ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-----------------------------
Nguyễn Thanh Tâm
XÂY DỰNG PHƢƠNG PHÁP PHÁT HIỆN MỘT SỐ CHỦNG
HUMAN PAPILLOMAVIRUS NGUY CƠ CAO GÂY UNG
THƢ CỔ TỬ CUNG Ở VIỆT NAM BẰNG KỸ THUẬT
REALTIME PCR
LUẬN VĂNTHẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------
Nguyễn Thanh Tâm
XÂY DỰNG PHƢƠNG PHÁP PHÁT HIỆN MỘT SỐ CHỦNG
HUMAN PAPILLOMAVIRUS NGUY CƠ CAO GÂY UNG
THƢ CỔ TỬ CUNG Ở VIỆT NAM BẰNG KỸ THUẬT
REALTIME PCR
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60420114
LUẬN VĂNTHẠC SĨ KHOA HỌC
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Tâm – K22
BẢNG KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ADN/ ARN (Deoxi)ribonucleic acid
Vật chất di truyền
Primer
Mồi
-
HPV
Human Papillomavirus
Papillomavirus gây bệnh trên người
Hr-HPV
Primer ngược
ORF
Open Reading Frame
Khung đọc mở của gen
ORI
Origin
Vị trí khở đầu tái bản
OD
Optical density
Mật độ quang của mẫu ADN
URR
Upstream Regulatory Region
Vùng điều hòa của gen
UTCTC
-
các chủng HPV 16, 18 và 33/52 .......................................................................................... 29
2.2.3 Thẩm định phương pháp phát hiện chủng HPV16, 18, và 33/52................................ 32
2.3 Nội dung thực hiện ....................................................................................................... 34
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ....................................................................... 35
3.1 Xây dựng kỹ thuật Realtime PCR phát hiện các chủng HPV 16, 18 và 33/52 ....... 35
3.1.1 Kỹ thuật realtime PCR đơn cặp primer và probe ........................................................ 35
3.1.2 Kỹ thuật realtime PCR đa cặp primer và probe .......................................................... 40
3.2. Tạo chứng dƣơng và xác định giới hạn phát hiện của kỹ thuật realtime PCR phát
hiện các chủng HPV 16, 18 và 33/52................................................................................. 42
3.2.1 Khuếch đại trình tự đích ............................................................................................. 42
3.2.2 Nhân dòng gen tạo chứng dương ................................................................................ 43
3.2.3 Xác định giới hạn phát hiện của kỹ thuật Realtime PCR ........................................... 48
3.3 Thẩm định phƣơng pháp phát hiện các chủng HPV16, 18 và 33/52 ....................... 50
3.3.1 Xác định độ chính xác của kỹ thuật realtime PCR phát hiện các chủng HPV16, 18 và
33/52 .................................................................................................................................... 51
3.3.2 Xác định độ chụm (hệ số tái lâp và hệ số lặp lại) của kỹ thuật realtime PCR phát hiện
các chủng HPV16, 18 và 33/52 .......................................................................................... 52
3.3.2.1 Xác định hệ số lặp lại của phương pháp .................................................................. 52
3.3.2.2 Xác định hệ số tái lập của phương pháp .................................................................. 56
3.3.3 Xác định độ đặc hiệucủa kỹ thuật realtime PCR phát hiện các chủng HPV16, 18 và
33/52 .................................................................................................................................... 60
3.3.4 Xác định độ nhạycủa kỹ thuật realtime PCR phát hiện các chủng HPV16, 18 và 33/52
............................................................................................................................................. 61
KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 67
KIẾN NGHỊ ........................................................................................................................ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 68
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Hạt vi rút của HPV ……………………………………………………………...3
Hình 1.2. Cấu trúc bộgen của Papillomavirus và HPV 16 ……………………………….4
Hình 1.3. Cây phả hệ của 118 genotype của Papilomavirus dựa trên trình tự gen vùng L1
ORF ......................................................................................................................................9
Hình 1.4. Tỷ lệ nhiễm HPV ở nữ giới trên thế giới .......................................................... .12
Hình 1.5. Chu kỳ nhân lên của HPV …………………………………………………….16
Hình 1.6. Phương pháp lai phân tử phát hiện HPV ............................................................21
Hình 3.1. Đường biểu diễn tín hiệu huỳnh quang của phản ứng Realtime PCR đơn cặp
primer và probe phát hiện HPV16 ……………………………………………………….35
Hình 3.2. Đường biểu diễn tín hiệu huỳnh quang của kỹ thuật realtime PCR đơn cặp primer
và probe phát hiện HPV18 ………………………………………………………………36
Hình 3.3. Đường biểu diễn tín hiệu huỳnh quang của kỹ thuật realtime PCR đơn cặp primer
và probe phát hiện HPV33/52 …………………………………………………………...37
Hình 3.4. Đường biểu diễn tín hiệu huỳnh quang của kỹ thuật realtime PCR đơn cặp primer
và probe IC ………………………………………………………………………………39
Hình 3.5. Đường biểu diễn tín hiệu huỳnh quang của kỹ thuật realtime PCR 4 cặp primer
và probe phát hiện HPV16, 18 và 33/52 …………………………………………………40
Hình 3.6. Ảnh điện di sản phẩm khuếch đại trình tự HPV16E6-E7, HPV18L1 …………41
Hình 3.7. Ảnh điện di sản phẩm khuếch đại trình tự HPV52L1 ………………………....42
Hình 3.8. Kiểm tra kết quả nhân dòng trình tư HPV16E6-E7 ...........................................43
Hình 3.9. Kết quả tinh sạch Plasmid mang đoạn chèn HPV16E6-E7 ..............................44
Hình 3.10. Kiểm tra kết quả nhân dòng trình tự HPV18L1 ..............................................44
Hình 3.11. Kết quả tinh sạch Plasmid mang đoạn chèn HPV18L1 ..................................45
Hình 3.12. Kiểm tra kết quả nhân dòng trình tự HPV52L1 ..............................................46
Hình 3.13. Kết quả tinh sạch Plasmid mang đoạn chèn HPV52L1 ..................................46
Hình 3.14. Kết quả kỹ thuật realtime đa cặp primer và probe với chúng dương ………..48
Hình 3.15. Đường biểu diễn tín hiệu huỳnh quang của thí nghiệm xác định độ chính xác
…………………………………………………………………………………………….51
Hình 3.16. Đường biểu diễn tín hiệu huỳnh quang của thí nghiệm xác định hệ số lặp lại
những nước đang phát triển[21]. Mỗi năm, Châu Á có thêm khoảng 312.000 bệnh
nhân UTCTC, chiếm 59% trường hợp mắc mới trên toàn thế giới – đặc biệt ở khu
vực Nam Á và Đông Nam Á, nơi có tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất trong châu lục[21,
34].Cùng với sự lây nhiễm HPV trong cộng đồng, UTCTC thực sự trở thành gánh
nặng bệnh tật toàn cầu, gây ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe và tâm lý của nữ giới.
Tại Việt Nam, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới năm 2012, UTCTC
hiện đang là loại ung thư chiếm tỷ lệ cao ở nữ giới, xếp thứ 2 trong số các loại ung
thư mà nữ giới độ tuổi 15-44 hay mắc phải, với hơn 5000 ca nhiễm mới (tỷ lệ:
8.1/100.000 phụ nữ) và tử vong hơn 2000 trường hợp mỗi năm[40]. Điều đặc biệt
quan tâm là phần lớn các trường hợp UTCTC thường được phát hiện ở giai đoạn
muộn, trong khi quá trình diễn biến từ nhiễm virus đến ung thư thường trải qua thời
gian dài. Quá trình tiến triển từ mức dộ loạn sản nhẹ, loạn sản vừa, loạn sản nặng
đến ung thư tại chỗ (giai đoạn tổn thương có thể phục hồi) đến giai đoạn ung thư
xâm nhập có thể kéo dài từ 10 – 25 năm[22].Đây chính là cơ hội cho việc phát hiện
nhiễm HPV, sàng lọc người có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung nhằm giúp quá
trình điều trị hiệu quả các tổn thương tiền ung thư và ung thư giai đoạn sớm.Hiện
nay ở Việt Nam, xét nghiệm tế bào mô bệnh học (Pap smear) đã được đưa vào
thành thường quy trong chương trình sàng lọc UTCTC, các xét nghiệm HPV cũng
đã phổ biến tuy nhiên chi phí còn cao đối với các kit chẩn đoán đã thương mại
hóavà yêu cầu đảm bảo chất lượng xét nghiệm với các xét nghiệm trong nước[8].
Với tầm quan trọng và ý nghĩa của việc xác định genotype HPV, cũng như
1
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Tâm – K22
xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đề tài “Xây dựng phƣơng pháp phát hiện một số
protein cấu trúc L1 kết hợp với một protein L2 (protein này là thành phần kháng
nguyên được sử dụng trong phản ứng miễn dịch đặc hiệu).
Hình 1.1.Hạt vi rút của HPV[14]
Cả hai protein cấu trúc đều do virus tự mã hóa: Protein capsid chính (L1) có
kích thước khoảng 55 kDa và chiếm khoảng 80% tổng số protein của virus. Protein
capsid phụ (L2) có kích thước khoảng 70 kDa[14].
1.1.2Đặc điểm sinh học phân tử
1.1.2.1 Cấu trúc hệ gen
HPV là virus có vật liệu di truyền là ADN, mạch đôi không hoàn chỉnh, tồn
tại dạng siêu xoắn hình vòng (circular ds-ADN).ADN của virus liên kết với histone
tạo thành cấu trúc phức hợp giống Chromatin (Chromatin-like conplex) nằm trong
lớp vỏ capsid protein.
3
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Tâm – K22
Hình 1.2.Cấu trúc bộgen của Papillomavirus và HPV 16[14]
Cấu trúc hệ gen của nhóm Pappillomavirus nói chung tương tự nhau ở các
loài vật chủ, tất cả các khung đọc mở ORF (Open Reading Frame) của virus đều
trên một chuỗi ADN, điều này có nghĩa là quá trình phiên mã chỉ xảy ra trên một
mạch duy nhất. Hệ gen của HPV có 8 khung đọc mở ORF, có thể chia thành 3 vùng
chức năng[26]:
1. Vùng mã hóa sớm (Early region) gồm 6 gen mã hóa, ký hiệu là E1, E2,
E4, E5, E6, E7 và các khung đọc mở ORF tương ứng. Sản phẩm của
vùng gen này là các protein chức năng giúp cho quá trình nhân lên ADN
tháo xoắn ADN (Helicase) và giúp chuổi gen của virus duỗi ra trong quá trình sao
chép. Hoạt động tháo xoắn ADN của E1 không cần ATP.
Khi xâm nhập vào trong tế bào, E1 và E2 đóng vai trò quan trọng trong điều
chỉnh quá trình sao chép của virus. Protein E2 còn có khả năng gắn với chuỗi ADN
đặc hiệu (ở vị trí E2-E2BSs) và protein E1. Tuy nhiên cả hai chức năng của protein
E2 đều do gen E1 điều chỉnh.
Chức năng gen E2
Ngoài chức năng trong sao chép ADN của virus, protein mã hoá bởi gen E2
còn đóng vai trò chủ đạo trong quá trình phiên mã cũng như trong quá trình điều
hòa giải mã và duy trì ADN virus ở ngoài NST. Chức năng điều hòa giải mã của E2
được thực hiện do sự gắn kết với E2BSs trong chuỗi gen của virus có ái lực với E2
và những vị trí liên quan này xác định hiệu quả của E2 trong quá trình giải mã
Trong hệ gen của nhóm HPV nguy cơ cao (HR-HPV), gen E2 mã hoá cho
protein có khả năng ức chế quá trình sao chéo bằng các yếu tố thúc đẩy biểu hiện
các gen ở vùng mã hóa sớm của virus, do đó khi nhóm HR-HPV cài gen vào trong
NST vật chủ sẽ làm tăng khả năng biểu hiện của gen gây ung thư E6, E7.
Chức năng của protein E1^E4 (quá trình splicing giữa gen E1 và
E4)
Giống như các protein khác của HPV, protein điều hòa E1^E4 là sản phẩm
được tạo ra từ mRNA kết nối chuỗi mã hóa 5 axit amin đầu tiên của E1 và ORF của
E4 khi mở vòngdịch chuyển gen E1 và E4. Protein này có chức năng giúp cho quá
trình trưởng thành và phóng thích vi rút ra khỏi tế bào mà không làm tan tế bào chủ.
ProteinE1^E4 chứa 3 dạng chính tác động vào chu kỳ sống của vi rút gồm:
(1) Dạng gen chứa nhiều leucine ở đầu tận cùng N liên quan đến keratin và cần thiết
cho nhân lên của ADN; (2) Vùng chứa nhiều proline ở đoạn trung tâm, chứa vị trí
threonine cần thiết cho khoảng nghỉ của chu kỳ tế bào tại giai đoạn G2/M và giải
5
số tương tác protein được mã hóa trên chuỗi E6 gồm: p53, protein liên quan đến E6
(E6AP), protein gắn với E6 (E6BP), c-myc, p300/CBP, paxillin, protein PDZ, yếu
tố điều hòa interferon 3 và đồng phân của Bcl-2 (Bak).
(2)
Tương tác với p53 thông qua sự liên kết giữa E6 và E6AP bằng liên
kết ligand, tạo ra thoái triển của p53 (yếu tố giải mã và ức chế ung thư, có vai trò
điều hòa chính hoạt động ức chế tổng hợp ADN thông qua chu kỳ nghỉ của tế bào).
Bình thường, khi có tín hiệu phá hủy tế bào hoặc có sự sai hỏng trong quá
trình nhân lên của ADN, gen ức chế ung thư p53 được hoạt hóa,dẫn đến dừng chu
6
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Tâm – K22
kỳ tế bào và gây chết tế bào theo chương trình (apotosis) thông qua hoạt động giải
mã của gen
Hơn nữa, E6 còn có khả năng gắn kết với protein PDZ dẫn đến sự thoái
triển của protein PDZ, một protein được bảo tồn trong quá trình tiến hóa, cần thiết
cho sự phát triển, kết dính, tăng sinh, biệt hóa và duy trì chu kỳ sống của tế bào.
(3)
Liên kết với gen Rastrong quá trình bất tử tế bào và kích thích sự phát
triển của NIH3T3, đồng thời hoạt hóa promoter E2 của Adenovirus.
Chức năng của gen E7[12, 29]
Protein E7 được mã hóa từ gen E7 gồm 98 acid amin, tuy kích thước nhỏ
hơn protein E6 nhưng lại giữ vai trò không kém phần quan trọng trong cơ chế gây
ung thư ở tế bào chủ.
Hoạt động chức năng của E7 trong cơ chế gây ung thư do (1) protein E7 có
protein vỏ capsid chính và phụ.Hình ảnh virus trên kính hiển vi điện tử cho thấy vỏ
capsid của HPV chứa 72 capsomere có cấu trúc vòng bảy cạnh trên hàng rào dạng
lưới icosahedral T=7 với kích thước đường kính khoảng 55nm. Gen L1 là vùng bảo
tồn nhất của vi rút và được dùng để phát hiện cũng như trong phân loại
Papillomavirus.
Thành phần của vỏ capsid vi rút gồm protein capsid chính L1 và capsid phụ
L2. Chỉ cần biểu hiện gen L1,đểhình thành các hạt giả vi rút hoặc phân tử giống vi
rút (Virus-like particles, VLPs), các thành phần này khó phân biệt với vi rút thực sự
và đóng vai trò quyết định trong sản xuất kháng nguyên và vắc xin. Nếu L2 bộc lộ
cùng với L1, nó cũng góp phần tạo ra VLPs, nhưng L2 không cần thiết cho việc
hình thành vỏ capsid.L1 và L2 được tổng hợp và gắn trên bề mặt của tế bào sừng
(nơi giải phóng các vi rút mới được hình thành).
Mặc dù protein L2 không đặc biệt cần thiết cho việc hình thành vỏ capsid
nhưng có vai trò quan trọng trong chu kỳ sống và trong quá trình xâm nhập của vi
rút do L2 có khả năng tạo sự gắn kết giữa receptor bề mặt tế bào với actin và với
protein ức chế khối u PML (promyelocytic leukemia protein), cần thiết cho giai
đoạn đầu của quá trình xâm nhiễm.
1.1.3 Phân loại HPV
1.1.3.1 Phân loại theo sự tƣơng đồng trình tự nucleotide gen E6, E7, L1
Theo Hội phân loại virus học quốc tế (Iternational Committee on the
Taxonomy of Viruses), họ Papillomaviridae gồm 15 loại khác nhau (ký hiệu:
Alpha-, Beta-, Gamma-, Delta-, Epsilon-, Zeta-, Theta-, Iota-, Kappa-, Lambda-,
Mu-, Nu-, Xi-, Omikron-, Pi-papillomavirus)[9, 18, 31].
HPV là nhóm papillomavirus gây bệnh trên người và là một trong những
virus có nhiều genotype nhất. Trong hơn 100 genotype được biết đến xác định được
khoảng 40 genotype có khả năng gây bệnh và lây truyền qua đường sinh dục[14].
Mỗi type gồm có các phân type (Subtype) khác nhau và dưới phân type được chia
thành các biến thể (variant) còn gọi là chủng virus[32].
Việc xác định type HPV không dựa vào huyết thanh như các loại virus khác
(virus viêm gan, HIV...) mà dựa trên mức độ giống nhau của thành phần nucleotide
bào đích, điều này còn phụ thuộc vào cách tác động khác nhau của từng vùng gen
virus đối với protein bao phủ tế bào chủ ở những vị trí khác nhau trên cơ thể[14].
Chính vì vậy, HPV còn có thể phân loại theo khả năng gây bệnh và vị trí gây bệnh.
1.1.3.2 Phân loại theomức độ tác động của HPV trên tế bào chủ (khả năng gây
ung thƣ)
Dựa vào khả năng gây ung thu, HPV được chia làm 3 nhóm[14, 30]:
+ Nhóm genotype HPV ”nguy cơ thấp” (Low-risk type): những genotype
thuộc nhóm này chỉ gây mụn cóc hoặc khối u lành tính. ADN của chúng ở dạng
vòng nằm ngoài nhiễm sắc thể(NST) chủ. Các genotype HPV trong nhóm ”nguy cơ
thấp” thường gặp là: HPV6, 11, 40, 42, 43, 44, 54, 61, 70, 72, 81, 89 và CP6108.
+ Nhóm genotype HPV ”nguy cơ cao” (High-risk type): gồm những
genotype có khả năng tích hợp ADN vào hệ gen người, làm rối loạn quá trình nhân
lên của tế bào chủ gây ra hiện tượng tăng sinh và bất tử hóa tế bào hính thành các
khối u lành tính. Những genotype có khả năng gây ung thư thường gặp gồm HPV
16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 68, 73, 82 và HPV 26, 53, 66. Theo
các nghiên cứu trên toàn thế giới, HPV là nguyên nhân gây ra 100% của các ca ung
thư cổ tử cung Trong đó HPV16, HPV18 là nguyên nhân dẫn đến 70% các ca ung
thư cổ tử cung, 41-67% các tổn thương tế bào biểu bìmức cao (HSIL) và 16-32%
các tổng thương mức thấp (LSIL) của ung thư cổ tử cung, tiếp theo là nhóm
HPV31, 33, 35, 45, 52, 58 gây 20% các ca ung thư cổ tử cung[41].
+ Nhóm genotype HPV “chưa xác định nguy cơ” (Unknown-risk type): gồm
đa số các genotype HPV chưa xác định được khả năng gây ung thư như HPV 2a, 3,
7, 10, 13, 27, 28, 29, 30, 32, 34, 55, 57, 62, 67, 69, 71, 74, 77, 83, 84, 85, 86, 87, 90,
91.
1.1.3.3 Phân loại theo vị trí gây bệnh của HPV (khả năng kích ứng của HPV trên
tế bào đích)
Theo vị trí gây bệnh, HPV được chia thành 3 nhóm[14]
+ Nhóm HPV thích ứng biểu mô sừng: những genotype HPV ở nhóm này có
khả năng xâm nhiễm trên da, hình thành các dạng hạt cơm thông thường (HPV 2, 4,
26, 27, 29, 57), hạt cơm phẳng (HPV 1, 2, 4), hạt cơm Butcher (HPV7). Tổn thương
Các mụn cơm phổ biến
2, 1, 7, 4, 26, 27, 29, 41, 57, 65, 77, 3, 4,10, 28
Các mụn cơm phẳng
3, 10, 26, 27, 28, 38, 41, 49, 75, 76
Các thương tổn về da khác (ví dụ: các
nang biểu bì, ung thư thanh quản)
6, 11, 16, 30, 33, 36, 37, 38, 41, 48, 60, 72, 73
Tạo hột cơm loạn sản biểu bì
2, 3, 10, 5, 8, 9, 12, 14, 15, 17, 19, 20, 21, 22, 23,
24, 25, 36, 37, 38, 47, 50
U nhú đường hô hấp có định kỳ
6, 11
Siêu loạn sản biểu bì trung tâm của Heck
13, 32
U nhú liên kết/ ung thư
6, 11, 16
1.2.1 Tình hìnhnhiễm HPV tại Việt Nam và trên thế giới
HPV là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra các bệnh lây
truyền qua đường tình dục đối với cả nam giới và nữ giới trên khắp thế giới. Theo
kết quả báo cáo của tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), trên toàn thế giới
có khoảng 6,6% phụ nữ độ tuổi từ 15 đến 74 nhiếm HPV và khoảng 80% phụ nữ
nhiễm HPV ít nhất một lần trong suốt đời sống tình dục của họ[16].Vào năm 1976,
Harold zur Hausen, một nhà virus học người Đức đã chỉ ra mối liên quan giữa
nhiễm HPV và ung thư cổ tử cung. Kể từ đó, đã có rất nhiều nghiên cứu dịch tễ học,
nghiên cứu in vitro chứng minh mối liên quan giữa nhiễm HPV và ung thư cổ tử
cung[19]. Ung thư cổ tử cung chiếm trên 25% trong tổng số các ca ung thư trên phụ
nữ ở các quốc gia phát triển, là nguyên nhân đứng sau ung thư vú gây tử vong cho
phụ nữ trên thế giới[20]. Ước tính vào năm 2002 trong 1 triệu ca mắc bệnh ung thư
nói chung có khoảng 500.000 trường hiện hợp đang mắc ung thư cổ tử cung và
275.000 người đã tử vong vì căn bệnh này chiếm 1/10 số phụ nữ bị tử vong do tất
cả các dạng ung thư[13].
Hình 1.4. Tỷ lệ nhiễm HPV ở nữ giới trên thế giới[41]
Theo lứa tuổi, nhóm tuổi dưới 25, tỷ lệ nhiễm HPV ở châu Âu chiếm tỷ lệ
cao nhất (50%), tiếp đó đến Trung Á (38%), Châu Úc và Châu Á (21%). Ở nhóm
tuổi từ 35 đến 50, tỷ lệ nhiễm HPV có sự thay đổi ở các khu vực, đặc biệt ở khu vực
châu Phi và châu Âu. Châu Âu có tỷ lệ nhiễm HPV giảm rõ rệt theo độ tuổi tăng
dần của phụ nữ (15%) nhưng ngược lại, Châu Phi lại có tỷ lệ nhiễm HPV tăng cao
hơn so với phụ nữ trẻ tuổi dưới 25 (20%)[16]
12
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Tâm – K22
(95%CI)
Hà Nội
3,994
5.6
Hồ Chí Minh
4,020
10.5
Cần Thơ
750
14.0
Đắk Lắk
Thái Nguyên
Thừa Thiên-Huế
472
750
750
9.9
9.4
Vắc xin phòng HPV: Do không nuôi cấy được, vắc xin HPV được sản xuất
bằng quá trình tái tổ hợp tạo các hạt giả virus (virus-like-particles, VLPs) cấu trúc
giống HPV gồm các kháng nguyên L1, L2 ở lớp vỏ capsid nhưng không mang vật
chất di truyền bên trong. Hiện nay có hai loại vắc xin được sử dụng phổ biến trên
thế giới là Gardasil® (đặc hiệu với type 6, 11, 16, 18; sử dụng cho nữ 9-26 tuổi và
cho nam 11-26 tuổi chưa từng quan hệ tình dục) và Cervarix® (đặc hiệu HPV type
16, 18; sử dụng cho nữ từ 10 đến 45 tuổi). Cả 2 loại vắc xin này đã được FDA công
nhận và được sử dụng rộng rãi trên thế giới để phòng nhiễm HPV. Tháng 12/2014
tổ chức FDA của Mỹ đã công bố thêm một loại vắc xin mới là Gadasil® 9, sử dụng
cho nữ giới 9-26 tuổi và nam giới 9-15 tuổi; ngoài khả năng phòng nhiễm các
genotype HPV 6, 11, 16, 18 như Gadasil® thông thường thì Gadasil® 9 còn phòng
ngừa thêm các genotype HPV nguy cơ caokhác như 31, 33, 45, 52 và 58[42].
Thực hiện hành vi tình dục an toàn: Việc sử dụng bao cao su cũng là biện
pháp giúp hạn chế các bệnh lây truyền qua đường tình dục và góp phần phòng lây
14
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Tâm – K22
nhiễm HPV tuy nhiên bao cao su không phòng tránh lây nhiễm HPV qua tiếp xúc
da hoặc qua đường miệng.
1.2.3.3 Điều trị
Đa số HPV xâm nhiễm vào tế bào chủ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn,
khoảng 90% HPV bị đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và đáp ứng miễn dịch
(IgA) trong 12 đến 36 tháng đầu sau nhiễm.
Những tổn thương tại chỗ ở biểu mô trên da và niêm mạc được điều trị lạnh,
phương pháp lazer hoặc bằng phương pháp cắt vòng bằng điện.Ở những bệnh nhân
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Tâm – K22
trong máu. Tuynhiên, HPV ADN vẫn có thể được tìm thấy trong các tế bào bạch
cầu đơnnhân máu ngoại vi, trong các tế bào di căn của bệnh nhân ung thư doHPV,
các trường hợp đồng nhiễm HIV. Điều này được giải thích do trong quátrình biểu
hiện gen và trong quá trình nhân nhân bản mạnh của vi rút đã xảyra hiện tượng đứt
gãy đoạn gen E2 và gen E6.
Có nhiều cơ chế giải thích sự lẩn trốn của HPV khỏi đáp ứng miễn dịchcủa
vật chủ, gây nhiễm dai dẳng HPV dẫn đến sự biến đổi tế bào. Gen E6 vàE7 của
HPV nhóm “nguy cơ cao” làm cơ thể suy giảm khả năng sản xuấtinterferon,
cytokine, ức chế đáp ứng miễn dịch tự nhiên tiêu diệt vi rút và điềuhòa miễn dịch.
Gen E6 có khả năng gắn vào yếu tố 3 điều hòa interferon(IRF-3) gây ức chế chức
năng hoạt hóa của yếu tố này. Đồng thời, gen E7phản ứng với IRF-1 gây ức chế sự
sao chép đối với yếu tố thúc đẩy IFN-1.Mặc dù, HPV có khả năng lẩn trốn khỏi cơ
chế đáp ứng bảo vệ của cơthể vật chủ nhưng hầu hết các trường hợp nhiễm HPV
diễn ra ngắn và tổnthương có thể tự hết trong vòng 1 năm hoặc dưới tác động của
đáp ứng của hệmiễn dịch cơ thể. Khoảng 91% HPV bị loại bỏ tự nhiên trong năm
đầu saunhiễm và 70% xảy ra trong năm thứ hai. Tuy nhiên, một tỷ lệ nhỏ HPV có
thểtồn tại dai dẳng ở lớp tế bào đáy và là nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi tế bào.
Hình 1.5. Chu kỳ nhân lên của HPV[21]
16
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Tâm – K22
ubiquitin lygase). Do đó protein p53 không tham gia được vào quá trìnhdừng tế bào
ở pha G1-S, không kích hoạt được quá trình chết theo chu trình (apoptosis) và sửa
chữa ADN không được diễn ra. Điều này đồng nghĩa với sự nhân lên một cách
không kiểm soát của các tế bào bị nhiễm HPV[23]. Bên cạnh đó, protein E7 của
HPV tham gia vào cơ chế gây bất tử tế bào bằng cách liên kết với pRb khiến protein
17
Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Tâm – K22
này ít được phosphoril hóa, qua đó phá vỡ sự kết hợp của pRb với yếu tố sao chép
E2F-1 (transcription factor), giải phóng E2F-1, kích hoạt phiên mã các gen cần cho
quá trình chuyển từ pha G1 sang pha S,dẫn đến sự mất kiểm soát của tế bào ở giai
đoạn chuyển pha G1-S, thúc đẩy sự phân chia không ngừng nghỉ của tế bào.
(3)
Gây bất ổn định gen tế bào chủ: Bất thường quá trình phân bào có thể
gây ra bởi protein E6, E7 của các genotype nhóm HR-HPV mà không gặp ở nhóm
LR-HPV, gây mất alen ở một số gen nhất đinh có liên quan đến sự xuất hiện và tiến
triển của ung thư. E6 gây bất ổn định gen do khả năng ức chế chức năng p53 dẫn
đến rối loạn quá trình sửa chữa ADN bình thường, do đó các sai hỏng của gen sẽ
không được sửa chữa. E7 gây bất ổn định gen thông qua sự bất hoạt của pRb và khả
năng tác động tới quá trình tổng hợp trung thể dẫn đến hậu quả là sự phân chia
ADN không bình thường trong quá trình phân chia tế bào[26]
(4)
Biến đổi đáp ứng với phá hủy ADN: Gen E6 và E7 gây mất khả năng
đáp ứng của cơ thể với sự phá hủy ADN. Khi có sự phá hủy ADN cơ thể đáp ứng
bởi quá trình hoạt hóa p53 tạo protein điều hòa giai đoạn nghỉ giữa hai chu trình