máy thực thi chính sách;
- Hệ thống trong điều hành, phối hợp thực hiện;
- Hệ thống trong sử dụng công cụ chính sách với các công cụ quản lý khác.
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta thực hiện một cách máy móc lộ trình
và phương thức thực thi chính sách của Nhà nước. Tùy theo điều kiện cụ thể mà
tiến hành thực hiện các bước cho hợp lý. Chẳng hạn, việc vận động thực thi chính

15


sách không nhất thiết chỉ có các cơ quan quản lý nhà nước, mà còn có nhiều tổ chức
chính trị, chính trị - xã hội khác cùng tham gia mới đạt kết quả tốt.
- Yêu cầu các cơ quan nhà nước phải đảm bảo tính khoa học, hợp lý và
pháp lý trong tổ chức thực thi chính sách công
Yêu cầu này đòi hỏi hệ thống bộ máy quản lý nhà nước phải gọn nhẹ, đủ năng
lực tổ chức thực hiện chính sách theo quy trình khoa học. Tính khoa học thể hiện
trong quá trình tổ chức thực thi chính sách là việc phối hợp nhịp nhàng giữa cơ
quan quản lý chính sách, việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh vào thực hiện mục
tiêu chính sách, hình thành các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả một
chính sách… Quy trình thực thi chính sách lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khi
nó được triển khai vào đời sống xã hội. Bởi vậy tính khoa học của quá trình tổ chức
thực thi chính sách phải thể hiện được sức sống để tồn tại trong thực tế như: mục
tiêu cụ thể của chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phương
trong từng thời kỳ; các biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách phải tương ứng với
trình độ nhận thức và tài nguyên của vùng, miền, địa phương… Như vậy, không thể
thực hiện các bước theo quy trình khoa học một cách máy móc. Tùy vào tình hình
thực tế mà lựa chọn cách thức tổ chức thực thi chính sách cho phù hợp. Tuy vậy,
quá trình vận dụng vẫn phải tuân theo các nguyên tắc pháp lý để đảm bảo tính tập
trung, thống nhất trong chấp hành chính sách. Tính pháp lý được thể hiện trong tổ

tế, cũng như trong phát hiện đấu tranh với các loại tội phạm kinh tế theo quy định
của Nhà nước về quản lý kinh tế. Cụ thể các văn bản đó là:
- Ngày 21/10/1970, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà đã thông qua Pháp lệnh “Trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ
nghĩa”. Điều 12 - Pháp lệnh này quy định: Tội cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách,
chế độ, thể lệ về kinh tế tài chính gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa. Trong
đó, cấu thành cơ bản quy định: Kẻ nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái
nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về kinh tế, tài chính, gây thiệt hại đến tài
sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm. Mục đích tư lợi không phải
là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm. Hình phạt nặng nhất của tội này là 20 năm tù
trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Pháp lệnh này được thực thi
trong thời gian từ năm 1970 đến năm 1985.

17


- Ngày 09/7/1985, Hội đồng Nhà nước công bố Bộ luật Hình sự được Quốc
hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 27/6/1985, đây cũng là BLHS Việt
Nam đầu tiên được ban hành. Khi BLHS này có hiệu lực thi hành thì cũng là lúc sự
nghiệp đổi mới bắt đầu. Sự thay đổi các mặt của đời sống xã hội, trong đó đổi mới
về kinh tế giữ vai trò quan trọng không chỉ là cơ sở mà còn là đòi hỏi cấp bách đối
với sự thay đổi của pháp luật nói chung cũng như của Luật hình sự nói riêng. Tại bộ
luật này các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được quy định tại chương VII với
tên là “Các tội phạm về kinh tế”. BLHS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn duy nhất
trong đó quy định tội phạm và hình phạt được xây dựng trên cơ sở kinh tế xã hội
của nền kinh tế bao cấp và trên cơ sở thực tiễn của tình hình tội phạm thời kỳ đó.
Do vậy, có thể nói ngay khi ra đời BLHS đã ở trong tình trạng không phù hợp với
chủ trương đổi mới cũng như những đòi hỏi của đổi mới. Để đáp ứng và phục vụ
công cuộc đổi mới Luật hình sự buộc phải có những thay đổi mang tính phát triển.
Sự phát triển này được thể hiện trong những sửa đổi, bổ sung của BLHS.

của công dân thông qua việc xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trên các lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa, quản lý tài sản, tài chính, tài nguyên của đất
nước”.
1.2.2. Dấu hiệu pháp lý của tội phạm kinh tế
- Mặt khách thể của tội phạm:
Khách thể là trật tự quản lý kinh tế của đất nước. Cụ thể, nó thể hiện ở trên
nhiều lĩnh vực khác nhau như: sản xuất, lưu thông, kinh doanh hàng hóa, quản lý tài
chính, tiền tệ, tài nguyên, quản lý đất đai, quản lý và bảo vệ rừng… Ngoài ra, trật tự
quản lý kinh tế còn được thể hiện ở những quy định, chế độ, nguyên tắc, chính sách
liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ảnh
hưởng đến hoạt động phát triển kinh tế của đất nước, khách thể trực tiếp của mỗi tội
phạm được thể hiện cụ thể trong từng điều luật.
- Mặt khách quan của tội phạm:
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế đều được thực hiện bằng những
hành vi nguy hiểm, ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế của đất nước. Hầu
hết các tội phạm được biểu hiện bằng những hành động cụ thể, bằng các thủ đoạn
khác nhau. Đa số các tội phạm kinh tế có cấu thành tội phạm vật chất, nghĩa là các
tội phạm này được coi là hoàn thành kể từ khi thực hiện hành vi nào đó được quy

19


định cụ thể trong từng điều luật với một số lượng, giá trị cụ thể được quy định ngay
trong điều luật, với số lượng lớn, gây hậu quả nghiêm trọng , hoặc đã bị xử lý kỷ
luật, đã bị xử phạt hành chính về hành vi được quy định trong điều luật mà còn vi
phạm.
- Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm kinh tế trước hết phải đủ các dấu hiệu về năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12, 13 của BLHS. Theo
đó, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm kinh tế

Giống như các loại tội phạm nói chung, tội phạm kinh tế là hiện tượng tiêu
cực của xã hội và các biện pháp phòng ngừa, mục đích của việc phòng ngừa cũng
có những đặc tính chung. Phòng ngừa tội phạm kinh tế là hoạt động mang tính tổng
hợp của nhiều biện pháp, do nhiều lực lượng tiến hành, trong đó lực lượng Cảnh sát
kinh tế là nòng cốt.
Phòng ngừa tội phạm kinh tế phải được sự lãnh đạo chặt chẽ thống nhất của
các cơ quan Nhà nước, sự ủng hộ và tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, của
toàn thể nhân dân và được thực hiện bằng những kế hoạch cụ thể, chi tiết, với sự
tham gia của các cơ quan chuyên môn. Việc xây dựng chương trình phòng ngừa tội
phạm kinh tế cũng cần phải được thực hiện trên cơ sở các đặc điểm kinh tế, tâm lý
xã hội và các đặc điểm truyền thống của từng vùng, miền của từng địa phương.
Dựa trên khái niệm phòng ngừa tội phạm nói chung và các đặc điểm riêng có
của hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế, có thể hiểu: Phòng ngừa tội phạm kinh
tế là tổng thể các hoạt động, biện pháp nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát kinh tế
tiến hành theo quy định của pháp luật, của ngành Công an, có sự tham gia và phối
hợp chặt chẽ với nhiều cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và công dân, nhằm mục
đích ngăn chặn tội phạm, loại trừ những nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội
phạm; đồng thời hạn chế tối đa thiệt hại khi tội phạm xảy ra, không để tội phạm
tiếp diễn hoặc tái phạm.[6, tr. 45]
Như vậy, dựa vào khái niệm trên và thực tiễn công tác phòng ngừa, đấu tranh
với các loại tội phạm kinh tế, có thể thấy phòng ngừa tội phạm kinh tế có những đặc
điểm sau:
- Lực lượng Cảnh sát kinh tế được xác định là chủ thể trong công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm về kinh tế:

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status