BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY CP ĐIỆN TỬ VÀ TIN HỌC VIỆT NAM
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VIETTRONICS
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC
VÀ BẢO TỒN CÁC DI TÍCH CỔ Ở HẢI PHÒNG PHỤC
VỤ CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
Người hướng dẫn
: TS Lê Thanh Tùng.
Đơn vị
: Trường Đại học Dân lập Hải Phòng.
Sinh viên thực hiện: Đồng Thị Nga.
Lớp
: 2VH10.
Ngành
: Việt Nam Học.
Hải Phòng, tháng 6 năm 2015
1
1.2. Di tích cổ ở Hải Phòng.....................................................................................................10
1.2.1 Di tích lịch sử văn hóa........................................................................................10
1.2.2. Di tích lịch sử cách mạng..................................................................................12
1.2.3. Di tích kiến trúc nghệ thuật...............................................................................16
CHƯƠNG 2. CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC PHÁP Ở HẢI PHÒNG........................19
2.1. Vài nét về kiến trúc Châu Âu và kiến trúc Pháp..........................................................19
2.1.1. Kiến trúc Châu Âu.............................................................................................19
2.1.2. Vài nét về kiến trúc Pháp...................................................................................22
2.2. Quá trình du nhập, hình thành và phát triển của kiến trúc Pháp ở Hải Phòng........23
2.3. Kiến trúc Pháp ở Hải Phòng...........................................................................................25
2.3.1. Một số khu phố Tây ở Hải Phòng.....................................................................25
2.3.2. Các công trình kiến trúc- văn hóa- nghệ thuật................................................30
2.3.3. Kiến trúc giao thông..........................................................................................35
2.3.4. Các công trình kiến trúc khác...........................................................................40
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN
TRÚC PHÁP PHỤC VỤ CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ..................................................45
3.1. Giải pháp bảo tồn các kiến trúc Pháp............................................................................45
3.1.1. Giải pháp bảo tồn nguyên trạng........................................................................45
3.1.2. Giải pháp cải tạo, khôi phục lại so với thực trang ban đầu.............................46
3.1.3. Giải pháp tái sử dụng, phối hợp, thay thế tính năng sử dụng ........................46
3.2. Giải pháp khai thác các kiến trúc Pháp trong hoạt động du lịch................................47
3
3.2.1. Giới thiệu, quảng bá về các công trình kiến trúc Pháp tại Hải Phòng...........47
3.2.2. Xây dựng tour du lịch lấy việc thăm quan các công trình kiến trúc Pháp làm
trọng tâm......................................................................................................................47
3.2.3. Tăng cường liên kết, hợp tác.............................................................................48
3.2.4. Xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên chuyên về các kiến trúc Pháp..................49
kiến trúc này.
Chính vì những lý do trên, người viết đã quyết định lựa chọn đề tài “Một
số giải pháp nhằm khai thác và bảo tồn các di tích cổ ở Hải Phòng phục vụ
cho hoạt động du lịch” mà trọng tâm là “Một số giải pháp khai thác và bảo tồn
các công trình kiến trúc Pháp tại Hải Phòng trong phục vụ cho hoạt động du
lịch” làm hướng nghiên cứu chính cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu về các kiến trúc cổ ở Hải Phòng đặc biệt là sự ra đời và đặc
trưng của các kiến trúc Pháp.
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và khai tác sử dụng kiến trúc Pháp
trong phát triển du lịch ở Hải Phòng.
5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phân tích đặc điểm, giá trị của các công trình kiến trúc Pháp tại Hải
Phòng để xác định chính xác hơn tiềm năng, giá trị của các kiến trúc, cảnh quan
và hoạt động của những công trình này.
- Quản lý và phát huy giá trị di sản kiến trúc Pháp trong sự phát triển kinh
tế - xã hội, du lịch, phát triển đô thị liên tục của thành phố Hải Phòng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: các công trình kiến trúc Pháp tại Hải Phòng trong hệ thống
các di tích cổ ở Hải Phòng gồm các công trình kiến trúcvà cảnh quan đô thị.
- Phạm vi nghiên cứu cũng được xác định rõ về không gian và thời gian:
kiến trúc Pháp tại Hải Phòng được hình thành trong giai đoạn 1874-1954, trong
khu vực thành phố Hải Phòng.
Chương 3. Giải pháp bảo tồn và khai thác kiến trúc Pháp ở Hải Phòng
trong phát triển du lịch.
7
CHƯƠNG 1. NHỮNG DI TÍCH CỔ Ở HẢI PHÒNG
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Hải Phòng.
Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía Bắc giáp Quảng Ninh, phía
Tây giáp Hải Dương, phía Nam giáp Thái Bình, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ.
Sự hình thành và phát triển của Hải Phòng gắn liền với các chứng tích của
người tiền sử ở di chỉ khảo cổ học Cái Bèo (Cát Bà) thuộc Văn hóa Hạ Long
cách ngày nay khoảng từ 4000- 6000 năm; di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh (Thuỷ
Nguyên), Núi Voi (An Lão) cách ngày nay từ 2000- 3000 năm; với truyền thuyết
về nữ tướng Lê Chân - người lập Trang An Biên - cái nôi hình thành nên Hải
Phòng ngày nay.
Thời kỳ phong kiến Việt Nam, nơi đây nổi tiếng với 3 lần chiến thắng trên
sông Bạch Đằng: lần 1 năm 938 của Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, lần 2
năm 981: Hoàng đế Lê Đại Hành phá tan quân Tống xâm lược, lần 3 năm 1288:
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại thắng quân Mông Nguyên lần thứ 3.
Tới nhà Mạc đây được xây dựng thành kinh đô thứ hai gọi là Dương
Kinh. Từ nhà Lê trung hưng đến nhà Nguyễn vùng này thuộc trấn Hải Dương
(sau này là tỉnh Hải Dương (1831). Năm 1870- 1873 Bùi Viện đã xây dựng bến
cảng Ninh Hải bên cửa sông Cấm và nha Hải phòng sứ- một căn cứ phòng ngự
bờ biển kế bên.
Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần 1 năm 1873-1874, nhà Nguyễn phải ký
hòa ước Giáp Tuất, trong đó quy định nhà Nguyễn phải mở cửa thông thương
các cảng Ninh Hải (Hải Phòng) thuộc tỉnh Hải Dương và Thị Nại tỉnh Bình
Định, để đổi lấy việc Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ.
Hải Phòng. Năm 1970, nhạc sỹ Lương Vĩnh sáng tác bài hát “ thành phố hoa
phượng đỏ”, phổ thơ Hải Như, được dân yêu thích và hay gọi Hải Phòng là
thành phố hoa phượng đỏ. Hải Phòng còn có nhiều danh xưng khác như Thành
Tô, phố biển...
Ngày nay, Hải Phòng có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, công nghệ
thông tin và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, trên hai hành
9
lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, là đầu mối giao
thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát
triển, là một trong những động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc
bộ. Hải Phòng là một cực tăng trưởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc
gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, nằm ngoài Quy hoạch vùng thủ đô Hà
Nội.
1.2. Di tích cổ ở Hải Phòng
Theo con số thống kê chưa đầy đủ, thành phố Hải Phòng hiện còn lưu giữ
hơn 1.000 di tích, bao gồm 537 ngôi chùa, 107 nhà thờ, số còn lại là các đình
đền, miếu phủ…Trong đó, có 103 di tích được Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch
xếp hạng di tích quốc gia; 165 di tích được Uỷ ban nhân dân thành phố xếp hạng
di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố.
1.2.1. Di tích lịch sử văn hóa
Theo pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam
thắng cảnh, công bố ngày 4/4/1984: Di tích lịch sử văn hoá là những công trình
xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, nghệ thuật
cũng như có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử,
quá trình phát triển văn hoá, xã hội.
Các di tích lịch sử văn hoá là các công trình kiến trúc có giá trị lịch sử văn
sen dưới cây bồ đề và tượng Phật Di Lặc trong tư thế đứng được đặt đối diện
nhau ở hai bên hồ. Cả hai pho tượng đều được đúc bằng đồng. Quanh hồ đặt
tượng 10 vị Tôn giả được tạc bằng đá trắng trong các tư thế và hình dáng khác
nhau.
Khu vườn tháp của chùa bao gồm 11 tháp được xây bằng đá và gạch, là
nơi đặt di thể của các vị sư tổ đã viên tịch tại chùa, các vị tổ thiền phái Trúc Lâm
Yên Tử và nhiều vị hòa thượng đã từng trụ trì tại chùa. Hiện nay, chùa Hàng còn
bảo lưu nhiều di vật qúy giá như chuông, khánh, đỉnh đồng, đồ trang trí mỹ thuật
bằng gốm sứ, đá xanh, bộ kinh sách “A hàm” cổ được lưu truyền từ nhiều đời sư
trụ trì.
Những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc trường tồn cùng thời gian đã làm
nên sức hấp dẫn của một điểm du lịch văn hóa tâm linh ở thành phố Cảng. Chùa
Dư Hàng được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1986.
Đền Nghè
11
Đền Nghè nằm ở trung tâm thành phố, thuộc phường An Biên, quận Lê
Chân. Đền Nghè là di tích lịch sử văn hóa thờ nữ tướng Lê Chân– vị tướng giỏi
của Hai Bà Trưng, bà đã đến vùng đất ngã ba sông Tam Bạc – sông Cấm, lập ấp
Vẻn, sau đổi là An Biên Trang, tiền thân của Hải Phòng ngày nay.
Tương truyền, khi nữ tướng Lê Chân gieo mình xuống sông tự vẫn thì hoá
đá trôi trên mặt sông. Từ đoạn sông vùng Đông Triều (Quảng Ninh) - quê cũ của
Bà - đến bến Đá (nay là bến Bính) thì bập bồng xoay tròn trên mặt nước. Nhân
dân làng An Biên biết Bà đã hiển thánh, liền khiêng đá thiêng về thờ, đến khu
vực đền Nghè hiện nay thì trời bỗng nổi cơn giông gió làm đá rơi. Dân làng bèn
chọn khu đá rơi ấy để dựng đền thờ Bà. Lúc đầu, đền chỉ là gian miếu nhỏ, mái
lợp tranh. Từ năm 1919- 1926, đền được xây dựng khang trang hơn, bổ sung
một số hạng mục kiến trúc. Trải qua quá trình tu bổ, tôn tạo, hiện nay đền Nghè
có công đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938.
Từ được xây dựng thời Hậu Lê và được trùng tu vào thời Nguyễn vì vậy
toàn bộ kiến trúc trong Từ hiện nay mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn,
chỉ một số cấu kiện kiến trúc mang nét phong cách nghệ thuật thời Lê.
Ngôi Từ được bố cục theo kiểu “nội công, ngoại quốc”, liên hoàn khép
kín. Tại đây hiện lưu giữ 152 hiện vật, cổ vật có giá trị và 25 bản sắc phong có
niên hiệu từ năm 1522 đến năm 1924. Trong đó có nhiều sắc phong đã ban cho
Ngô Quyền là "Ngô Vương thiên tử" và "Thượng Đẳng tối linh Đại vương". Đặc
biệt năm 1880 vua Tự Đức đã ban cho 6 tổng và 17 xã ở phía Đông, Đông Nam
thành phố thờ Ngô Quyền. Trong các di tích thờ Ngô Quyền thì Từ Lương Xâm
được suy tôn là "Từ Cả" và là Đệ nhất linh từ của huyện cổ An Dương.
Ngày 12/12/1986 Từ Lương Xâm đã đươc xếp hạng di tích lịch sử văn
hoá cấp quốc gia. Lễ hội truyền thống được tổ chức từ 16- 18 tháng giêng. Từ
năm 2008 UBND quận Hải An đứng ra tổ chức lễ hội Từ Lương Xâm với quy
mô cấp quận thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương gần xa đến
tham dự.
Ngoài những di tích trên Hải Phòng còn có rất nhiêu di tích lịch sử văn
hóa khác như:
Đình: Đình Nhu Thượng ( dựng năm Tự Đức 14 (1861); Đình Hà ( thời
Triều Nguyễn, năm Tự Đức 1873) Đình Nhân Mục ở Vĩnh Bảo ( xây dựng ở thế
kỉ 17); Đình Hạ Lũng- hải An ( thế kỉ 18); đình Cam Lộ; đình Tân Dương (được
khởi dựng từ thời hậu Lê đời vua Lê Nhân Tông (1441-1459); đình Đồng
Lý( thế kỉ 17), đìnhTuy Lạc, Đình Tây- Thủy Nguyên; Đình An Trì- Hồng Bàng;
13
đình Phụng Pháp- Ngô Quyền; đình An Biên, đình Niệm Nghĩa- Lê Chân, đình
Dụ Nghĩa, đình Hà Đậu An Dương; đình Ngọc Xuyên- Đồ Sơn…
Đền: Đền Phú Xá (được xây dựng vào thời Tự Đức (1848 – 1883) đền
Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm- Vĩnh Bảo ( được dựng lên năm 1765) , đền
Cuối năm 1939, đồng chí Hoàn Thiếu Minh (tức Hoàng Ngọc Lương),
nguyên Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng liên huyện Thủy Nguyên – Kinh
Môn, đóng vai một nhà sư về gây dựng cơ sở cách mạng tại chùa Phương Mỹ.
Từ đầu năm 1945, chùa đã trở thành địa điểm liên lạc, hội họp thường
xuyên, là nơi cất giữ tài liệu quan trọng của lực lượng Việt Minh. Sau khi, Nhật
đảo chính Pháp, chùa Phương Mỹ vẫn là một trong những đầu não lãnh đạo
phong trào cách mạng của huyện, đồng thời tham gia các hoạt động quyên góp
thóc gạo, cứu trợ đồng bào trong nạn đói đầu năm 1945.
Tháng 4/1945, tại chùa đồng chí Nguyễn Phương Thảo (tức Trung tướng
Nguyễn Bình) và đồng chí Nguyễn Kiên Tranh (tức sư Tuệ) đã gặp nhau để bàn
bạc việc thống nhất lực lượng và kế hoạch xây dựng chiến khu Đông Triều.
Chùa Phương Mỹ đã trở thành địa điểm lưu giữ tài liệu, tập kết vũ khí, lực lượng
vũ trang của Chiến khu Đông Triều và tự vệ vùng Thượng, huyện Thủy Nguyên.
Đến ngày 25/12/1945 tại chùa Phương Mỹ, 4 đồng chí Hoàng Ngọc
Lương, Phạm Văn Duyệt, Bùi Bá Ngôn, Phạm Văn Ngự đã được kết nạp vào
Đảng Cộng sản; tiếp đó chi bộ Đảng huyện do đồng chí Hoàng Long làm Bí thư
chính thức được thành lập. Đến đầu năm 1946, tại chùa đã diễn ra Hội nghị
thành lập Hội “Lão bà cứu quốc Thủy Nguyên”.
Những sự kiện lịch sử được ghi dấu tại chùa Phương Mỹ đã khẳng định
bước đồng hành của di tích trong kháng chiến chống Pháp của dân tộc, là nhân
chứng cho quá trình trưởng thành, phát triển của phong trào cách mạng huyện
Thủy Nguyên nói riêng và của Hải Phòng và Quảng Ninh nói chung.
Nhà số 1 ngõ 42 Mê Linh
Ngôi nhà số 1 ngõ 42 Mê Linh, phường An Biên, quận Lê Chân, Hải
Phòng là cơ quan bí mật của Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí
hội Hải Phòng năm 1927- 1929, của Đông Dương Cộng sản Đảng Tỉnh Uỷ Hải
Phòng thời kỳ 1929- 1930, là cơ sở hoạt động của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh,
người chiến sĩ ưu tú của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Hải
Phòng.
Sau khi dự lớp huấn luyện chính trị do đồng chí Nguyễn ái Quốc tổ chức
Phòng thường sống ở các xóm thợ Lạc Viên, Cấm…
Trên phố Cầu Đất có nhiều cơ sở cách mạng: Hiệu Trân Mĩ Lâu (trước
của rạp Công nhân hiện nay) là nơi liên lạc của Đảng và quốc tế những năm
1929 – 1931. Số nhà 8 ngõ Quảng Lạc là nơi ban Tài chính Trung ương đóng, do
đồng chí Trần Văn Lan phụ trách. Ngõ Đá có trụ sở của Ban tuyên huấn cơ quan
16
xứ ủy Bắc Kỳ (1930); Nhà 21 ngõ 99 Cầu Đất: trụ sở cơ quan Thanh niên Cách
mạng đồng chí Hội; Nhà 38 Cầu Đất: cơ quan Xứ Uỷ Bắc Kỳ….
Cơ quan bí mật của Thành ủy Hải Phòng (thời kỳ 1936-1939), đặt tại nhà
cụ Đặng Thị Sáu ở xóm Nam, xã Dư Hàng Kênh (nay là ngõ Than, phường Dư
Hàng Kênh, Lê Chân); Nhà số 14 ngõ Gạo (nay là ngõ 61) phố Lý Thường Kiệt,
quận Hồng Bàng là trạm giao thông liên lạc quốc tế của Đảng trong những năm
đầu thế kỷ 20; Đình Kim Sơn- Kiến Thụy…..
1.2.3. Di tích kiến trúc nghệ thuật
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể
kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ
thuật kiến trúc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn
lẻ có giá trị về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
Các di tích kiến trúc nghệ thuât như đình, đền, chùa, nhà thờ, lăng tẩm,
cung điện, thành….chiếm số lượng lớn, lưu trữ nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc
nghệ thuật, văn hóa có giá trị, là những điểm nghiên cứu, thăm quan hấp dẫn, du
khách.
Dưới thời phong kiến, ở Hải Phòng bên cạnh những công trình thành
quách, cung điện, lăng tẩm còn có các kiến trúc tôn giáo lớn như chùa, tháp,
đình, đền, miếu…trừ một số do triều đình hưng công xây dựng, còn phần lớn
đều do nhân dân quyên cúng, đóng góp dựng lên.
Thời Lý – Trần, tình hình chính trị trong nước ổn định, kinh tế phồn vinh
Hải Phòng có kiến trúc đô thị pha trộn hài hòa nhất hai văn hóa Á - Âu,
vừa thanh lịch vừa mạnh mẽ. Bên cạnh những phố Tàu ở Tam Bạc, Kỳ Đồng,
Tam kỳ… còn có nhiều khu phố có kiến trúc nguyên vẹn thời Pháp như phố Tây
biệt thự giờ là các cơ quan ở khu Hồng Bàng. Phố Tây có Điện Biên Phủ, Trần
Phú, Lương Khánh Thiện, Minh Khai…đặc biệt phải nói đến các công trình kiến
trúc Pháp đã tạo cho Hải Phòng một bản sắc kiến trúc với phong cách độc đáo.
Chính vì vậy trong đề tài “Một số giải pháp nhằm khai thác và bảo tồn các di
tích cổ ở Hải Phòng phục vụ cho hoạt động du lịch” người viết sẽ tập trung,
nghiên cứu và khai thác sâu về kiến trúc Pháp tại Hải Phòng (Chương 2), đồng
thời đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác các kiến trúc Pháp tại Hải Phòng
phục vụ hoạt động du lịch (Chương 3).
18
CHƯƠNG 2. CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC PHÁP Ở HẢI PHÒNG
2.1. Vài nét về kiến trúc Châu Âu và kiến trúc Pháp
2.1.1. Kiến trúc Châu Âu
Châu Âu là cái nôi của kiến trúc thế giới. Nói đến kiến trúc Pháp không
thể không nói đến cái nôi đã sản sinh và nuôi dưỡng nó, đó là kiến trúc châu Âu.
Có thể chia quá trình phát triển kiến trúc Châu Âu thành các giai đoạn: cổ đại,
trung đại, Phục Hưng và giai đoạn hiện đại. Trải qua những nốt thăng trầm,
thành tựu kiến trúc Châu Âu như một bức khảm mosaics đa màu, đa diện, làm
giàu văn minh nhân loại
2.1.1.1. Kiến trúc Châu Âu thời cổ đại
Trọng tâm của kiến trúc châu Âu là kiến trúc Hy Lạp và La Mã xoay
quanh những đền đài mang nhiều sắc màu đặc trưng, gắn liền với việc thờ phụng
các vị thần. Người Hy Lạp đã phát minh ra kiến trúc post-and-beam construction
các tympanum: hình bán nguyệt trên các ô cửa chính, cửa sổ, thường được điêu
khắc công phu. Các tu viện, nhà thờ, thánh đường ở châu Âu phần lớn đều mang
phong cách kiến trúc Roman tuyệt đẹp.
Kiến trúc Gothic: Cuối thế kỷ 12- đầu thế kỉ 13 kiến trúc Gothic
(Gothique) xuất hiện ở miền Tây bắc nước Pháp, sau đó được truyền đi khắp
châu Âu, phát triển rực rỡ đến thế kỷ XV. Ba trọng tâm của Gothic là mái vòm
nhọn, khung sườn mái vòm và trụ chống. Kiến trúc Gothic là một bước tiến bộ
lớn so với kiến trúc Roman. Kiến trúc Gothic không chắc chắn bằng kiến trúc
20
Roman nhưng nhẹ nhàng đẹp đẽ hơn, nhà có cửa sổ lớn lắp kính màu, cột chạm
trổ đẹp, kiểu cửa mái vòm được thay bằng hình lăng nhọn, những bức điêu khắc
nhiều hơn, sinh động và tự nhiên hơn.
2.1.1.3. Kiến trúc thời Phục hưng
Bước sang giai đoạn Cận đại, kiến trúc Châu Âu chứng kiến sự trở lại của
các giá trị cổ điển. Kiến trúc Phục Hưng chối từ tháp cao Gothic, tìm về những
tinh hoa La Mã cổ đại, tiếp nối và quay trở lại của phong cách kiến trúc Roman,
nhưng đã biến cải ít nhiều những chi tiết nghệ thuật. Thời kì văn hóa Phục hưng
xuất hiện ở Italia từ cuối thế kỉ XIV, sau đó lan sang các nước Anh, Pháp, Đức,
Hà Lan…
Kiến trúc thời Phục Hưng mang đậm nét tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa
giáo. Đặc biệt nhấn mạnh vào tính đối xứng, tỷ lệ, hình học và tính hợp lệ của
các bộ. Sắp xếp có trật tự của cột, pilasters và các rầm đỡ, cũng như việc sử
dụng các mái vòm hình bán nguyệt, mái vòm hình bán cầu, hốc và aedicules
thay thế các hệ thống phức tạp hơn và tỷ lệ hồ sơ bất thường của các tòa nhà thời
trung cổ.
Về sau, kiến trúc Phục Hưng suy thoái do theo đuổi những giá trị quái lạ,
hà khắc. Phong cách Baroque và Rococo kịp thời ra đời để đáp ứng cơn thiếu
xu hướng enframed trong những trụ gạch, dạng viên hoặc các tấm.
Kiến trúc hiện đại: Kiến trúc hiện đại thể hiện một lối tư duy mới với sự
phát triển bùng nổ của xã hội châu Âu cuối thế kỉ 19- đầu thế kỉ 20 và trở thành
một trường phái chủ đạo lan rộng trên toàn thế giới đến năm1970. Khung sắt
thép công nghiệp thịnh hành, đánh dấu chương mới cho kiến trúc thời hiện đại.
Các kiến trúc sư ứng dụng khung sắt vào nhà máy, cầu đường rồi đến những
công trình cao cấp.
2.1.2. Vài nét về Kiến trúc Pháp
Khảo sát qua lịch sử các phong cách kiến trúc ở phương Tây từ cổ đại đến
hiện đại, có thể thấy rằng, Pháp là một trong những cái nôi vừa góp phần bảo
lưu, gìn giữ các phong cách kiến trúc cổ điển, lại vừa góp phần sáng tạo ra
những phong cách kiến trúc mới hết sức độc đáo và ấn tượng.
Cũng giống như nhiều quốc gia châu Âu khác, phong cách kiến trúc Pháp
mang hơi hướng vẻ đẹp thần thoại của phong cách Hy Lạp - La Mã, với những
kiểu “thức” căn bản: thức Doric, thức Ionic và thức Corinth, hay thậm chí cả
những kiểu thức tiến bộ của người La Mã như Toscan và Compozit. Chính vì thế
mà có thể nói rằng kiến trúc Pháp được thừa hưởng những tinh hoa của kiến trúc
nhân loại.
22
Từ nước Pháp, nhiều phong cách kiến trúc tiêu biểu đã được hình thành
như: kiến trúc Gothic xuất hiện ở miền Tây bắc nước Pháp hay kiến trúc Rococo
bắt nguồn từ nước Pháp trong những năm cuối của triều đại vua Louis XIV
(1643-1714). Trong giai đoạn này, Pháp trở thành trung tâm văn hóa châu Âu.
Ngoài ra Pháp còn là nơi phát triển, sáng tạo khiến cho các phong cách
kiến trúc lan rộng ra các nước khác cũng như khắp Châu Âu như: Kiến trúc
Roman bắt đầu ở vùng Normandie, Italia vào thế kỷ thứ 9, nhưng kiến trúc
Roman thật sự ra đời cùng với sự xuất hiện của dòng tu Benecdictine ở Pháp vào
cấu thành bởi hai bộ phận chính:
Phía Tây Nam giáp sông Tam Bạc là khu người Việt và Hoa kiều mà trước
đây người Pháp thường gọi một cách miệt thị là "khu bản xứ", gồm một số cơ
quan quân sự, kinh tế của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, một số phố sá
và nhà dân.
Phía Bắc giáp sông Cấm là khu tô giới (thường gọi là khu nhượng địa) do
Pháp cai quản mà hạt nhân là Sở Thuế đoan, Toà lãnh sự và đồn binh (nay chủ
yếu thuộc phường Minh Khai, Hoàng Văn Thụ); đồng thời tại đó cũng dần dần
xây lên những kiến trúc đô thị hiện đại đầu tiên của Hải Phòng. Sự phát triển cấu
trúc tổng thể khu phố Pháp tại Hải Phòng qua các giai đoạn lịch sử:
Năm 1872, Pháp chiếm vùng đất Ninh Hải - Hải Phòng ngày nay. Sau
hiệp ước Giáp Tuất, những năm 1874 - 1888 là thời kỳ hình thành khu phố Pháp
- cũng có thể coi như đặt nền móng cho thành phố Hải Phòng.
Giai đoạn 1897 - 1914 là thời kỳ xây dựng Hải Phòng thành một thành
phố cảng biển và công nghiệp quan trọng của miền Bắc.
Năm 1874: Sau khi Pháp chiếm vùng đất Ninh Hải (1872), ở thời điểm đó
vẫn là làng cổ Gia Viên, An Biên. Khu nhượng địa cho Pháp được khoanh vùng
ở sát ngã 3 sông Cấm và sông Tam Bạc.
- Năm 1876, chính quyền bảo hộ mở Bưu cục Hải Phòng, đến năm 1904,
mạng lưới điện thoại nội thành Hà Nội - Hải Phòng được đưa vào khai thác, lúc
ấy bưu điện Hải Phòng là một trong bốn bưu cục hiện đại của cả nước.
- Năm 1885: Năm 1884 Pháp xây dựng Tòa lãnh sự, từ năm 1885 bắt đầu
xây dựng nhà cửa lớn theo kiểu châu Âu. Dần hình thành khu phố bản xứ ở phía
Tây - Nam ven sông Tam Bạc và khu của người Pháp ở phía Bắc ven sông Cấm.
- Trước năm 1900: Năm 1885, công sứ Bonnal đã cho đào kênh vành đai
(kênh Bonnal) rộng 74m, nối sông Tam Bạc với sông Cấm, tách khu của người
24
Pháp cùng khu phố bản xứ (chủ yếu của người Hoa) khỏi các làng của người
25