Nghiên cứu thành phần loài tuyến trùng ký sinh trên cây lạc ở tỉnh hưng yên - Pdf 36

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các cây công nghiệp ngắn ngày đang được sản xuất ở Việt Nam thì cây
Lạc có một vị trí rất quan trọng. Cây Lạc, còn được gọi là Đậu phộng hay Đậu
phụng (tên khoa học là Arachis hypogaea), là một loài cây thực phẩm thuộc họ
Đậu có nguồn gốc tại Trung và Nam Mỹ. Sản phẩm của cây lạc rất giàu lipit,
protein dùng làm thức ăn cho người và gia súc, dầu lạc cũng được sử dụng trong
công nghiệp. Ngoài tiêu dùng nội địa, sản phẩm của cây lạc còn là mặt hàng xuất
khẩu có giá trị kinh tế cao, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 100.000-135.000 tấn
thu về 65-120 triệu USD [26].
Cây lạc được trồng khá phổ biến tại Việt Nam, trong đó tỉnh Hưng Yên là một
trong những tỉnh trồng nhiều nhất. Nằm gọn trong một ô trũng thuộc đồng bằng
sông Hồng, được cấu tạo bằng các trầm tích thuộc kỷ Đệ Tứ, với chiều dài 150m 160m và đất đai trong tỉnh được hình thành do phù sa sông Hồng bồi đắp. Thành
phần cơ giới của đất khá đa dạng từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha nhiễm chua.
Bên cạnh tài nguyên đất đai, tỉnh Hưng Yên còn có nguồn tài nguyên nước khá
phong phú, có thể cung cấp nước trực tiếp cho nông nghiệp qua các hệ thống
sông ngòi tự nhiên và hệ thống trung đại thuỷ nông Bắc - Hưng - Hải. Với những
ưu thế đó thì cây lạc được chú trọng quan tâm đặc biệt bởi nó phù hợp với điều
kiện tự nhiên của tỉnh Hưng Yên.
Thành phần sinh hoá của hạt lạc có thể thay đổi phụ thuộc vào giống, vào sự
biến động các điều kiện khí hậu giữa các năm, vào vị trí của hạt ở quả, các yếu tố
không bình thường như: sâu bệnh hại, và phương pháp phân tích khác nhau
cũng ảnh hưởng đến thành phần sinh hoá của hạt lạc [1].
Các loại bệnh hại trên cây lạc chủ yếu do các loài sâu, rệp, vi khuẩn... gây ra
và còn một loại bệnh nữa do tuyến trùng gây ra cũng gây hại không kém tới
năng suất cây trồng. Tuyến trùng gây thiệt hại ở tất cả các khu vực trồng cây lạc

1


trên thế giới. Theo khảo sát của các nhà tuyến trùng học, tổn thất hàng năm gây

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về tuyến trùng ký sinh cây lạc trên Thế giới
Tuyến trùng ký sinh thực vật là nhóm tuyến trùng chủ yếu sống trong đất và
có qua hệ chặt chẽ với thực vật đang phát triển. Chúng sống và ký sinh ở tất cả
các phần của thực vật, bao gồm rễ, thân, lá và các hoa của thực vật đang phát
triển. Do quá trình sống và sinh sản trên hoặc trong cơ thể thực vật, tuyến trùng
có thể gây ra nhiều biến đổi theo chiều hướng bất lợi đối với thực vật-cây chủ
như phá hủy mô thực vật, tạo các vết thương, các biến đổi về sinh lý…Ngoài tác
hại trực tiếp trên, chúng còn có mối quan hệ với các tác nhân gây bệnh khác, từ
đó làm giảm khả năng miễn dịch của thực vật [4].
Tuyến trùng thuộc ngành Nemata, trong đó tuyến trùng ký sinh thực vật gồm
các loài tuyến trùng ở 4 bộ, khác nhau về cấu tạo hình thái, giải phẫu và tính
chất ký sinh ở thực vật. Bộ Tylenchida: bao gồm hầu hết các loài tuyến trùng là
đại diện cho các nhóm ký sinh ở các phần khác nhau của thực vât. Bộ
Aphelenchida: gồm một số loài tuyến trùng ký sinh ở các phần trên mặt đất của
cây như lá, hoa. Bộ Dorylaimida: gồm các loài họ Longidoridae là nhóm tuyến
trùng ngoại ký sinh thực vật, một số loài có khả năng mang truyền virus. Bộ
Triplonchida: gồm các loài của 2 họ Trichodoridae và Diphterophoridae là nhóm
ngoại ký sinh thực vật, nhiều loài có khả năng mang truyền virus. Trong đó bộ

3


Tylenchida là nhóm tuyến trùng ký sinh đông đảo nhất và có tầm quan trọng
nhất trên phạm vi toàn thế giới [4].
Theo báo cáo tổng quan của các nhà nghiên cứu về tuyến trùng học, cho đến
nay đã xác định hàng trăm loài tuyến trùng ký sinh gây thiệt hại trên cây lạc tại
nhiều khu vực khác nhau trên thế giới, trong đó phổ biến nhất là: Meloidogyne
spp., Pratylenchus brachyurus, Belonolaimus longicaudatus, Criconemella
ornata, Aphelenchoides arachidis, Aphasmatylenchus straturatus, Scutellonema
cavenessi, Tylenchorhynchus brevilineatus và Ditylenchus destructor [26].

của rễ khi có một số lượng lớn đi vào diện tích giới hạn của rễ [9].
Minton (1963) đã nghiên cứu sự lây nhiễm và mô bệnh học của M. arenania
trên cây lạc. Chúng gây nhiễm vào rễ lạc với ấu trùng tuổi 2 của M. arenania thì
sẽ phát triển rất nhanh sau 2 ngày. Chỉ sau 8 ngày các tế bào phát triển lớn, đa
nhân và mật độ dày đặc. Các tế bào gần chỗ tuyến trùng xâm nhập bắt đầu phân
chia nhanh chóng và tăng về kích thước rồi phình to ra dẫn đến mất tổ chức của
mô mạch. Sự xuất hiện các nốt sần ở rễ giống như các u mô nhỏ của tế bào có liên
quan tới tuyến trùng bao bên ngoài của trụ rễ, chúng được nhân rộng và phát
triển ra ngoài vỏ. Các tế bào lân cận của vỏ tế bào cũng đã bị phá hủy bởi sự
nhân lên nhanh chóng của mật độ tuyến trùng và các mô tế bào bắt đầu bị hoại
tử, sự phát triển về chiều dài của rễ bị hạn chế bởi những u nốt trên rễ, chức
năng vận chuyển nước và chất dinh dưỡng của rễ cũng bị phá hủy [26].
Tất cả sự thay đổi về cấu tạo giải phẫu bởi M. javanica trên các tế bào rễ cây
lạc chính là sự tăng nhanh và phình to ra của các tế bào mà kết quả là do sự hình
thành của các tế bào khổng lồ đa nhân ở vỏ và thân của rễ. Các nốt sần trên rễ và
củ lạc do M.arenaria và M. javanica thường giống nhau và lớn hơn so với các nốt
sần do

M. hapla [9,19]. Các nốt sần được tạo ra bởi M. arenaria và M. javanica

có thể có đường kính lớn gấp vài lần so với các rễ bên cạnh, do đó nó ít mở rộng
hơn so với các rễ nhánh không bị nhiễm. Sakhuji và Sethi (1985) quan sát ở các
rễ bị nhiễm bởi

M. javanica thì chúng tăng lên nhanh chóng từ 2 đến 5 lần so

với các rễ bên cạnh ở tất cả vị trí. Nốt sần tạo ra do Rhizobium trên rễ cây lạc có
thể được chẩn đoán nhầm giống như nốt sần do tuyến trùng gây ra nhưng thực
tế chúng lại rất khác nhau [32].


kiểm tra về quần thể M. arenaria, M. javanica, M. hapla đang ký sinh trên cây lạc
từ các vùng tách biệt nhau về địa lý trên thế giới, Sasser (1972), Taylor & Sasser
(1978) và Eisenback & cs.(1981) đã chia M. arenaria thành 2 chủng trong đó một
chủng sinh sản được trên cây lạc còn một chủng thì không. Chủng chủ yếu thuộc
loài M. arenaria có sự phân bố rộng rãi trên thế giới và hình thái của chúng rất
khó phân biệt (Sasser, 1979a; Osman & cs., 1985). Phản ứng của M. javanica và
M. hapla trên các cây chủ khác nhau tương đối đồng đều, do đó các chủng khác
nhau rất khó được phát hiện, mặc dù cũng có một vài biến đổi trong quần thể
của M. javanica được ghi nhận. Hầu hết quần thể của M. javanica không sinh sản
được trên cây lạc. M. javanica đã được báo cáo là lây nhiễm trên cây lạc tại
Zimbabwe và Malawi (Martin, 1958), Georgia, USA (Minton & cs., 1969b) và
Brazil (Lordello & Gerin, 1981) [10, 32, 33].
Sự tồn tại của tuyến trùng sần rễ và phương thức lan truyền: Orr & Newton
(1971) đã tìm thấy ấu trùng của Meloidogyne trong 28 chi thu được từ việc lấy
mẫu cách 2m dưới đất ở khu vực phía Tây bang Texas. Nó được phân tán theo
dòng chảy của nước và hoạt động tưới tiêu cây trồng nhưng phần lớn chúng
được lan truyền rộng rãi do hoạt động của con người. Chúng có thể được lây lan
khi đào bới các cây lạc tươi, bao gồm cả củ và rễ lạc, nhưng nói chung chúng
không tồn tại trong củ lạc có vỏ quá khô. Nếu việc làm đất không kỹ và không
được khô hoàn toàn thì đó có thể là nơi ẩn náu cho trứng phát triển và ấu trùng
sẽ được lây nhiễm trở lại vào cây chủ. Đất từ các khu vực bị nhiễm bệnh có thể bị
lây vào các khu vực khác khi chúng được đào xới bằng các phương tiện vận
chuyển hoặc sự đi lại của vật nuôi, con người cũng có thể là nguồn gốc cho trứng
và ấu trùng phát triển [15].

7


Các yếu tố môi trường ảnh hướng tới hoạt động ký sinh của tuyến trùng:
Nhiệt độ được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự tồn tại và hoạt động ký

sẽ hoạt động rất mạnh (Wallace, 1971). Zhang (1985) cho rằng việc bổ sung để
làm thay đổi thành phần các chất hữu cơ trong đất có thể làm giảm mức độ sinh
sản của M. arenaria [44].
Tổ hợp gây bệnh: Garcia và Mitchell (1975a) đã quan sát mức độ phức tạp
trong tỷ lệ bệnh thối quả lạc khi Pythium myriotylum kết hợp với Fusarium
solani hoặc M. arenaria hoặc sự kết hợp của các tác nhân gây bệnh khác. Garcia
và Mitchell (1975b) cũng thông báo sự kết hợp giữa nấm P. myriotylum và tuyến
trùng M. arenaria làm cho tỷ lệ cây bị đổ ngang nhiều hơn so với các tác nhân
gây bệnh riêng biệt. Khi cho nhiễm vào cây lạc từ 2g-4g sợi nấm F. solani cùng
với 1000-2000 M. arenaria sẽ làm cây héo sớm hơn so với khi tiêm một mình F.
solani (Patel & cs.,1985). Kết quả nghiên cứu 2 năm trong chậu đất cho thấy sự
hiện diện của

M. arenaria không có ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm Aspergillus

flavus trong hạt lạc (Minton & Jackson, 1967). Thí nghiệm của Minton & cs.
(1969a) cũng cho thấy lệ nhiễm của A. flavus lớn hơn trong hạt giống của cây khi
chủng đồng thời cả A. flavus và M. hapla so với cây chỉ cho nhiễm A. flavus [31].
Tầm quan trọng và mức độ thiệt hại về mặt kinh tế: Thông tin về tầm quan
trọng kinh tế của Meloidogyne ký sinh trên cây lạc không có sẵn ở một số khu vực
trên thế giới. Ước tính năng suất thiệt hại do một loài tuyến trùng gây ra thường
tương đối khó khăn vì thiệt hại năng suất không phải do một loài tạo ra mà
thường là sự kết hợp của nhiều loài đồng thời gây ra.Ở Georgia, Motsinger & cs.
(1976) đã tìm thấy 9,7% của 12 khu vực khảo sát đã bị tàn phá bởi M. arenaria
hoặc M. hapla. Trong 11 vùng ở Alabama, Ingram và Rodriguez-Kabana (1980)
đã tìm thấy 41,4% các vùng khảo sát bị tàn phá bởi các loài Meloidogyne [13].
Thiệt hại trong các khu vực bị tàn phá có thể vượt quá 50%, tuy nhiên thiệt
hại thường phân bố không đều và tổn thất trung bình có thể ít hơn 50%. Gần đây,
thiệt hại ước tính do M. arenaria trong rễ chính của cây lạc tại những vùng sản
xuất dao động từ 0,5% ở Oklahoma tới 5,4% ở Alabama. Thiệt hại do M. hapla

sự xuất hiện của P. brachyurus ở Alabama, Mỹ vào năm 1942. Và hiện nay chúng
lây nhiễm hầu hết các vùng trồng cây lạc trên nước Mỹ và một số nơi khác trên
thế giới bao gồm Ai Cập (Oteifa, 1962), Aus tralia (Colbran, 1968) và Zimbabwe

10


(Anon, 1973). Ngoài ra, P. coffee cũng gây hại trên cây lạc tại Ấn Độ (Chabra &
Mahajan, 1976) [29].
Triệu chứng gây hại: P. brachyurus là tuyến trùng nội ký sinh trong rễ, củ và
vỏ lạc. Steiner (1945) & Boyle (1954) đã mô tả thấy rõ sự lây nhiễm của chúng
trong vỏ lạc. Good & cs. đã chỉ ra P. brachyurus ký sinh trong rễ và củ giống như
ký sinh trong vỏ củ lạc trưởng thành, nhưng số lượng ký sinh trong vỏ nhiều hơn
vì ở đó có các nốt hoại tử tối màu. Vài trăm tuyến trùng P. brachyurus có thể xâm
chiếm tạo ra một tổn thương duy nhất và lây nhiễm ở tất cả các giai đoạn phát
triển. Khi chúng lây nhiễm được vào rễ thì số lượng sẽ tăng lên nhanh chóng, kết
quả làm cho cây héo vàng và ảnh hưởng tới năng suất cây lạc [20].
Trong thí nghiệm được tiến hành với đất vô trùng và sau đó lây nhiễm
P. brachyurus vào thì Boswell (1968) đã phát hiện ra rằng tuyến trùng đã trui
qua vỏ có màu vàng nhạt mỏng manh đến màu nâu bên trong vỏ để xuất hiện
trong hạt. Tổn thương đặc trưng trên mô vỏ là các lỗ nhỏ màu đen và gần chỗ
tổn thương thì màu sắc các mô nhạt dần hơn so với phần trung tâm. Kiểm tra
chặt chẽ màu sắc của các tổn thương thì thấy rằng nguyên nhân chủ yếu là do
hoại tử nhu mô. Mức độ tổn thương gây ra bởi tuyến trùng không rõ ràng như
mức độ tổn thương được gây ra khi Rhizotonia solani có mặt. Tổn thương bị gây
ra bởi 2 sinh vật trên được mô tả khá đơn giản vì chỉ xuất hiện các đốm màu nâu
chuyển thành màu đen bên trong các khu vực hoại tử. Các tổn thương có một
giới hạn nhất định mặc dù hình dạng của chúng có thể không ổn định. Tổn
thương bị nhiễm cả P. brachyurus và R. solani thì khi kiểm tra bằng kính hiển vi
cho thấy sự hiện diện của hạch nấm. Boswell (1968) đã mô tả các triệu chứng

trùng sống. Ngoài ra, dòng chảy của mạch nước ngầm cũng như nước tưới tiêu
là một nguyên nhân dẫn đến lây lan tuyến trùng trong đất [23].
Yếu tố môi trường ảnh hưởng tới việc ký sinh của tuyến trùng: Sự phân bố và
ký sinh của P. brachyurus có liên quan tới nhiệt độ và thường cư trú ở những nơi
nóng lên của thế giới (Loof, 1964). Boswell (1968) đã nghiên cứu được mức độ
sinh sản tối ưu của tuyến trùng trong rễ và vỏ củ lạc ở nhiệt độ thích hợp là 26 0C.
Loại đất cũng có thể ảnh hưởng đến ký sinh của P. brachyurus trên cây lạc. Độ ẩm
của đất cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của P. brachyurus trên cây lạc
(Good & Stansell, 1965) [20].
Biện pháp phòng trừ: Thiệt hại năng suất do P. brachyurus gây ra trên cây lạc
là tương đối nhỏ so với số lượng các khu vực bị nhiễm. Do đó, việc phòng trừ
tuyến trùng này trên cây lạc đã không được tiến hành rộng rãi, ngoại trừ trong
một số lĩnh vực bị nhiễm nghiêm trọng và gây thiệt hại nặng với cây trồng [29].
Biện pháp canh tác: Nói chung, luân canh cây trồng để phòng trừ P.
brachyurus trên cây lạc không có hiệu quả vì tuyến trùng có khả năng ký sinh
rộng rãi trên các loại cây trồng và cỏ dại. Và cũng bởi vì có rất ít cây có thể luân
canh được với cây lạc mà không bị nhiễm tuyến trùng. Good & cs.(1954) đã tìm
thấy rằng số lượng của

P. brachyurus trong cây ngô lớn hơn so với cây lạc khi

trồng xen canh ngô với lạc. Ngoài ra, ông còn quan sát thấy rằng nếu thu hoạch
lạc kịp thời sẽ loại bỏ

P. brachyurus so với các vùng thu hoạch trễ, do đó

tuyến trùng sót lại trong đất ít và sẽ không lây nhiễm các vụ tiếp theo. Boswell
(1968) cũng cho thấy thu hoạch kịp thời gia tăng năng suất và giá trị của cây lạc
so với thu hoạch trễ. Good & Stansell (1965) cho thấy cây lạc bị nhiễm P.
brachyurus trên đất không được tưới tiêu sẽ có năng suất cao hơn so với cây lạc

trọng vì trong vòng chưa đầy 5% của khu vực trồng cây lạc đã bị nhiễm [12, 13,
15].
Triệu chứng: B. longicaudatus ký sinh bên ngoài, dọc theo hai bên của rễ
mọng nước cũng như trên vỏ hạt non. Tổn thương hoại tử nhỏ có thể được quan
sát thấy trên rễ, củ (Owens, 1951). Esser (1976) thấy rằng khi bị nhiễm tuyến
trùng thì gốc rễ sẽ bị sưng và uốn ngược lên trên. Nếu nhiễm nặng có thể gây ra
rễ cong queo và chỉ có rễ cái còn lại (Owens, 1951). Biểu hiện trên mặt đất
thường thấy cây bị còi cọc và úa vàng. Tăng trưởng cây lạc có thể không đồng
đều trong khu vực bị nhiễm chủ yếu. Năng suất và chất lượng của cây lạc có thể
giảm nghiêm trọng [18].

14


Hình 1.3. Hệ thống rễ cây lạc bị giảm đáng kể do loài tuyến trùng B.
longicaudatus
ký sinh gây ra (theo J.N. Sasser, 1960)
Phương thức tồn tại: Sự phân bố hạn chế của B. longicaudatus có thể do một
số hạn chế sinh học và môi trường ảnh hưởng đến sự phát tán của chúng. Kết
quả nghiên cứu cho thấy rằng kết cấu của đất, nhiệt độ đất và độ ẩm của đất là
rất quan trọng trong quá trình sinh sản của tuyến trùng. B. longicaudatus có thể
dễ dàng tồn tại trong môi trường mới với điều kiện thuận lợi. Nó có thể di chuyển
sang một địa điểm khác bằng phương pháp vận chuyển đất như các thiết bị nông
nghiệp, chân động vật, nước và cấy ghép mà đất đã bị nhiễm tuyến trùng [16].
Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến việc ký sinh: Sự phân bố hạn chế của
B. longicaudatus cho thấy rằng các yêu cầu về mặt sinh thái của nó có thể rất cụ
thể. Thames (1959) mặc nhiên công nhận rằng với kết cấu đất tốt thì sẽ gia tăng
mức độ di chuyển và sinh sản của nó. Miller (1972a) đã tìm thấy B. longicaudatus
trong đất trồng cây lạc ở Virginia nơi đất có hàm lượng cát 84-94%. Nhiệt độ và
độ ẩm đất cũng ảnh hưởng đến sự sinh sản và sự sống còn của B. longigcaudatus.

cây lạc ở Georgia (Boyle, 1950; Machmer, 1953).Và hiện giờ chúng được tìm thấy
với tỷ lệ lớn ở các vùng sản xuất lạc của Mỹ.Tuyến trùng Criconemella đã được

16


tìm thấy ở Burkina Faso (Germani & Dhery, 1974), Ai Cập (Ibrahim & El-Saedy,
1976) [21].

Hình 1.4. Con cái và trứng của loài tuyến trùng C. ornata (theo Minton &
Bell.,1969)
Triệu chứng: Machmer (1953) đã mô tả cây lạc bị úa vàng ngày càng tăng ở
Georgia trong đất bị nhiễm khuẩn mạnh với một loài Criconemella mà ông gọi là
bệnh "úa vàng lạc". Mặc dù ông không xác định loài nhưng nó có thể là C. ornata.
Barker & cs.(1982) thông báo cây lạc trồng trong nhà kính cũng có hiện tượng
úa vàng và rễ, củ, vỏ củ của cây lạc bị nhiễm khuẩn mạnh với C. ornata đã đổi từ
màu vàng sang màu nâu với tổn thương lớn hơn. Tổn thương nhỏ thường không
thấy rõ, nhưng với tổn thương lớn thì thường mở rộng sâu vào mô khiến nhiều
rễ và rễ cái bị chết, dẫn đến giảm số lượng rễ của cây. Từ đó, sản lượng cây lạc từ
các khu vực bị nhiễm tuyến trùng đã giảm khoảng một nửa [27].
Phương thức tồn tại phổ biến: Các thông tin liên quan đến các yếu tố ảnh
hưởng đến sự sống còn của C. ornata thường rất ít và bị hạn chế. Một số thí
nghiệm đã được thực hiện để tìm ra loại đất thích hợp cho thấy chúng thích hợp
với loại đất nhẹ (Barker, 1974) và số lượng sẽ giảm nhanh chóng nếu đất nghèo
dinh dưỡng. Sự phát tán của C. ornata thường xảy ra chủ yếu khi vận chuyển đất

17


trên thiết bị nông nghiệp, chân của động vật, trong nước và trong đất bám vào


thực hiện và cũng chưa có giống cây lạc nào kháng được tuyến trùng trên. Một
số cây trồng như bông, đậu tương, ngô và lúa được trồng luân canh với cây lạc
để có thể làm giảm mức độ số lượng của loài tuyến trùng này. Ngoài ra, hai
phương pháp điều trị tuyến trùng là xông khói và không xông khói cũng có hiệu
quả chống lại tuyến trùng này [23].
Loài Tylenchorhynchus brevilineatus
T. brevilineatus lần đầu tiên được quan sát thấy hại trên cây lạc vào năm
1976 ở khu vực Kalahasti Andhra Paradesh, Ấn Độ. Vì thế, các bệnh do tuyến
trùng này gây ra được gọi là "căn bệnh Kahahasti". Từ năm 1976, căn bệnh này
đã được phổ biến rộng rãi trong khu vực Kalahasti và cũng đã được quan sát
thấy ở quận Nellore ở bang Andhra Pradesh. Tuy nhiên trên thế giới, bệnh do
tuyến trùng này gây ra chưa bao giờ được báo cáo là một dịch hại đối với các
khu vực trồng cây lạc trên thế giới [9, 16].
Triệu chứng: Các triệu chứng bệnh được đặc trưng bởi vỏ nhỏ và đổi màu
nâu đen trên bề mặt vỏ. Tổn thương nhỏ màu vàng nâu xuất hiện trên bề mặt củ
và vỏ. Từ đó, năng suất giảm sút do sự phát triển tế bào chủ xung quanh tổn
thương. Trong giai đoạn phát triển của bệnh thì chiều dài của vỏ bị giảm đi rất
nhiều, bề mặt vỏ trở nên hoàn toàn bị đổi màu, nhưng hạt giống từ củ bị bệnh
đều khỏe mạnh [15].
Biện pháp phòng trừ: Aldicarb (10G) và Carbofuran (3G) áp dụng sau khi
trồng cây lạc được 20 ngày nhằm phòng trừ với liều lượng là 2.0, 4.0, 6.0 và 8.0
kg a.i / ha. Các phương pháp trên nhằm làm giảm mật độ số lượng của tuyến
trùng

T. brevilineatus trong đất và tỷ lệ quả bị bệnh [16].

Loài Ditylenchus destructor
D. destructor lần đầu tiên được báo cáo là tuyến trùng gây thiệt hại làm thối
khoai tây vào năm 1988. Một cuộc khảo sát tiếp theo đã tìm thấy sự xuất hiện

một vector lây bệnh và chỉ ra Longicaudatus siddiqii có mặt trong các mẫu đất.
Gần đây hơn, Singh và Sakhuja (1984) ở Ấn Độ đã thử nghiệm mức độ giảm bệnh

20


của tuyến trùng là 97% và 84,1% với DBCP và aldicarb 3 kg a.i / ha. Và mẫu đất
thu thập từ vùng rễ của cây bị bệnh luôn luôn có mặt của Paralongidorus citri.
Thỉnh thoảng, loài Helicotylenchus, Tylenchorhynchus và Hoplolaimus cũng có
mặt [36].
Hướng nghiên cứu trong tương lai
Thiệt hại năng suất do tuyến trùng ký sinh trên cây lạc xảy ra ở tất cả các
vùng sản xuất lớn trên thế giới. Ước tính thiệt hại là 12%, rõ ràng là tổn thất rất
lớn và những nỗ lực để giảm bớt những thiệt hại là điều cần thiết [26].
Loài Meloidogyne là các tuyến trùng lớn làm hư hại cây lạc ở hầu hết các khu
vực trên thế giới, nhưng ở một số vùng như ở phía tây Châu Phi, các loài khác có
thể gây hại nghiêm trọng hơn.Ví dụ ở Senagal, các loài Meloidogyne không gây
thiệt hại trên cây lạc và thường được trồng luân canh với các cây trồng khác
nhằm giảm số lượng tuyến trùng M. arenaria. Một số tuyến trùng như A.
arachidis, A. straturatus,

S. cavenessi, T. brevilineatus và D. destructor đã

được báo cáo là gây thiệt hại nghiêm trọng trên cây lạc tại các khu vực cách ly
của Châu Phi và Châu Á nhưng không phải là tác nhân chính trong các khu vực
khác trên thế giới. Belonolaimus longicaudatus là một tác nhân gây bệnh chính
trên cây lạc ở một số khu vực của Hoa Kỳ.
Câu hỏi có thể được đặt ra là tại sao những tuyến trùng này lại được báo cáo
là tác nhân gây hại duy nhất trên cây lạc ở các khu vực này và khả năng trở
thành dịch bệnh của chúng trong các khu vực khác trên thế giới là gì [37].

ký sinh phổ biến nhất là Macroposthonia magnifica, với mật độ ký sinh tới 100 cá
thể trên một mẫu (500 gr đất gần rễ) gây lá vàng, một số nơi như Nam Định,
Nghệ An mật độ tuyến trùng ký sinh từ 1.500-10.000 cá thể trong một mẫu đất có
thể làm cây lạc chết từng đám. Ngoài loài trên đây một số loài tuyến trùng khác
cũng khá phổ biến là Tylenchorhynchus marshoodi, Pratylenchus coffeae với mật
độ ký sinh lên đến hàng trăm cá thể trong mỗi mẫu.

22


Công trình nghiên cứu sau đó của Sharma & cs. (1994), đã điều tra tuyến
trùng ký sinh cây lạc ở 25 địa điểm thuộc 5 huyện của tỉnh Nghệ An đã xác định
được 31 loài tuyến trùng ký sinh thuộc 25 giống. Trong đó, 3 nhóm loài ký sinh
phổ biến hơn cả là Macroposthonia ornata, Tylenchorhynchus annulatus và các
loài Pratylenchus spp. Loài M. ornata được coi là quan trọng nhất vì có tỷ lệ
nhiễm trong 93% mẫu đất khảo sát và chiếm ưu thế trong 32% các địa điểm.
Hiện tượng đỉnh rễ cây lạc bị sưng có liên quan đến sự hiện diện của loài M.
ornata. Loài Tylenchorhynchus annulatus có mặt trong 80% số mẫu nhưng mật
độ thường thấp (dưới 250 cá thể trên mẫu 500cm³ đất xung quanh rễ) . Các loài
P. brachyurus và P. zeae khá đa dạng trong phân bố, trong đó P. brachyurus khá
phổ biến trong đất cát ven biển trong khi loài P. zeae ưa thích đất mùn ở vùng đồi
núi trung du. Tuyến trùng bào nang giống Heterodera cũng đã được tìm thấy
trong 43% các mẫu đất, nhưng rễ cây lạc không có biểu hiện của u nang. Nhóm
tuyến trùng sần rễ Meloidogyne có 3 loài là M. graminicola, M. javanica và
Meloidogyne spp. đã được tìm thấy trong 77% các địa điểm khảo sát. Quần thể
của các loài này đã bị nghi ngờ làm ảnh hưởng đến sản xuất lúa thường trồng
luân canh với cây lạc. Trong số tuyến trùng ở cây lạc Nghệ An có tới 21 loài được
xác định lần đầu tiên trên cây lạc Việt Nam và 8 loài trong số này đã không được
báo cáo trước đây ở bất kỳ nước nào.
Như vậy mặc dù mới có một số nghiên cứu ban đầu về tuyến trùng ký sinh ở

Chính vì vậy với những điều kiện thuận lợi trên nên cây lạc đã được trồng rất
nhiều tại Hưng Yên nhưng có 3 vùng trọng điểm với diện tích trồng lạc lớn là:
TP. Hưng Yên, Kim Động, Khoái Châu. Vì thế, chúng tôi đã tập trung thu mẫu và
nghiên cứu về tuyến trùng lạc tại 3 khu vực chính này.
Tình hình sản xuất cây lạc trong những năm gần đây ở tỉnh Hưng Yên
Theo số liệu báo cáo mới nhất của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
tỉnh Hưng Yên cho thấy diện tích trồng cây lạc tại các huyện trong tỉnh như sau:
Bảng 1.1. Diện tích trồng cây lạc ở tỉnh Hưng Yên trong năm 2012, 2013
Đơn vị tính: ha

24


Huyện, thành phố

Tổng diện tích
đất trồng

Diện tích lạc
Năm 2012

Diện tích lạc
2013

Mỹ Hào

35

Văn Lâm


Ân Thi

190

Kim Động

1.386

105

108

Tiên Lữ

815

28,3

40

Phù Cừ

630

TP. Hưng Yên

567

123,81


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status