Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong luật hình sự việt nam - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HÀ NGỌC QUANG

TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HÀ NGỌC QUANG

TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04


Danh mục các bảng
1

MỞ ĐẦU

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ,

7

VẬN CHUYỂN LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU
GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM

1.1.

Những khái niệm có liên quan

7

1.1.1. Khái niệm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả

7

1.1.2. Khái niệm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,

9

ngân phiếu giả, công trái giả


1.3.2. Giai đoạn từ 1985 đến 1999

20

1.3.3. Giai đoạn từ 1999 đến nay

23

4


Chương 2:

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LÀM,

29

TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ,
NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

2.1.

Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về tội làm, tàng trữ, vận

29

chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả
2.1.1. Các dấu hiệu pháp lý về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu


55

tra, truy tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền
giả, ngân phiếu giả, công trái giả
Chương 3:

NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG CÁC QUY

62

ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐẤU TRANH VỚI
TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH
TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ

3.1.

Hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội làm, tàng trữ, vận

62

chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả
3.2.

Các kiến nghị, đề xuất khác nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định của Bộ luật hình sự đấu tranh với tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả

5



DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

Số vụ án, bị can, bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội

39

bảng
2.1

làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu
giả, công trái giả giai đoạn 2010- 2014 trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ
2.2

Thống kê về thành phần, nhân thân người phạm tội làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công
trái giả trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010- 2014

7

44


MỞ ĐẦU

Tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả (sau đây gọi tắt là "tội phạm về tiền giả") là loại tội phạm xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế, tính chất mức độ của nó gây ra không những ảnh
hưởng đến chính sách tiền tệ của Nhà nước ta, trực tiếp phá hoại nền kinh tế
của đất nước mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân
dân. Thời gian qua, do có lợi nhuận cao, dễ thực hiện nên loại tội phạm này
không ngừng gia tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, đa dạng hơn gây không
ít khó khăn cho công tác phòng chống tội phạm này. Tội phạm về tiền giả
không chỉ xảy ra ở khu vực thành phố, thị xã, mà bọn tội phạm còn lợi dụng
các địa bàn như vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, các chợ buôn bán
tiền ở vùng biên giới để thực hiện tội phạm. Đặc biệt, bọn tội phạm đã lợi
dụng một số người không có công việc làm, những người nghèo, người già,
trẻ em tham gia vào hoạt động phạm tội để kiếm sống làm cho tình hình tội
phạm về tiền giả diễn biến ngày càng phức tạp. Trong khi đó, quan hệ phối
hợp phòng, chống tội phạm về tiền giả giữa các quốc gia còn nhiều hạn chế,
bất cập, cho nên cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này sẽ gặp nhiều
khó khăn.Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong Luật hình sự
Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ" làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả.
Loại tội phạm này được đề cập, phân tích trong một số giáo trình và sách
tham khảo như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, (tập 3) của Trường Đại
học Luật Hà Nội, năm 2013; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, của Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999", của Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp,

9


10


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn nhằm phân tích, so sánh, nhận xét, đánh giá
làm rõ những kết quả đạt được và những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn
áp dụng pháp luật đối với tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền
giả, ngân phiếu giả, công trái giả. Qua đó đề xuất một số kiến nghị nâng cao
hiệu quả pháp luật quy định loại tội phạm này.
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
Tập trung phân tích quy định của luật hình sự Việt Nam về tội làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong Bộ
luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) ở hai khía cạnh: Trách
nhiệm hình sự và hậu quả pháp lý của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả; nêu ra những tồn tại trong vận dụng quy
định của pháp luật hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,
ngân phiếu giả, công trái giả trong điều tra, truy tố, xét xử từ năm 2010 - 2014
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và đề xuất một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy
định pháp luật có liên quan đến tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền
giả, ngân phiếu giả, công trái giả.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ xem xét và giải quyết các vấn đề
cụ thể quy định của Bộ luật hình sự 1999 ở khía cạnh nhiệm vụ hình sự và hậu
quả pháp lý của loại tội phạm này; phân tích thực tiễn vận dụng pháp luật trong
điều tra, truy tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân
phiếu giả, công trái giả từ năm 2010 - 2014; phân tích những khó khăn, vướng
mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển,
lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả và đề cập đến một số tồn tại
trong quy định của pháp luật về loại tội phạm này. Trên cơ sở đó, luận văn đưa

phiếu giả, công trái giả góp phần ổn định nền kinh tế thị trường và chính sách
tiền tệ của Nhà nước.
- Góp phần bổ sung vào các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực hình
sự, kết quả của luận văn là tài liệu tham khảo trong việc hoàn thiện các quy

12


định của pháp luật, nâng cao hiệu quả chính sách hình sự đối với tội phạm về
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả nói
riêng và tội phạm kinh tế nói chung trong thời gian tới cũng như góp phần
trong áp dụng thực tiễn các quy định của pháp luật khi xử lý loại tội phạm này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự về tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả và thực tiễn áp dụng
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Chương 3: Những kiến nghị, đề xuất áp dụng các quy định của pháp
luật hình sự đấu tranh với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,
ngân phiếu giả, công trái giả.

13


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN
LƯU HÀNH TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ

giảm khối lượng tiền mặt trong quá trình lưu thông tiền tệ, giúp đối phó với
một số thời điểm khó khăn do hệ thống ngân hàng thiếu tiền mặt tức thời
trong thanh toán. Ở Việt Nam thì ngân phiếu được giao cho Ngân hàng nhà
nước Việt Nam phát hành.
Công trái là "hình thức nhà nước vay vốn của các tầng lớp nhân dân,
người cho vay được quyền thu lại vốn và hưởng lãi theo quy định" [29, tr. 2014].
Công trái được Nhà nước phát hành bằng một giấy tờ gọi là phiếu công trái.
"Giả" theo Từ điển tiếng Việt là "không phải là thật mà là được làm ra
với vẻ bề ngoài giống như cái thật" [29, tr. 369]. Theo hướng dẫn áp dụng
một số quy định của pháp luật hình sự của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP thì "tiền giả bao gồm tiền
Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm
ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước
ngoài phát hành nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam" [49].
Đến nay vẫn chưa có một tài liệu khoa học nào đưa ra định nghĩa thế
nào là tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả mặc dù tiền giả có một lịch sử tồn
tại khá lâu đời, ngay từ khi xuất hiện một loại tài sản làm cơ sở để giao dịch
thông thương là tiền thì cũng có sự xuất hiện của tiền giả.
Theo định nghĩa tại Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì "tiền giả là
tiền được sản xuất mà không có chế tài pháp lý của nhà nước hoặc chính
phủ". Tại Quyết định số 130/QĐ-TTg ngày 30/6/2003 của Thủ tướng Chính
phủ về bảo vệ tiền Việt Nam thì tiền giả được hiểu là "tiền được làm giống
như tiền Việt Nam nhưng không phải do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ
chức in, đúc, phát hành" [8]. Đối với một số nước trên thế giới, tiền giả được
giải thích cụ thể hơn, đó là: tiền giả là bất cứ vật gì không phải là tiền thật
(tiền giấy, tiền xu) mà được làm giống hay cố tình làm giống hoặc làm cho
được chấp nhận như là một đồng tiền thật; hoặc tiền giả là tiền thật nhưng bị
sửa đổi bằng cách can dán, cạo sửa hoặc in lại.

15


16


nghĩa là: Đưa ra sử dụng rộng rãi từ người này, nơi này qua người khác, nơi
khác trong xã hội [29, tr. 580]. Theo quan điểm của ThS. Đinh Văn Quế thì
"Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là
hành vi làm ra, cất giữ, vận chuyển, sử dụng, trao đổi, mua bán các loại tiền
giả, ngân phiếu giả và công trái giả" [30, tr. 359].
Từ các khái niệm và quan điểm trên đây, có thể đưa ra một định nghĩa
khoa học về tội "làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả" là hành vi làm ra, cất giữ, vận chuyển, sử dụng, trao đổi, mua
bán các loại tiền giả, ngân phiếu giả và công trái giả không phải do cơ quan,
Nhà nước Việt Nam phát hành hoặc nước ngoài phát hành có giá trị thanh
toán tại Việt Nam.
1.2. PHÂN BIỆT TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH
TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM
KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1. Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,
ngân phiếu giả, công trái giả với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công
trái giả và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá
giả khác là hai tội phạm được tách từ tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành
tiền giả, tội phá hủy tiền tệ quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985.
Trước đây tội phạm này được coi là tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia.
Nay, Bộ luật hình sự năm 1999, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật
hình sự năm 2009 quy định tội phạm này tại chương các tội xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế. Tuy là được tách ra cùng một tội, nhưng giữa hai tội này có

tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là tiền,
ngân phiếu, công trái. Tiền, ngân phiếu, công trái có thể là của Việt Nam hoặc
của nước ngoài phát hành. Theo hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật hình sự của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết
số 02/2003/NQ-HĐTP thì "tiền giả bao gồm tiền Việt Nam đồng giả và ngoại

18


tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm ngân phiếu, công trái giả, ngân
phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành nhưng có giá trị
thanh toán tại Việt Nam" [49].
Như vậy, đối tượng tác động của tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển
tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả theo quy định của Điều 180 Bộ luật hình
sự năm 1999 là các loại tiền Việt Nam đồng và ngoại tệ; ngân phiếu, công trái
do Việt Nam hoặc nước ngoài phát hành nhưng có giá trị thanh toán ở Việt
Nam. Tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả về cơ bản có những đặc điểm
giống như tiền thật, công trái thật, ngân phiếu thật. Tội phạm này tác động
đến đối tượng của chúng bằng các hành vi cụ thể được nêu rõ trong Điều 180
là: làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả.
Làm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là thực hiện mọi công việc cần
thiết để phát hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả. Người phạm tội có
thể tham gia vào cả quá trình làm ra tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả
hoặc chỉ tham gia vào một công đoạn của quá trình làm ra tiền giả, ngân phiếu
giả, công trái giả nêu trên như: vẽ theo mẫu, làm bản in, hoặc thực hiện việc
in ấn... Tàng trữ tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là cất giữ các đối tượng
nêu trên ở bất cứ chỗ nào như nơi ở, nơi làm việc, mang theo người, trong
hành lý của người phạm tội. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không có ý nghĩa
đối với việc định tội. Vận chuyển tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là việc
đưa các đối tượng trên từ nơi này sang nơi khác bằng đường bộ, đường thủy

Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,
ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.
Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm
đến mười hai năm. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng
hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai
mươi năm hoặc tù chung thân [43].
Chế tài hình sự đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
các giấy tờ có giá giả khác thì Điều 181 Bộ luật hình sự cũng quy định ba
khung hình phạt chính và một hình phạt bổ sung áp dụng với người phạm tội

20


này trong từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, ở mỗi khoản lại thể hiện khung
hình phạt nhẹ hơn so với các nhóm hành vi tương tự của tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả. Cụ thể như sau:
Đối với trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 của Điều 181 Bộ luật
hình sự 1999 là cấu thành cơ bản của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
séc giả, các giấy tờ có giá giả khác, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai
năm đến bảy năm. Như vậy, so với khoản 1, Điều 180 thì khoản 1, Điều 181
là điều luật nhẹ hơn.
Đối với trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 của Điều 181 Bộ
luật hình sự 1999: Phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng thì người phạm
tội có thể bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm. Như vậy khoản 2, Điều 180
và khoản 2, Điều 181 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) đều
quy định chế tài như nhau đối với trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng.
Đối với hành vi phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc
biệt nghiêm trọng thì so với khoản 3, Điều 180, tại khoản 3, Điều 181 chế tài
hình sự có sự khác nhau. Nếu phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc

Nếu như tội "làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu
giả, công trái giả" xuất hiện trong lịch sử pháp luật hình sự từ năm 1950 thì
tội "rửa tiền" lần đầu tiên xuất hiện trong Bộ luật hình sự 1999 với tên gọi là
"tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có". Hai tội này đều có đối
tượng tác động của tội phạm là tiền. Nếu như tội "làm, tàng trữ, vận chuyển,
lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả" nhà làm luật không mô tả các
hành vi cụ thể cũng như không có khái niệm về tội thì tội "rửa tiền" được mô
tả bằng các hành vi "tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính,
ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm
tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó" [36], đây
có thể xem như khái niệm về "rửa tiền" theo pháp luật Việt Nam. Cả hai loại
tội phạm này đều được thể hiện bằng những hành động cụ thể, với nhiều thủ
đoạn khác nhau. Tuy nhiên hai tội phạm này có đặc điểm khác nhau rất riêng

22


biệt. Tội "làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công
trái giả" có khách thể là trật tự quản lý kinh tế của đất nước, xâm phạm đến
những quy định của Nhà nước về phát hành và lưu hành tiền tệ, ngân phiếu,
công trái. Khách thể của tội "rửa tiền" là trật tự xã hội, gây khó khăn cho việc
phát hiện, điều tra xử lý người phạm tội cũng như việc thu hồi tài sản, tiền do
bọn tội phạm chiếm đoạt.
Mặt khách quan của hai tội phạm đều được thực hiện bằng những
hành vi nguy hiểm, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, an toàn trật tự xã hội
của đất nước.
Về mặt chủ quan của tội phạm thì cả hai tội đều được thực hiện dưới
hình thức lỗi cố ý. Nếu như ở tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,
ngân phiếu giả, công trái giả được thực hiện nhằm thu lời bất chính, hợp pháp
hóa tiền, ngân phiếu, công trái giả thành thật để lưu thông tiền tệ thì tội "rửa

Từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đã mở ra thời kỳ mới cho đất nước
Việt Nam, xóa bỏ hoàn toàn chế độ nửa thuộc địa phong kiến, lập nên Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước của nhân dân lao động do Đảng
lãnh đạo. Cùng với việc củng cố, bảo vệ chính quyền non trẻ, Đảng và Nhà
nước ta đã quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng và áp dụng pháp luật để bảo
vệ Tổ quốc. Do chưa thể có ngay các văn bản pháp luật để điều chỉnh các
quan hệ xã hội ở đất nước mới được giải phóng, Chính phủ nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10 tháng 10 năm 1945 về
việc tạm thời sử dụng luật lệ cũ với điều kiện không được trái với nguyên tắc
độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa. Sắc lệnh này là
biện pháp hết sức kịp thời nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những xáo trộn
trong cuộc sống của nhân dân, đồng thời đảm bảo duy trì trật tự xã hội, không
phương hại đến nền độc lập và nền dân chủ cộng hòa của đất nước mới giành
được chính quyền. Do hoàn cảnh chiến tranh và sự thiếu kinh nghiệm xây
dựng pháp luật, trong suốt một thời gian dài, để điều chỉnh các quan hệ phát
sinh trong xã hội, các chế tài hình sự ở giai đoạn này, là một tập hợp các văn
bản đơn hành với nhiều hình thức tên gọi như sắc lệnh, thông tư, điều lệ... mà
chưa thể cho ra đời một chính sách Luật hình sự được pháp điển hóa.
Ngay khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, tiền đồng cũng
chính thức được in và lưu thông để khẳng định chủ quyền của đất nước tự do.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status